Showing posts with label Lịch sử. Show all posts
Showing posts with label Lịch sử. Show all posts

Wednesday, August 14, 2013

Putin, một Sa hoàng mới

Putin, một Sa hoàng mới
Vladimir Fedorovski
 
Lời người dịch: Vladimir Fedorovski là một nhà ngoại giao Liên Xô. Trong những năm 70, ông phụ tá Brejnev trong những cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo Ả Rập. Từ năm 1985 đến 1990 ông được cử làm cố vấn về ngoại giao cho Gorbatchev trong thời gian perestroika và glasnost. Năm 1990, bất đồng với chính sách tiền hậu bất nhất của Gorbatchev, ông bỏ ngoại giao, làm phát ngôn viên cho ” Phong trào Cải tổ Dân chủ “, chống lại cuộc đảo chính Cộng sản năm 1991. Năm 1995 ông lấy quốc tịch Pháp và trở thành một nhà văn viết tiếng Pháp xuất bản nhiều sách nhất ở Pháp. Sách ông được dịch ra 28 thứ tiếng. Ông mới xuất bản cuốn “Chuyện những Sa hoàng “. Trong cuốn này ông giải mã những bí mật của các vị vua chúa nước Nga thần thánh, bắt đầu từ Ivan người Khủng khiếp (Ivan le Terrible) đến Pie Đại đế, Catơrin đệ Nhị, Nicola đệ Nhị và người cuối cùng là Putin được ông coi là một Sa hoàng mới, người muốn làm sống lại nước Nga hùng cường. Trong cuốn sách này, ông Fedorovski phân tích và chứng minh những động lực bí ẩn của vị chủ nhân điện Cẩm Linh để kết luận là với vị sa hoàng mới này, nhiều bất ngờ đang chờ đợi người Tây phương.

Ngày 28 tháng Hai vừa rồi, cuộc gặp gỡ giữa François Hollande và Putin được diễn ra trong một bầu không khí băng giá : vị tổng thống Nga không nhượng bộ một chút nào về sự hỗ trợ của ông đối với chế độ Syri và không một hợp đồng thương mại nào được ký kết. Chuyện đó có gì là lạ khi mà nước Nga vẫn là nguồn cung cấp vũ khí chính cho Bachar el-Assad và cái chuyện lố bịch Depardieu (Lnd: một diễn viên điện ảnh danh tiếng Pháp được Putin trọng vọng và cho lấy quốc tịch Nga) vẫn là hàn thử biểu đo lường chính xác nhất nhiệt độ tâm lý giữa 2 vị tổng thống này ? Lại đúng vào năm 2013 kỷ niệm 400 năm triều đại Nga hoàng Romanov, Mốt Cu thời đại mới chả mong chờ gì những thiện ý đến từ Pari : Putin chả coi ra cái quái gì những lo nghĩ nhân đạo của các người thuộc đảng Xã hội Pháp. Còn những thỏa ước về kinh tế giữa 2 nước : nếu trước những năm 2000, Putin còn có mục đích làm sao cho nước Nga lấy lại được chỗ của mình trên bàn cờ quốc tế bằng cách đổi dầu khí lấy kỹ thuật Tây phương, từ đó đến giờ, Putin trở nên cứng rắn hơn khi suy luận là : “Chúng ta đã cố gắng nghĩ đến lợi lộc Tây phương trong sự đổi chác, nhưng chúng ta đã không được trả lại bằng một trân trọng nào và, đặc biệt là, hệ thống khiên chống tên lửa nhằm chúng ta vẫn được bảo tồn. Vì vậy chúng ta nên coi sự hợp tác chiến lược với Tây phương là hoàn toàn vô tích sự.”

Trong bối cảnh châu Âu suy nhược, Putin không thấy có một đối tác nào chắc chắn hơn là Đức, đồng thời Putin cũng thấy tốt hơn là nên cùng Trung Quốc xây dựng một thế giới khác. Để đạt được mục đích đó, Putin thấy nên lợi dụng lại những đồng minh cũ của Liên Xô hay, ít nhất là, chơi lại lá bài một vài nước Hồi giáo, một phần cũng để ngăn những nước này có những đường lối chính trị chống Nga quá triệt để. Nhưng đó cũng lại chính là những tham số có thể đưa tới hai cái sai lầm : Con đường chính trị mới này sẽ làm Nga và Tây phương xa cách nhau thêm, nhất là từ trước tới nay Tây phương vẫn chả bao giờ coi Nga là đồng minh cả. Tây phương sẽ vẫn tiếp tục đánh giá thấp mối hiểm nguy đến từ sự tan vỡ lớn lao có tính cách lịch sử giữa 2 phái Hồi giáo Shiít và Sunít đang thành hình trong thế giới Hồi giáo. Đó cũng là một định đề được vị chủ nhân điện Cẩm Linh đặt ra trên nền tảng của kinh nghiệm 13 năm nắm quyền hành tuyệt đối, trên cá tính của mình, trên con đường sự nghiệp của mình, trên sự suy nghĩ về lịch sử của mình. Sự suy nghĩ này được Putin coi là cốt lõi của mọi hành động chính trị tiếp diễn.

Ai chính thật là Putin ?

Cảm tưởng tức thời của tôi vào đầu những năm 1990, khi tôi có dịp quan sát Putin trong một buổi gặp riêng ở Saint-Petersbourg, Putin là người muôn mặt, hay nói đúng hơn, Putin giấu mặt trong nhiều mặt nạ theo truyền thống Byzantin của các vua chúa Nga. Cặp mắt, có khi lờ lững, có khi linh động, cặp lông mày cau lại hay cặp môi mấp máy một cách thiếu kiên nhẫn chứng tỏ một ý chí sắt đá, nhưng cũng nhiều khi lượn lẹo, trơn tuột, khó bắt nắm được. Putin đã tập chơi nhiều vai trò, tuyệt vời trong nghệ thuật đánh lạc hướng. Nhưng có một cái bất di bất dịch : Putin không phải là một người chịu sống hạnh phúc trong an phận.

Giống như Nicola II ngày xưa, Putin có cái tài là làm những người đối thoại tưởng mình cũng thuộc về phe họ – Putin như một tấm gương mọi người soi vào đều thấy bóng mình – Putin khi cần cũng có thể bắt chước điệu bộ của người mình đối thoại, lấy lại cử chỉ, cách cử động chân tay, cách nói năng của họ. Kỹ thuật này, được hoàn thiện trong những năm học tập dưới mái trường KGB, đã khiến Putin có thể nhập hình hài mình trong mọi khuôn, hòa mình với mọi chính kiến, chế ngự đủ mọi màu sắc chính trị, đi nước đôi một cách dễ dàng, cáng đáng cùng một lúc, không bao giờ thành vấn đề, cả quá khứ của Liên Xô lẫn lịch sử của đế quốc Sa hoàng : Putin vừa là người quốc gia, vừa là người quốc tế, vừa là người tiến bộ, vừa là người trọng quá khứ, vừa là người theo chủ nghĩa kinh tế nhà nước, vừa là người theo kinh tế phóng khoáng. Putin biến sự khẳng định của mình thành một luận chứng trên hết mọi luận chứng khi quả quyết là dưới sự cầm quyền của mình, nước Nga đã trở thành một nước “giàu mạnh và được tôn trọng “.

Cá tính hai mặt đã in sâu vào Putin từ khi còn trẻ. Sinh ngày 7 tháng 10 năm 1952 ở Leningrad, con một người thợ gương mẫu, cháu một người làm bếp cho Lênin, Putin là một học sinh xuất sắc nhưng ít giao thiệp với bạn bè, rất giỏi Nhu đạo, kín đáo nhưng đầy ý chí, tuy mơ mộng trở thành một gián điệp phục vụ KGB, nhưng cũng có một đam mê đặt biệt làm bộc lộ một bình diện khác của con người : Putin, sinh trong một thành phố còn mang đầy dấu ấn Nga Hoàng, bị quyến rũ bởi cái nơi chốn ảo thuật này với những ngôi nhà màu đất son, màu hồng, màu xanh da trời, xanh lá cây hay màu xám, với phối cảnh những lâu đài, những nhà thờ rộng lớn mênh mông, những con kênh như giải ngân hà và những đêm trắng mặt trời không ngủ. Khi còn ở nhà trường, Putin đã có ý dò hỏi tìm mọi cách để được chấp nhận vào các cơ quan mật vụ nhưng người ta nói nên ghi tên học luật trước và chỉ đến năm 1975, sau khi tốt nghiệp đại học, Putin mới được KGB tuyển lựa vì là một trong số những sinh viên xuất sắc nhất. Trong thời gian phục vụ KGB, Putin đã giữ một kỷ niệm quá tốt đẹp và cho KGB là tinh túy của đất nước, bảo vệ quyền lợi tối cao của đất nước. Nằm trong chương trình đào tạo của KGB là : làm sao luôn luôn giữ được bình tĩnh, quán thông nghệ thuật che giấu và dàn cảnh, biết nói 2, 3 giọng điệu khác nhau. Những điệp viên KGB có văn hóa chính trị riêng, có tiếng lóng riêng, và ngay cách pha trò cũng được mã hóa để chỉ cười với nhau. Đó là cả một cấu trúc tinh thần, cả một trạng thái tâm lí đã bị khắc sâu dấu ấn của một nền văn hóa mật vụ, trong đó cái gọi là dân chủ không bao giờ được kể đến. Một điệp viên đã nói rõ ràng : ” Đối với chúng tôi, không nơi nào trên trái đất có dân chủ. Chỗ nào cũng chỉ là trò giật dây. Chỉ có giật nhiều hay giật ít..”

Putin khi còn trẻ hay nhắc lại Ivan người Khủng khiếp (Ivan le Terrible) hay Pie đệ Nhất và cho những nhân vật này là tượng trưng của vĩ đại và ý chí. Cùng hàng với những Sa hoàng này, Putin thêm vào KGB và quân đội và cho những lực lượng này là những kế thừa vẻ vang của nước Nga. Bởi vậy không lạ gì mười lăm năm sau, năm 1991, cùng với thượng cấp của Putin khi đó là Anatoli Sobtchak, thị trưởng Leningrad, thuộc phái Canh tân, Putin tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý để Leningrad lấy lại tên cũ; Cuộc trưng cầu dân ý này được hiểu như là một sự phủ nhận chế độ cộng sản và như là một bước đi về phía Âu châu. ” Đó là thời kỳ mà Putin biểu lộ một cách công khai sự tha thiết của mình đối với quá khứ Sa hoàng “. Anatoli Sobtchak nói với tôi như vậy. 

Người chủ nhân tương lai của điện Cẩm Linh rất thích vị Sa hoàng có óc canh tân là Alexandre II và nhất là vị thủ tướng của Nicola II, Piort Stolypine, người đề xướng chính sách “ thay đổi trong trật tự “. Putin lấy câu này làm phương châm của mình và câu này cũng là công thức gối đầu giường của ông trùm KGB nổi tiếng, Iouri Andropov, một trong những ông thày tư tưởng của Putin. Khi Putin lên cầm quyền đầu năm 2000, Putin áp dụng công thức này : Trở thành một Sa hoàng mới, Putin đuổi bọn “quí tộc” (boyards) mới, bỏ tù những tay đầu xỏ như Mikhail Khodorkovski, chủ tịch hãng Ioukos, người giầu nhất nước Nga, hay đuổi ra khỏi nước. Thông điệp của Putin rất rõ ràng : ” Các ông làm theo ý của điện Cẩm Linh thì người ta sẽ quên cách các ông làm giầu ra làm sao trong thời gian lộn xộn, còn nếu các ông vẫn muốn chõ mũi vào chính trị thì các ông sẽ tự gánh lấy mọi hiểm nguy đến với các ông… “ Bằng cách xuyên tắt qua chính sách tập trung hóa để các cơ quan mật vụ đặt cán bộ trong toàn thể các cơ cấu nhà nước, vị tổng thống mới của Liên bang Nga đã song song tái lập lại chế độ chuyên chế thời Sa hoàng.

Sự sống lại của đế quốc

” Dân tộc Nga có truyền thống rất lâu dài về những vị Sa hoàng hùng mạnh “, Tổng thống Putin tuyên bố như vậy. Đúng năm nay 2013, năm kỷ niệm triều đại Romanov, Putin chơi một cách tinh vi lá bài đế quốc Nga khi cho Staline là một tượng trưng của nước Nga trật tự và vĩ đại – Putin đã làm như vậy trong dịp lễ kỷ niệm lần thứ 70 trận đánh Stalingrad – Putin coi Staline, người chiến thắng Đức Quốc Xã, như một Sa hoàng đỏ, như một thừa kế của Sa hoàng Ivan người Khủng khiếp. 

Lấy đế quốc Sa hoàng làm mẫu mực, Putin, với óc độc đoán vẫn còn hận Tây phương và đổ lỗi cho Tây phương đã làm đế quốc Liên xô sụp đổ. Vì vậy mà mọi mô hình dân chủ đến từ phương Tây – bắt đầu bằng tự do phát biểu, minh bạch trong áp phe… đều bị đập tan. Putin và bè phái của mình trở lại cách suy nghĩ máy móc thời Nga hoàng là ” chỗ nào cũng có kẻ thù và nước Nga là một thành trì bị bao vây tứ phía “. Vì vậy mà luôn luôn được lập đi lập lại những lời tố cáo ” âm mưu của Mỹ “, những mưu toan của các tay đầu xỏ và những gián điệp Tây phương, đồng lòng với nhau chia chác kho tàng của đế quốc Nga. Trong bóng tối mờ ám, phe cánh Putin nắm hết mọi ngành : dầu khí, kỹ nghệ vũ khí và viễn thông, những mỏ vàng, những kênh truyền hình, Ngân hàng Trung ương, Quốc hội, quân đội, mật vụ, công an và các miền trong đất nước. 

Chính ngay Metvêđep, trong cương vị Tổng thống từ năm 2008 đến năm 2012, cũng chả bao giờ thật sự được chút tự lập. Đặc trưng của chuyên chế : giữa bộ ba : điện Cẩm Linh, giới cựu điệp viên KGB và Giáo hội Chính thống, quyền lợi đan xen lẫn nhau đến độ có thể nói đa số những kẻ chơi lá bài poke gian lận này đều cùng một bọn với nhau. Quyền hành theo chiều dọc từ trên xuống dưới được Putin lập ra, đặt cơ sở trên sự liên minh bộ ba này : những ai chống lại đều bị đưa ra cho toàn quốc phỉ nhổ, nhân danh quyền lợi tối cao của đất nước. Lẽ ra sự sụp đổ của chính quyền trước phải đem đến tự do, thì chúng ta lại chứng kiến sự toàn thắng của các phương pháp truyền thống được các triều đình Sa hoàng sử dụng : Đầu độc tư tưởng. Lạm dụng luật pháp gán ghép chuyện này với chuyện kia để kết tội. Làm săng – ta đe dọa tố cáo, phát giác. Sử dụng số tiền khổng lồ đến từ dầu khí để thực hiện những âm mưu trong bóng tối kiểu byzantin, ám sát, thủ tiêu. 

Sự khôn khéo tột bực của Putin là lấy hình ảnh đế quốc Nga làm tượng trưng để đẩy lui hàng chục năm ngày tới của Dân chủ. Putin biết trở về nguồn (quốc gia-chủng tộc) ở từng sâu nhất trong tâm hồn mỗi người Xlavơ để áp đặt quyền hành của mình. Cũng như những người phiêu lưu khoa học muốn làm sống lại những con đi-nô-zo bằng cấy lại DNA, dự kiến của Putin là tái lập lại đế quốc Nga. Putin luôn luôn bị ám ảnh bởi công trình to lớn này và muốn thực hiện nó theo phương pháp của mình : đi từng chặng một, không có những chuyển động bất thần. Người ta còn nhớ câu châm ngôn của Putin : ” những ai không nhớ Liên Xô là những kẻ không tim, nhưng những ai còn luyến tiếc Liên Xô là những người không có trí thông minh .” Khi người ta hỏi có những quyết định ngày trước bây giờ nếu có thể sửa lại, Putin có sửa không, Putin trả lời : ” Không.. Nói thật, khi tôi nhìn lại quá khứ, tôi thấy tổng kết những quyết định từ trước tới nay của tôi đã cho phép tôi còn giữ được quyền hành. “

 Putin trong ý nghĩ còn trù tính phải tiếp tục cầm quyền 10 năm nữa mới có thể chế ngự được những thách đố khổng lồ để tái lập lại những cơ cấu nhà nước bị phá hủy trong thời gian lộn xộn hậu cộng sản. Người ta thấy ở đây cây cầu lịch sử được vị Tổng thống Liên bang Nga lập ra khi tự coi mình là hóa thân của vị vua đầu tiên của triều đại Romanov, Misen đệ Nhất, cháu của Nữ Sa hoàng Anastasia và con của Fedor, được rước về làm Sa hoàng từ tu viện Ipatiev năm 1613, trong lúc còn đầy những cuộc phân tranh. Triều đại Romanov này kéo dài đến tận Cách mạng 1917. Đó cũng là định mệnh của Putin được Chúa lựa chọn để cứu tổ quốc của Putin sau thời kỳ hậu cộng sản – Ảo ảnh, hay là chiến thuật bí mật của ông chủ điện Cẩm Linh hiện thời…

Liên minh giữa ngai vàng và bệ thờ

Một sự giống nhau nữa giữa Tổng thống Putin và các vị Sa hoàng là sự trọng vọng Ki Tô giáo. Là người Ki Tô hữu theo chủ nghĩa Sa hoàng, Putin coi việc công cộng không phải đặt trên nền tảng một sự đối đầu giữa (các đảng) đa số và đối lập, mà là trên ý tưởng đồng tâm và cùng chung một chính nghĩa. Putin coi đời sống dân chủ ở Tây phương chỉ là một trò chơi : ” người ta chơi trò dân chủ chỉ cốt để làm vui khán giả. “ Putin cho giới đầu sỏ kinh tài Âu – Mỹ còn mạnh thế hơn giới đầu xỏ ở Nga nhiều : khi mà điện Cẩm Linh cố bịp miệng giới đầu xỏ này thì các nước Tây phương mỗi ngày một thêm phụ thuộc sức mạnh của đồng tiền.. Cũng như khi đưa ra đường lối chính trị ở Siri, Putin tự đặt mình trong diễn luận của các vị Sa hoàng là phải hỗ trợ những người ki Tô giáo Phương Đông đang bị Tây phương vì lợi lộc bỏ rơi khi hỗ trợ một cách mù quáng những nhóm quá khích Hồi giáo.

Thực chất của quyền hành ? Tổng thống Putine tạo lại cho dân tộc Nga một căn cước mới dựa trên những dấu vết của một dân tộc đã xây dựng 2 đế quốc – Sa hoàng và Sô Viết – Dân tộc này đã từng bị pha loãng trong căn cước Sô Viết, nhưng lấy lại được sức lực trong chữ “Trung” đối với Nhà nước – Một khái niệm xuất phát từ giữa thế kỷ thứ XIX với một quyền hành trung ương, một cơ chế hữu hiệu trong sự truyền ngôi, và sự hiện diện của một lãnh đạo quyền uy. Khái niệm này cộng với ảnh hưởng của đạo Chính thống đã trở thành hệ tư tưởng đầu tiên cho nước Nga hậu Sô Viết. Như vậy đã được kiến tạo một trục quyền hành giữa điện Cẩm Linh của Putin và Giáo hội Chính thống Nga giống như dưới thời nhũng Sa hoàng Romanov đầu tiên, vị Giáo trưởng cũng là hoa tiêu phụ.

Giống Putin, Giáo trưởng Kyrill cũng sinh trưởng ở Leningrad và cững từ thiên hà KGB ra. ” Không một thày tu nào muốn trở thành giám mục mà không từ KGB mà ra “, cựu đại biểu Quốc hội Gleb Yakounine chẩn đoán như vậy. Ông này là một thày tu hoàn tục đã đọc được tài liệu lưu trữ của KGB khi Liên Xô sụp đổ. Dưới tên mã hóa “Mikhailov”, Kyrill đã bắt đầu hoạt động cho KGB từ đầu những năm 1970 trước khi được cử làm đại diện Giáo trưởng tại Genevơ. Ông này rất thích phong cảnh Thụy Sĩ và xe hơi loại chiến cho tới một bữa, chạy quá mau trên một con đường núi, xe BMW của ông bị đụng vào sườn núi. Cùng trong xe có một đại tá KGB và người con trai của ông này. Người này bị gẫy xương bả vai. Kyrill vội vã trở về nước và con đường sự nghiệp được lên nhanh như diều. Được lên hàng Tổng giám mục năm 1991, được bầu làm Giáo trưởng ngày 17-1-2009 thay thế Giáo trưởng Alexis II và được tôn phong làm Giáo trưởng Mốt Cu và toàn thể nước Nga ngày 1 tháng Hai 2009.
Hiện bây giờ không thể chối cãi, Kyrill là một diễn viên chính trị có uy tín lớn lôi kéo được nhiều người và là một quân bài chủ của Putin; ” Đừng nghe những kẻ khích động, hãy trở về nhà và cầu nguyện… Quyền con người chỉ là một cớ được bịa ra để nhục mạ những giá trị quốc gia “, giáo trưởng Kyrill tuyên bố như vậy trên đài truyền hình trước ngày có những cuộc biểu tình chống gian lận trong cuộc bầu Quốc hội tháng Hai năm 2012. Sau hết, sự liên minh giữa ngai vàng và bệ thờ, giáo trưởng thứ 16 của Mốt Cu và toàn thể nước Nga đã nói một câu đầy nghĩa tượng trưng một cuộc họp mặt với Putin : ” Chức vụ tổng thống của ông là một phép lạ của Chúa “… Cách đây 4 thế kỷ, sau cuộc bầu vị Sa hoàng thứ nhất của triều đại Romanov, Giáo hội Chính thống Nga cũng tuyên bố như vậy… Năm 1991 người ta đã nghĩ là “lịch sử đã chấm dứt “, theo câu nói của Hegel được Fukuyama lấy lại. Nhưng với nước Nga, lịch sử các Sa hoàng sẽ không bao giờ chấm dứt. Đó là điều mà mọi người khách nước ngoài đều phải ngẫm nghĩ trước khi đi đến Mốt Cu.
Nguyên Phong dịch
Nguồn: “Le Roman des Tsars”,NxbLes Editions du Rocher. Monaco, France. Tháng 2 năm2013.
Theo VHNA

(3) Bên trong cơ quan quyền lực tối cao Trung Quốc

Bên trong cơ quan quyền lực tối cao Trung Quốc
Trung Nam Hải có các tòa nhà cổ kính bên hồ với lính gác canh phòng cẩn mật và bí ẩn. Các chính sách quan trọng bậc nhất Trung Quốc, thậm chí ảnh hưởng đến toàn thế giới, được phát đi từ đây.
Khẩu hiệu bên ngoài khu vực Trung Nam Hải ở đường Tràng An, Bắc Kinh, 
viết: "Đảng Cộng sản Trung Quốc vĩ đại muôn năm". Ảnh: Asahi Shimbun
Cảnh sát vây quanh một người phụ nữ trung niên khi bà này dừng lại trên đường Tràng An ở trung tâm Bắc Kinh vào lúc 9h sáng và mở túi vải của mình ra. Cảnh sát yêu cầu bà nhanh chóng rời khỏi đây. Không rõ là bà định làm gì với chiếc túi, trong đó có chứa chất độc hại gì không, hay chỉ đơn giản là lấy khăn ra lau mồ hôi.

Tuy nhiên, việc yêu cầu người phụ nữ nhanh chóng rời đi là một trong các biện pháp an ninh luôn luôn nghiêm ngặt xung quanh Trung Nam Hải, nằm ở phía tây Tử Cấm Thành, nơi ban hành các quyết sách quan trọng của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và quốc gia có số dân hơn 1 tỷ người.

Trung Nam Hải luôn là một bí ẩn, là chốn "thâm cung" của đảng và chính phủ Trung Quốc, cũng chính là nơi đưa ra các quyết định có thể làm thay đổi các sự kiện toàn cầu. Trung Nam Hải cũng là nơi các lãnh đạo tối cao của Trung Quốc làm việc và sinh sống.

Nơi này tương tự như là Nhà Trắng ở Mỹ hay Nhà Xanh ở Hàn Quốc. Nó cũng gợi lên hình ảnh của Văn phòng Thủ tướng Nhật Bản hay điện Kremlin thời Liên Xô.

Đây là nơi cố chủ tịch Trung Quốc Mao Trạch Đông và thủ tướng Chu Ân Lai từng sống. Ở đây cũng diễn ra các cuộc gặp lịch sử với các lãnh đạo nước ngoài như với tổng thống Mỹ Richard Nixon và thủ tướng Nhật Kakuei Tanaka. Trung Nam Hải ngày nay do Tổng bí thư Tập Cận Bình đứng đầu.

"Quyết định cuối cùng về việc xử lý vấn đề đảo Điếu Ngư như thế nào chỉ có thể được đưa ra ở Trung Nam Hải", một nhà ngoại giao từng vào khu vực được canh phòng cẩn mật, nói với Asahi Shimbun. Điếu Ngư là tên tiếng Trung của quần đảo mà Nhật Bản gọi là Senkaku. Trung Quốc và Nhật Bản có tranh chấp chủ quyền quần đảo.

Một nhà nghiên cứu ở cơ quan cố vấn cho chính phủ cho biết: "Các quyết định quan trọng của Trung Quốc được đưa ra ở Trung Nam Hải trong vòng bí mật. Ngay cả chúng tôi còn không rõ là nó được vận hành như thế nào thì người nước ngoài càng khó để hiểu về nó".

Ảnh hưởng của Trung Nam Hải rất rộng rãi, đặc biệt có thể thấy rõ ở Đan Đông, khu vực gần biên giới Triều Tiên thuộc tỉnh Liêu Ninh, hồi tháng 4 vừa qua.

Trong bộ comple trịnh trọng, các quan chức cấp cao của tỉnh Bắc Phyongan vượt sông Áp Lục từ Triều Tiên tới Đan Đông để gặp gỡ các quan chức địa phương ở đây.

"Chúng tôi muốn các ông nối lại việc xuất khẩu xăng dầu", quan chức Triều Tiên đề nghị. Quan chức Đan Đông không đáp ứng yêu cầu. "Không thể làm gì được nếu không có quyết định của trung ương", nguồn tin nói.

Sau khi Bình Nhưỡng phóng thành công tên lửa hồi tháng 12, chính phủ Trung Quốc thể hiện sự không hài lòng với đồng minh lâu năm của mình. Đường ống dẫn dầu giữa hai quốc gia, biểu tượng của mối quan hệ khăng khít, hàng ngày vẫn tiếp tục bơm dầu sang Triều Tiên. Tuy nhiên, Trung Quốc tạm dừng các chuyến chở dầu xuất phát từ Đan Đông và Đại Liên đi Triều Tiên.

Trung Quốc còn có những biện pháp mạnh tay hơn với Triều Tiên vì những hành động của nước này. 4 ngân hàng nhà nước của Trung Quốc đã ngừng chuyển tiền tới Triều Tiên và các kiểm tra hải quan trở nên gắt gao hơn. Những người Triều Tiên đến và đi khỏi Trung Quốc bây giờ phải chấp hành nghiêm chỉnh quy định mang theo 20 kg hành lý. Trước đó, việc chấp hành quy định này khá lỏng lẻo dẫn đến những chỉ trích của quốc tế về lệnh trừng phạt kinh tế với Triều Tiên.

"Các biện pháp chặt chẽ hơn thể hiện ý định của các nhà lãnh đạo tối cao là không đối xử đặc biệt với Triều Tiên nữa", nguồn tin trong cơ quan cố vấn cho chính phủ nói. "Tất cả những quyết định này đều được đưa ra ở Trung Nam Hải".

An ninh nghiêm ngặt


Bên trong Trung Nam Hải, nhìn từ công viên Bắc Kinh, phía bắc của khu nhà. Ảnh: Asahi Shimbun
Bức tường bao quanh Trung Nam Hải được sơn màu đỏ, đằng sau cánh cổng đôi là dòng chữ: "Vì dân phục vụ". Tường bao cao khoảng gấp đôi chiều cao trung bình của một người lớn, và camera theo dõi được gắn ở khắp nơi.

Trung Nam Hải được xây từ thời nhà Kim thế kỷ 12 và tiếp tục được tu bổ vào thời nhà Nguyên, Minh và có hình dáng như hiện tại từ thời nhà Thanh. Theo các tài liệu của chính phủ Trung Quốc, khu nhà rộng hơn 100 hecta, có khoảng 150 lầu, và các tòa nhà được xây dọc theo ba chiếc hồ nhân tạo và nối với nhau bằng hai chiếc cầu.

Khu vực xung quanh chiếc hồ ở phía bắc được mở làm công viên công cộng, công viên Bắc Hải, trong khi hai chiếc hồ còn lại ngày nay, Trung Hải và Nam Hải, tạo nên khu đầu não Trung Nam Hải. Chỉ một số ít quan chức cấp cao nhất có văn phòng ở đây, bao gồm 25 thành viên Bộ Chính trị.

Sự hòa quyện giữa các cung điện truyền thống và các tòa nhà hiện đại của thủ đô Bắc Kinh cũng có thể được nhìn thấy ở trong Trung Nam Hải. Tuy nhiên, toàn bộ khu vực được tách biệt ra khỏi một Bắc Kinh sôi động ở phía bên ngoài bức tường.

Theo một cựu quan chức của cơ quan hỗ trợ công việc cho các Ủy viên thường trực Bộ Chính trị, thì 7 ủy viên thường trực làm việc tại Cần Chính Điện. Các văn phòng được nối với nhau bằng một hệ thống hành lang dài. Trong các tòa nhà có giường và nhà tắm và được các trợ lý và vệ sĩ bảo vệ cẩn mật. Thậm chí, có cả những văn phòng dưới hầm ngầm.

Vũ Hà (theo Asahi Shimbun)

(2) Bể bơi của các nhà lãnh đạo tối cao Trung Quốc

Bể bơi của các nhà lãnh đạo tối cao
Có thể chỉ câu nói vui giữa ông Tập Cận Bình và Obama, nhưng nó lại tiết lộ thông tin rằng có một bể bơi phía bên trong Trung Nam Hải, nơi các nhà lãnh đạo hàng đầu Trung Quốc làm việc và sinh sống.
Bể bơi bên trong Trung Nam Hải những năm 1970. 
Ảnh do một nguồn tin cung cấp choAsahi Shimbun.
Ngày 6/8 tại California, Mỹ, Tổng thống Mỹ Barack Obama hỏi Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình bí quyết giữ gìn vóc dáng. Ông Tập giơ ngón tay trỏ và trả lời rằng đó là bơi lội.
Trước các phóng viên, ông nói: "Tôi bơi, 1.000 m mỗi ngày. Nếu chúng ta không tập thể dục, chúng ta sẽ không đủ sức để lo liệu mọi việc. Chúng ta rất bận rộn".
Mặc dù ông Tập không tiết lộ địa điểm ông bơi lội, nhưng chắc hẳn mọi người có thể hiểu rằng có bể bơi bên trong Trung Nam Hải. 

Cũng giống như chính Trung Nam Hải, bể bơi ở đây cũng không được biết đến nhiều. Một lãnh đạo cấp cao khác của Trung Quốc cũng rất yêu thích chiếc bể bơi là Mao Trạch Đông.

Theo hồi ký của một quan chức cấp cao trong đảng, Mao Trạch Đông đã cải tiến phòng thay đồ của bể bơi thành phòng ngủ và văn phòng. Ông dành những ngày cuối đời ở chính căn phòng này.

Ông cũng chuyển phòng nghỉ bên cạnh bể bơi thành phòng đọc sách, với 3 giá sách kê bên 3 bức tường. Ông ngồi ở sofa với chiếc đèn cây cao để suy nghĩ và đọc sách.

Ông Mao rất thích phòng đọc đó nên ông đã tiếp thủ tướng Nhật khi đó Kakuei Tanaka trong chuyến thăm Trung Quốc của ông này năm 1972 ở đây và đàm phán về việc bình thường hóa quan hệ. Tổng thống Mỹ Richard Nixon cũng được tiếp đón tại căn phòng bên bể bơi.

Theo một đảng viên lão thành có thời thơ ấu lớn lên tại Trung Nam Hải từ những năm 1950-1960, chủ tịch Mao Trạch Đông ưa thích kiểu bơi sải và bơi rất lâu tại bể bơi.

Một câu truyện truyền miệng kể về bể bơi là vào năm 1958, khi Nikita Khrushchev, bí thư thứ nhất của Liên Xô, tới thăm Trung Quốc. Mao Trạch Đông mời Khrushchev tới bơi và cười lãnh đạo Liên Xô vì động tác bơi không chuyên của ông này.

Các đảng viên còn nghe nhiều câu chuyện khác từ các nhân viên làm việc trong Trung Nam Hải và chăm sóc cho chủ tịch Mao.

Một ngày vào khoảng những năm 1950, vào thời gian Trung Quốc đang tiến hành phong trào Đại nhảy vọt mà sau này phải kết thúc vì gặp phải mất mùa và người dân đói kém, chủ tịch Mao đang bơi thì bất ngờ chìm xuống nước.

Sau khi nổi lên, ông nói với các nhân viên rằng: "Thật ra con người nổi trên mặt nước rất dễ và làm ngược lại mới khó". Ông chia sẻ với các nhân viên bí quyết muốn chìm là "phải bình tĩnh và thở ra từ từ".

Vũ Hà (Theo Asahi Shimbun)

(1) Phòng họp của giới quyền lực nhất Trung Quốc

Phòng họp của giới quyền lực nhất Trung Quốc
Những cuộc họp kín của các ủy viên thường vụ Bộ Chính trị Trung Quốc diễn ra trong căn phòng rộng gần 100 m2. Nguyên tắc được đề cao nhất trong các cuộc họp của những người quyền lực nhất này là: thống nhất.
Bức ảnh chụp Cần Chính Điện năm 1949, sau khi nước 
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập. Ảnh: CFP
Việc họp bàn diễn ra ở Cần Chính Điện, là tòa nhà nằm trên một dải đất hẹp giữa hai chiếc hồ nhân tạo, Trung Hải và Nam Hải, trong khuôn viên Trung Nam Hải. Căn phòng giản dị bên trong Cần Chính Điện chính là nơi Ủy ban Thường trực Bộ Chính trị Trung Quốc tụ họp và là nơi ban hành những chính sách quan trọng nhất của đất nước.
Ông Bào Đồng, 80 tuổi, từng là trợ lý cho ông Triệu Tử Dương thời ông Triệu là tổng bí thư những năm 1980 mô tả lại cảnh tượng căn phòng và không khí các cuộc họp.

"Không có trang trí gì trong phòng họp. Điều duy nhất đập vào mắt chỉ là màu xanh ngút ngát của những rặng cây bên ngoài cửa sổ", ông Bào nói.

Nhà chức trách Trung Quốc chưa bao giờ công khai thông tin về những cuộc họp như vậy.

Cần Chính Điện được cho là nơi làm việc của Hoàng đế Quang Tự cuối đời nhà Thanh của Trung Quốc. Tòa nhà được sửa sang lại sau khi thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949.

Ông Bào nhớ lại cuộc gặp vào khoảng năm 1987, khi một tuyên bố quan trọng được đưa ra: "Tôi muốn đề cử đồng chí Giang Trạch Dân làm bí thư thành ủy Thượng Hải. Các đồng chí nghĩ sao về việc này?"

Sau khi ông Triệu Tử Dương bị bãi nhiệm chức vụ tổng bí thư vào tháng 5/1989 vì có xu hướng ủng hộ các nhà hoạt động dân chủ, ông Giang Trạch Dân được đề cử thay thế ông Triệu. Cuộc họp năm 1987 thảo luận về việc thăng chức cho ông Giang lên vị trí quan trọng ở Thượng Hải.


Tấm bảng Tân Hoa Môn và dòng chữ "Vì nhân dân phục vụ" 
tại cổng chính của Trung Nam Hải. Ảnh: Sina
Các cuộc họp Thường vụ Bộ Chính trị được tổng bí thư triệu tập. Vào những năm 1980, một tuần diễn ra một hoặc hai cuộc họp. Các cuộc họp thường được tiến hành với việc tất cả các thành viên thường vụ bày tỏ quan điểm về các nội dung mà tổng bí thư đưa ra.

Những vị lão thành cách mạng như Dương Thượng Côn, Vạn Lý và Bạc Nhất Ba, được mời tham dự và phát biểu ý kiến. Sau khi nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình rời khỏi Ủy ban Thường vụ năm 1987, ông không bao giờ tham dự những cuộc họp như thế này nữa, nhưng những trợ lý của ông luôn xuất hiện và ghi chép kỹ lưỡng.

Phòng họp rộng khoảng 100 m2 và có chiếc bàn hình chữ nhật dài khoảng 5-6 m. Tổng bí thư luôn luôn ngồi ở vị trí quan trọng nhất trong khi các thành viên khác có thể ngồi đâu tùy theo ý muốn. Các trợ lý ngồi tại hàng ghế kê sát tường.

Nguyên tắc của các cuộc họp là nhất trí. Nếu có ý kiến phản đối thì có thể sửa đổi đề xuất ban đầu. Nếu không thống nhất được ý kiến, tổng bí thư sẽ nói "fangqi" (bỏ qua) và vấn đề sẽ được quyết định sau.

Ông Bào kể rằng trong 9 năm ông tham dự các cuộc họp, chưa có trường hợp nào quyết định được ban hành dựa trên nguyên tắc đa số, mà hoàn toàn dựa trên sự nhất trí. Đây là truyền thống được đặt ra để ngăn chặn sự chia rẽ trong nội bộ các nhà lãnh đạo hàng đầu của đảng.

Vì không bỏ phiếu theo nguyên tắc đa số, nên các lãnh đạo thời đó chỉ có một sự lựa chọn là làm theo ý kiến mà lãnh đạo cao nhất đưa ra mỗi khi có các ý kiến khác biệt.
(Còn nữa)

Vũ Hà (Theo Asahi Shimbu)

Tuesday, August 13, 2013

Tây Tạng và cái ách thực dân Trung Quốc


Tây Tạng và cái ách thực dân Trung Quốc 
Phạm Hy Sơn
Nhân loại, nhất là những dân tộc ở châu Phi, châu Mỹ tưởng chủ nghĩa đế quốc , thực dân đã tàn lụi vào quá khứ . Không ai ngờ nó vẫn hiển hiện tại những xứ nhỏ yếu bên cạnh Trung Quốc .
Vào thế kỷ 17, 18 các nước châu Âu nhờ sớm kỹ nghệ hóa đã đua nhau đi xâm lăng những nước lạc hậu trên thế giới để kiếm thị trường tiêu thụ hàng hóa và khai thác nguyên liệu đem về nước chế biến , nhưng sau khi Thế Chiến thứ II chấm dứt năm 1945 thì những nước bị đế quốc đô hộ đó dần dần tự giải thoát khỏi ách thực dân . Ngược lại các dân tộc Mông Cổ, Mãn Châu, Duy Ngô Nhĩ và nhất là Tây Tạng vẫn còn bị cái ách đô hộ của Trung Quốc cho đến nay .
Tây Tạng bị quân đội cộng sản Trung Quốc xâm lăng năm 1950, bị sát nhập thành phủ, huyện của Trung Quốc năm 1951, và cũng như 3 dân tộc kia hiện đang bị Trung Quốc áp dụng chính sách triệt để Hán hóa để xóa bỏ hẳn trên bản đồ thế giới .

Trung Quốc từ lâu đời có truyền thống xâm lăng những nước nhỏ yếu bên cạnh để bành trướng lãnh thổ và đồng hóa dân bản xứ thành người Hán . Ngày nay vì nạn nhân mãn trầm trọng với 1.300 triệu người, Trung Quốc càng cần đi xâm lăng các nước khác, nhất là những nước đất rộng ít dân như Tây Tạng, Mông Cổ . . . hầu di dân giải tỏa áp lực dân số . Do đó chỉ mới mấy chục năm nay mà người bản xứ của những nước này trở thành dân thiểu số trên chính quê hương của họ với 20% dân số, 80% còn lại là người Hán thực dân .


ĐẤT NƯỚC và DÂN TỘC TÂY TẠNG :

Tây Tạng là 1 quốc gia hiện diện lâu đời ở miền Trung Á, nói rõ hơn ở sườn phía bắc dãy núi Hymalias với độ cao trung bình trên 4.500m (núi Hoàng Liên Sơn cao nhất Việt Nam ở Lào Cai cao hơn 3.000m) nên người ta kêu Tây Tạng là nóc nhà thế giới . Diện tích Tây Tạng khoảng 2 triệu 500 ngàn km2 ( chiến hơn ¼ diện tích Trung Quốc hiện nay ) bao gồm các khu vực rộng lớn chính như Amdo, Kham và U-Tsang . Thủ đô là Lhassa .
Sau khi chiếm Tây Tạng năm 1950, Trung Quốc cắt vùng Amdo rộng lớn phía đông bắc thành những mảnh nhỏ để sát nhập vào các tỉnh Thanh Hải, Cam Túc, Tứ Xyên ; phần phía đông vùng Kham cũng bị cắt nhỏ như thế để sát nhập vào các tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên , Thanh Hải . Khu gọi là tự trị Tây Tạng chỉ còn U-Tsang và tây Kham với diện tích hơn 1 triệu km2 .

Cách nay khoảng 5.000 năm, khi dân Hoa Hạ (Hán) có mặt ở khu vực tây bắc (sông) Hoàng Hà thì dân tộc Tây Tạng cũng đã định cư ở vùng Trung Á này rồi và từ từ phát triển về phía đông và đông nam tách ra thành các nước Nam Chiếu , Miến Điện và có lẽ cả Thái Lan . Nước Nam Chiếu rất hùng mạnh vào thế kỷ thứ 8, đã từng đem quân đánh An Nam (VN bây giờ), Miến Điện và tranh hùng với nhà Đường Trung Quốc vào giữa thế kỷ này . Nam Chiếu sau đổi thành Đại Lý và bị người Tàu xâm chiếm rồi đồng hóa thành tỉnh Vân Nam hiện nay .

Dân tộc Tây Tạng có 1 nền văn hóa lâu đời và có nhiều nước từng chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền văn hóa này như Népal , Boutan ,Sikkim . . . ở phía nam , phía bắc tới tận Mông Cổ và Trung Quốc ( phái Mật Tông) . Tây Tạng có ngôn ngữ riêng (tiếng Tạng Miến), chữ viết riêng, tôn giáo riêng với đạo Bôn xuất hiện nhiều thế kỷ trước khi đạo Phật từ Ấn Độ truyền sang vào thế kỷ thứ 7 sau TL . Hiện nay đạo Bôn vẫn còn được 1 số người theo và đạo Phật với phái Mật Tông lan sang Trung Quốc và cả Việt Nam , Mông Cổ .
Ngay từ đầu thế kỷ thứ 7 sau TL. Tây Tạng đã là 1 quốc gia hùng mạnh, đã từng phát triển tới Bangladest, Nam Chiếu ở phía đông, nam ; phía bắc và đông bắc tới Mông Cổ, Trung Quốc.
Liên tiếp 2 năm 635, 636 vua Songsten Gampo (604-650 sau TL ) đem quân đánh Trung Quốc buộc vua nhà Đường lúc ấy phải gả công chúa Wencheng (Văn Thánh) cho vua Tây Tạng để giảng hòa . Tuy vậy , sự tranh hùng giữa 2 nước xẩy ra liên miên suốt 3 thế kỷ . Năm 763 vua Trisong Detsen (756-804) tiến quân tới Trường An , kinh đô nhà Đường, làm vua Đường Thái Tông phải chạy về Lạc Dương . Vua Tây Tạng lập 1 ông vua bù nhìn ở Trường An để cai trị . Đến năm 821, dưới triều vua Ralphachen (815-838) hai nước mới có hòa ước ký tại Lhassa, thủ đô Tây Tạng . Bản hòa ước này được khắc bằng cả chữ Tây Tạng và chữ Hán vào 1 cột đá dựng bên ngoài chùa Jokhang ở Lhassa . Cũng trong thời kỳ này, biên cương 2 nước Tạng, Hoa được vạch rõ, được đánh dấu bằng những trụ đá hay khắc vào núi đá như ở biên giới giữa 2 nước vùng Vân Nam .
Tây Tạng cường thịnh được khoảng 500 năm thì bị suy yếu do nạn chia rẽ, tranh chấp quyền hành . Do đó , đầu thế kỷ thứ 13 nước này bị quân Mông Cổ chiếm để mở 1 con đường tiến quân chinh phục Trung Quốc , sau đó Trung Quốc bị đế quốc Nguyên Mông Cổ cai trị gần 100 năm . Khi nhà Nguyên Mông Cổ sụp đổ, Tây Tạng cùng với Trung Hoa và tất cả những nước khác lấy lại độc lập, nhưng đến thế kỷ thứ 16 Tây Tạng lại bị Mông Cổ đô hộ lần nữa . Đầu thế kỷ thứ 18, khi đế quốc Mãn Châu củng cố xong sự cai trị ở Trung Quốc thì tiến quân đánh chiếm Tây Tạng, cắt miền đất phía đông Amdo sát nhập vào Trung Quốc với cái tên Koko Nor (Hồ Nước Xanh). Vùng này bị đổi thành tỉnh Thanh Hải năm 1929 dưới chính quyền Quốc Dân Đảng do Tôn Dật Tiên sáng lập .
Khi đế quốc Mãn châu (nhà Đại Thanh) bị lật đổ ở Trung Hoa năm 1911, nhân cơ hội này Tây Tạng tuyên bố độc lập . Nền độc lập này kéo dài được 39 năm thì bị Mao trạch Đông đem quân xâm chiếm .

Trung Quốc thường viện dẫn rằng trước đây Tây Tạng thuộc quyền đô hộ của nhà Nguyên (đế quốc Mông Cổ) và nhà Thanh (đế quốc Mãn Châu) nên nay họ có quyền tiếp tục cai trị . Lý luận như thế chẳng khác gì nói rằng cái nhà này ông tôi chiếm của hàng xóm, rồi đến bố tôi tiếp tục chiếm nên nay cái nhà này thuộc về tôi . Lập luận và lối chứng minh ấy thật lạ lùng vì Tây Tạng cũng như Trung Quốc xưa kia cùng bị Mông Cổ và Mãn Châu xâm lăng, đều là nạn nhân của 2 đế quốc đó nên nếu lấy lịch sử để chứng minh chủ quyền như thế thì cái quyền ấy là quyền của người Mông Cổ và người Mãn Châu .

Họ có quyền đòi chủ quyền không những ở Tây Tạng mà ở cả Trung Quốc . Tương tự, những nước trong “ Bát Quốc Liên Quân “ Nga, Nhật, Đức . . . có quyền đòi hỏi chủ quyền trên lãnh thổ Trung Quốc hiện nay, ít nhất là Nhật có quyền đòi hỏi chủ quyền toàn bộ quần đảo Đài Loan vì quần đảo này đã từng bị sát nhập vào Nhật cho đến hết Thế Chiến thứ II .

Đế quốc Mãn Thanh của người Mãn Châu, không phải của người Trung quốc . Hiến Pháp Đại Cương năm 1908 của đế quốc này gồm 15 điều , điều I ghi rất rõ ràng :
Điều I : “ Hoàng Đế Đại Thanh thống trị đế quốc Đại Thanh, nối tiếp nhau đến vạn đời .”
Điều II : “Hoàng đế tôn nghiêm như thần, thánh, bất khả xâm phạm . “ . . . . .

Triều dình của đế quốc Đại Thanh khi ấy thì ông vua Quang Tự là người Mãn, 12 Thượng Thư thì 8 là người Mãn ( trong đó 5 người là hoàng tộc Mãn ), chỉ có 4 là người Tàu ( Nguyễn hiến Lê, Sử Trung Quốc , Chương 8) .

TÂY TẠNG DƯỚI ÁCH THỰC DÂN TRUNG QUỐC :

Sau khi chiếm xong Tây Tạng, Mao mở đầu kế hoạch nuốt trọn Tây Tạng bằng cách hủy diệt nền tảng cấu trúc về tôn giáo và đạo đức của xã hội Tây Tạng . Đó là chiến dịch đấu tố Cải Cách Ruộng Đất . Bên ngoài là tịch thu ruộng đất của tu viện, chùa chiền và địa chủ, những người giàu có để chia cho dân nghèo xóa bất công xã hội, nhưng bên trong hàm ẩn mục đích tiêu diệt tiềm năng chống đối của người Tây Tạng vì Đạo Phật và ảnh hưởng của giới tu sĩ bao trùm hầu hết mọi sinh hoạt của Tây Tạng từ đạo đức, chính trị, văn hóa , giáo dục đến phong tục, tập quán nên diệt được Phật giáo là diệt được Tây Tạng ( khoảng từ 20 đến 25% người trưởng thành Tây Tạng tu trong hàng ngàn tu viện và chùa chiền trên khắp nước (*). Vì vậy quân đội Trung Quốc tịch thu hết ruộng đất của những cơ sở tôn giáo và đuổi những người tu hành ra khỏi tu viện, chùa chiền bắt phải hoàn tục . Ai không nghe thì bị đánh đập, bỏ tù, những người chống đối thì bị giết ngay tại chỗ hay bắt đi mất tích . Hai chữ “ mất tích” ở Tây Tạng từ khi bị Trung Quốc xâm lăng có nghĩa là bị đem đi thủ tiêu , không bao giờ trở lại .

Quân đội Trung Quốc chỉ định những đối tượng của cuộc Cải Cách Ruộng Đất bắt dân chúng phải đấu tố, bắn giết . Đó là những vị sư sãi, những thân hào nhân sĩ, những người giàu có tại địa phương . Toàn bộ tài sản liên quan hay thuộc về họ bị tịch thu; bạn bè, thân nhân bị canh chừng và bị cô lập bằng cách gạt ra bên ngoài tất cả mọi sinh hoạt xã hội . Dân chúng , giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ và chồng, giữa xóm làng phải tố cáo lẫn nhau .

Vì bị cai trị khắc nghiệt như vậy nên chỉ 6 năm sau, năm 1956, người Tây Tạng bùng lên phản kháng . Lúc đầu là ở Amdo và đông Kham, những vùng bị cắt nhỏ sát nhập vào các tỉnh Cam Túc- Thanh Hải- Tứ Xuyên- Vân Nam , sau lan cả sang tây Kham và U-Tsang . Cuộc nổi loạn bị trấn áp thật khủng khiếp, chỉ trong 3 năm (1956 – 1959) hơn 20.000 người tham dự bị giết chết, dã nam nhất là hơn 200.000 người bị bắt đem đi thủ tiêu . Đó là cha mẹ, vợ con,anh em, xóm làng của những người chống đối . Cuộc tàn sát này giống với cuộc tàn sát diệt chủng người Do Thái mà Hitler ra lệnh cho áp dụng ở châu Âu hồi Thế Chiến thứ 2 .

Từ đó tới nay một mặt Trung Quốc xiết chặt sự cai trị Tây Tạng và mặt khác ồ ạt di dân cũng như đem hàng triệu tội phạm người Hán tới nhốt rồi cấp phát ruộng đất bắt định cư tại đó sau khi mãn tù (**) .
Dân tộc Tây Tạng đã được hun đúc bằng truyền thống văn hóa của ngàn xưa và từng có một lịch sử oai hùng không dễ gì chịu khuất phục trước bạo lực và chính sách Hán hóa của Trung Quốc nên dân chúng luôn luôn có những hành động phản kháng dưới mọi hình thức, từ nhỏ tới lớn . Ngày 10 tháng 3 năm 2008 dân chúng thủ phủ Lhassa nổi lên biểu tình chống đối bị công an và Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc đàn áp giết chết hơn 300 người và mấy trăm người , trong đó có nhiều nhà sư, bị bắt đem đi mất tích không bao giờ trở lại . Từ cuộc nổi lên ở thủ phủ Lhassa này, sự cai trị tàn bạo của Trung quốc càng ngày càng tàn bạo thêm . Bí Thư Tây Tạng ( người Hán ) Zang Qingli công khai tuyên bố : “ Những ai cần bắt sẽ bị bắt, cần bỏ tù sẽ bị bỏ tù . Những ai cần giết sẽ bị giết .”

Báo Le Monde ra ngày 14-12-2012 viết : “ Sau vụ nổi dậy năm 2008, trấn áp là biện pháp duy nhất .” (Web site RFI ngày 14-12-2012) . Còn báo Libération ngày 12-12-2012 đăng 1 bài phóng sự dài về Tây Tạng của Phillippe Grangereau có ghi lời nữ văn sĩ Tây Tạng, bà Tsering Woeser, mô tả : hiện nay Tây Tạng không khác gì 1 nhà tù, nhất là tại thủ phủ Lhassa . Công an, cảnh sát khám người trên khắp các nẻo đường, kẻ cả trẻ em . Vào chùa phải đưa thẻ căn cước vào máy và khi vào bên trong lại bị khám xét nữa. Chỉ trên 1 đoạn đường 500m bà đi qua có 21 chốt gác của cảnh sát và gặp 3 đội tuần tra .

Ở Đồng Nhân không chỉ có công an, quân đội giữ an ninh, trật tự mà cả các cán bộ, công nhân viên cũng phải dành ½ thời gian canh chừng dân chúng.

Tất cả mọi người Tây Tạng ra đường dù ngày hay đêm đều phải mang theo 5 thứ giấy tờ tùy thân và luôn luôn bị khám xét trong khi người Hán ở Tây Tạng thì không bị sách nhiễu gì cả .

Cũng trong bài phóng sự này Phillippe Grangereau đưa ra nhận xét :” Họ (Trung Quốc) muốn đồng hóa, muốn triệt bỏ ngôn ngữ, văn hóa, tôn giáo, lịch sử, nhân cách của người Tây Tạng .”
Nhận xét ấy rất chính xác vì chỉ riêng trong thời gian Mao trạch Đông phát động Cách Mạng Văn Hóa vào những năm 1960 có hơn 6.000 tu viện và chùa chiền bị tiêu hủy, những cơ sở chưa bị phá thì bị canh giữ, các ni sư phải học tập chủ nghĩa cộng sản ; những nhà tu nào chống đối thì bị bắt, bị giết hay đem đi biệt tăm; học sinh và trẻ em bị cấm đến chùa ; vinh viên, học sinh phải học những môn học viết toàn bằng chữ Hán; phong tục tập quán, lối sống của người Tây Tạng bị chê bai, lăng mạ .

Chính sách Hán hóa khốc liệt ấy không khác gì chính sách mà quân nhà Minh áp dụng khi xâm lăng Việt Nam đầu thế kỷ thứ 15 . Sắc chỉ của Minh thành Tổ ngày 21-8-1406 ra lệnh bất cứ sách vở, văn, thơ, vết tích văn hóa nào của Việt Nam cũng phải thu, phải đốt, phải đục cho hết .
Trong Việt Nam Sử Lược, sử gia Trần trọng Kim ghi : “Đến tháng 8 năm Giáp Ngọ (1414 ) Trương Phụ và Mộc Thạnh về Tàu đem theo những đàn bà, con gái về rất nhiều . Bọn Hoàng Phúc ở lại sửa sang các việc trong nước để khiến người An Nam đồng hóa với người Tàu . Lập đền miếu bắt người mình phải cúng tế theo tục bên Tàu, rồi từ cách ăn mặc cho chí sự học hành, việc gì cũng bắt như người Tàu cả . Còn cái gì là di tích của nước mình thì thu nhặt đem về Tàu hết sạch .”
Sử gia Trần trọng Kim ghi tiếp rằng Hoàng Phúc bắt các châu, huyện phải lập văn miếu thờ Khổng Tử và lập các bàn thờ trong nhà để thờ các thần sơn (núi), xuyên (sông), phong (gió), vân (mây) . . . . Bắt đàn ông, con trai không được cắt tóc ngắn; đàn bà, con gái thì phải mặc áo ngắn quần dài theo cách ăn mặc của người Tàu ( đàn bà Việt Nam thì mặc áo dài, váy đen – PH Sơn chú thích).
(Trần trọng Kim, Việt Nam Sử Lược Q.I trang 211&212, Bộ Giáo Dục xb. năm 1971).

Chúng ta đọc lại giai đoạn lịch sử đen tối của Việt Nam để cảm thông nỗi nguy nan của dân tộc Tây Tạng dưới ách cai trị của Trung Quốc hiện nay .
Trong hoàn cảnh ngặt nghèo như thế, toàn dânTây Tạng đang kiên trì tranh đấu cho sự sống còn của dân tộc bằng sự hy sinh vô bờ bến, hy sinh bằng chính bản thân họ biến thành những ngọn đuốc sống đang bừng cháy trên vùng trời Hymalias .
Nhân loại đã nhận thấy sự thống khổ của họ, Liên Hiệp Quốc, Cộng Đồng Âu Châu, các quốc gia, các cơ quan bảo vệ nhân quyền . . . liên tục lên tiếng mạnh mẽ phản đối chế độ thực dân Trung Quốc tại Tây Tạng .

Trước công luận và sự lên án của thế giới, liệu Trung Quốc có thể duy trì mãi mãi chế độ thực dân ở Tây Tạng, Nội Mông Cổ, Tân Cương hay sẽ sớm nở tối tàn như 3 đế quốc muộn Đức, Nhật, Ý năm 1945 ?
Phạm hy Sơn
( 18 – 03 – 2013 ) 

GHI CHÚ :

-(*) Dù sống đời sống tị nạn tại Ấn Độ, hiện trong 200 ngàn người Tây Tạng ở Dharamsala có 20 ngàn tăng ni tu trong 200 tu viện hay trong các ngôi chùa – như vậy là 10% dân số đi tu .

- (**) Trong cuộc đàm luận với 1 nhà báo Ấn Độ hồi tháng 4-2012, Đức Đạt Lai Lạt Ma tiết lộ hiện nay ở thủ đô Lhassa người Hán chiếm 2/3 sân số và nắm hết các quyền lợi của người Tây Tạng . Xin xem đầy đủ trên Web site thuvienhoasen.org /phần Phật Giáo Thế Giới .

nguồn : khoahocnet.com

Sunday, August 11, 2013

MƯỜI LÝ DO KHIẾN CÁC QUỐC GIA TAN RÃ

MƯỜI LÝ DO KHIẾN CÁC QUỐC GIA TAN RÃ

Bài viết gốc: 10 reasons countries fall apart.

Các nhà nước không thể sụp đổ chỉ trong một đêm. Mà nguyên nhân tan rã nằm ở các tổ chức chính trị của chúng.
 
 Một số quốc gia tan rã một cách nghiêm trọng, do sự sụp đổ hoàn toàn của mọi cơ quan nhà nước, như trường hợp của A Phú Hãn sau khi Liên Xô rút lui, với vụ Tổng thống Mohammad Najibullah(1) bị treo cổ ở cột đèn, hay như cuộc nội chiến kéo dài cả thập kỷ ở Siera Leone, nơi mà chính phủ hoàn toàn không tồn tại.
 Tuy nhiên, đối với phần lớn các đất nước đã sụp đổ, quá trình này không diễn ra ào ạt mà âm ỷ. Không phải bằng thảm họa chiến tranh và bạo lực, mà chúng sụp đổ bởi không còn có thể tăng trưởng bằng cách lợi dụng tiềm năng to lớn của xã hội, đẩy người dân vào cuộc đời nghèo túng. Sự lụn bại một cách chậm chạp và thê thảm này khiến nhiều nước ở vùng cận sa mạc Sahara ở châu Phi, châu Á và châu Mỹ Latinh có mức sống thấp hơn rất nhiều so với các nước phương Tây.
 
Đáng buồn là sự sụp đổ này được nhìn thấy trước. Các quốc gia sụp đổ vì chúng được điều hành bằng thứ gọi là các thể chế kinh tế “bóc lột”, những thứ phá hủy động lực, không khuyến khích phát minh và làm thui chột nhân tài bằng cách tạo ra sân chơi không công bằng và cướp đi cơ hội của họ. Các thể chế rơi vào tình cảnh này không phải bởi sai lầm mà là do có mục đích là: vì lợi ích của các tầng lớp hưởng lợi phần lớn từ công cuộc “bóc lột” – bất kể là dưới dạng tài nguyên có giá trị, bóc lột sức lao động hay bảo vệ các nhóm độc quyền – làm thiệt hại thuộc về xã hội. Tất nhiên, các tầng lớp này cũng hưởng lợi từ các thể chế chính trị gian lận, giữ quyền điều hành hệ thống sao cho có lợi cho họ.  
Nhưng các quốc gia được xây dựng dựa trên sự bóc lột tất yếu phải sụp đổ, kéo theo sự sụp đổ hoàn toàn của bộ máy tham nhũng và thường để lại hậu quả nặng nề. Hàng năm chỉ số sụp đổ quốc gia (Failed States Index) cho thấy các số liệu thống kê đáng buồn về quá trình này. Dưới đây là luận giải của chúng tôi về 10 cách mà việc sụp đổ xảy ra.

1. Bắc Triều Tiên: Không có quyền sở hữu tài sản
Các thể chế kinh tế của Bắc Triều Tiên khiến phần lớn mọi người không thể sở hữu tài sản; nhà nước sở hữu tất cả, bao gồm gần như toàn bộ đất đai và vốn (tư bản). Nông nghiệp được tổ chức theo các nông trại tập thể. Mọi người làm việc dưới sự chỉ đạo của Đảng Lao động Triều Tiên, thay vì bản thân họ, điều này triệt tiêu động lực vươn tới thành công của họ.
Bắc Triều Tiên lẽ ra có thể giàu có hơn. Năm 1998, một tổ chức Liên Hợp quốc tìm thấy rất nhiều máy kéo, xe tải và các nông cụ khác của đất nước này đơn giản là không được sử dụng hoặc không được gìn giữ. Bắt đầu từ thập niên 1980, nông dân được phép sở hữu các lô đất nhỏ và được bán các sản phẩm do họ trồng trọt. Nhưng ngay cả điều này cũng không tạo ra nhiều động lực cho họ ở một nơi không có quyền sở hữu tài sản. Năm 2009, chính phủ đưa ra một cuộc đổi tiền và chỉ cho phép người dân được đổi từ 100,000 tới 150,000 won tiền cũ sang đồng tiền mới (số tiền này chỉ còn tương đương với 35-40 đô la Mỹ theo tỷ giá chợ đen). Người dân bắc Hàn đã nhận ra rằng, những khối tài sản tích cóp cả đời lao động nhọc nhằn của họ bỗng chốc trở thành vô giá trị.
Bắc Hàn không chỉ suy tàn về kinh tế – trong khi Nam Hàn tăng trưởng mạnh mẽ – mà cư dân ở đây còn thực sự suy sụp về cả sức khỏe. Bị mắc kẹt trong vòng quay kiệt quệ này, công dân Bắc Hàn chẳng những nghèo hơn rất nhiều so với người Nam Hàn mà còn thấp hơn 3 inches so với chiều cao trung bình của đồng bào mình đã bị chia cắt trong suốt sáu thập kỷ qua.
2. Lao động cưỡng bức ở Uzbekistan
Cưỡng chế là một cách chắc chắn để dẫn đến sụp đổ. Mặc dù cho tới ngày nay, lịch sử nhân loại vẫn ghi nhận phần lớn nền kinh tế đã từng dựa vào sự bóc lột công nhân: chế độ nô lệ, nông nô và các hình thức cưỡng bức lao động khác. Trên thực tế, danh mục các chính sách buộc con người làm việc mà họ không muốn làm cũng dài như danh mục các xã hội dựa trên những chính sách ấy. Việc cưỡng bức lao động cũng là căn nguyên làm vắng bóng phát minh và tiến bộ khoa học công nghệ ở phần lớn các xã hội này, từ La Mã cổ đại cho tới Nam Mỹ.
Uzbekistan hiện đại là một ví dụ hoàn hảo cho kịch bản kinh điển này. Bông là một trong những hàng hóa xuất khẩu chủ lực của Uzbekistan. Trong tháng Chín, thời điểm quả bông chín, trường học vắng bóng trẻ em bởi chúng bị buộc phải đi thu hoạch. Thay vì là người giảng dạy, giáo viên lại trở thành nhà tuyển dụng lao động. Trẻ em được đưa ra hạn mức sản lượng hàng ngày từ 20 đến 60 kg bông thu hoạch, tùy vào độ tuổi. Đối tượng hưởng lợi chính từ hệ thống này là Tổng thống Islam Karimov và bè đảng của ông ta, những kẻ kiểm soát việc sản xuất và buôn bán bông. Người chịu thiệt thòi không chỉ là 2.7 triệu trẻ em bị cưỡng bức lao động trong điều kiện khắc nghiệt trên những cánh đồng bông thay vì được đến trường, mà còn là cả xã hội Uzbekistan không thoát khỏi cảnh nghèo đói. Thu nhập đầu người của Uzbekistan ngày nay không khá hơn bao nhiêu so với con số thấp kém kể từ thời Liên bang Xô viết sụp đổ – ngoại trừ thu nhập của gia đình Karimov, nhờ vào kiểm soát lĩnh vực thăm dò khí đốt và dầu nội địa, vẫn đang tăng trưởng tốt.
3. Nam Phi: Một sân chơi bất bình đẳng
Năm 1904 ở Nam Phi, ngành khai khoáng đã tạo ra một hệ thống đặc quyền đặc lợi trong lao động. Kể từ đó, chỉ có người châu Âu mới được làm nghề thợ rèn, thợ đóng gạch, sản xuất nồi hơi – bất kể tay nghề công việc hay chuyên môn như thế nào. “Thước đo màu da” này, theo cách gọi của người Nam Phi, đã được áp dụng cho toàn bộ nền kinh tế từ năm 1926 và chỉ kết thúc vào thập niên 1980s, nó đã cướp đi của những người da đen Nam Phi mọi cơ hội được sử dụng kỹ năng và tài năng của họ. Họ bị buộc làm việc như những lao động không có tay nghề trong các hầm mỏ và trong ngành nông nghiệp – với mức lương rất thấp, tạo ra lợi nhuận khủng cho giai cấp sở hữu quặng mỏ và nông trại. Không ngạc nhiên gì, Nam Phi dưới chế độ phân biệt chủng tộc Apartheid đã thất bại trong việc nâng cao mức sống của 80% dân cư suốt gần một thế kỷ. Trong 15 năm trước khi chế độ Apartheid sụp đổ, nền kinh tế Nam Phi tiêu điều. Kể từ năm 1994, với sự ra đời của nhà nước dân chủ, nó đã phát triển bền vững.
4. Ai Cập: Gã khổng lồ tham lam
Một khi đã kiểm soát nền kinh tế, giai cấp lãnh đạo thường dùng quyền lực trong tay để tạo ra độc quyền và ngăn cản sự gia nhập của các cá nhân và tổ chức mới. Đây đích xác là cách mà Ai Cập đã tiến hành suốt ba thập niên dưới sự điều hành của Hosni Mubarak. Chính phủ và quân đội sở hữu phần lớn ruộng đất – theo một số ước tính, khoảng 40%. Thậm chí khi đã tiến hành “tự do hóa”, họ vẫn nắm giữ phần lớn quyền lợi kinh tế trong tay bạn bè của Mubarak và con trai ông ta Gamal. Các thương nhân thân cận với bộ máy cai trị, như Ahmed Ezz (sắt và thép), gia đình Sawiris (truyền thông, đồ uống và viễn thông), và Mohamed Nosseir (đồ uống và viễn thông) nhận được không chỉ sự bảo hộ từ Nhà nước mà còn là các giao kèo với chính phủ, và các món vay ngân hàng lớn mà không cần tài sản thế chấp.
Các tập đoàn nói trên được gọi chung là “những con cá voi”. Sự bóp nghẹt nền kinh tế của chúng tạo ra lợi nhuận khổng lồ cho các cá nhân bên trong bộ máy cai trị, nhưng ngăn chặn cơ hội cho phần lớn người Ai Cập thoát khỏi cảnh đói nghèo. Trong khi đó, gia đình Mubarak tích lũy được số tài sản ước tính vào khoảng 70 tỷ đô-la Mỹ.
5. Áo và Nga: Lãnh đạo ngăn cấm công nghệ mới
Các công nghệ mới cực kỳ phiền toái. Chúng gạt đi các mô hình kinh doanh lỗi thời và khiến các kỹ năng và tổ chức hiện hành trở nên lạc hậu. Chúng phân phối lại không chỉ thu nhập và tài sản mà còn cả quyền lực chính trị. Bởi vậy các giai cấp cầm quyền có động cơ lớn để ngăn chặn quá trình đó diễn ra. Điều đó tốt cho họ, nhưng không tốt cho xã hội.
Hãy xem xét chuyện gì đã xảy ra trong thế kỷ 19, khi mạng lưới đường sắt phát triển trong khắp nước Anh và Mỹ. Khi bản đề xuất xây đường sắt được trình tới Francis I, hoàng đế Áo, ông ta vẫn còn bị ám ảnh bởi bóng ma của cuộc cách mạng tư sản Pháp năm 1789 và ông ta đã trả lời: “Không, không, ta sẽ không làm gì để mà cuộc cách mạng có thể lan tới đất nước này”. Điều tương tự đã xảy ra ở Nga vào những năm 1860. Với việc ngăn cấm công nghệ mới, tầng lớp sa hoàng được an toàn, ít nhất trong một giai đoạn nào đó. Trong khi Anh và Mỹ tăng trưởng nhanh chóng thì Áo và Nga trì trệ. Số liệu minh chứng cho câu chuyện này là những năm 1840, nước Anh bé nhỏ có một hệ thống đường sắt dài hơn 6,000 dặm, trong khi chỉ có một đoạn đường sắt chạy trong cả lục địa Nga. Ngay cả đường ray này cũng không được xây dựng vì lợi ích của nhân dân Nga; mà nó chỉ có chiều dài 17 dặm từ St. Petersbug tới thái ấp của sa hoàng ở Tsarskoe Selo và Pavlovsk.
6. Somalia: Không luật pháp và trật tự
Một điều buộc phải có cho nền kinh tế thành công là một nhà nước kiểm soát tập trung hiệu quả. Nếu không, sẽ không có hy vọng nào cho việc thiết lập trật tự, tạo ra một hệ thống pháp luật hiệu quả, xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp, hoặc cung cấp các hàng hóa công cộng thiết yếu.
Tuy nhiên vẫn còn một phần lớn thế giới ngày nay bị thống trị bởi các xã hội phi thể chế. Mặc dù các quốc gia như Somalia hay quốc gia mới của Nam Sudan có chính phủ được quốc tế công nhận, họ vẫn thực thi rất ít quyền lực bên ngoài thủ đô của họ, thậm chí ngay cả trong phạm vi thủ đô. Cả hai đất nước này đều được xây dựng trên nền tảng xã hội mà trong suốt lịch sử chưa bao giờ có được nhà nước tập quyền mà bị phân tán thành các thị tộc, nơi các quyết định được đưa ra bởi hội đồng những người đàn ông trưởng thành. Không thị tộc nào đủ khả năng để cai trị hoặc tạo ra luật lệ được tuân thủ trong phạm vi cả nước. Không có các vị trí chính trị, không có nhân viên hành chính, không thuế, không chi tiêu chính phủ, không cảnh sát, không luật sư – hay nói cách khác, vô chính phủ.
Tình trạng này tồn tại suốt thời kỳ thuộc địa ở Somalia, khi người Anh thậm chí không thể thu được thuế thân(2), khoản mục tài khóa cơ bản cho thuộc địa châu Phi của họ. Kể từ thời kỳ độc lập vào năm 1960, đã có các nỗ lực để tạo ra chính quyền tập trung hiệu quả, ví dụ dưới thời kỳ độc tài của Mohamed Siad Barre, nhưng sau hơn 5 thập kỷ có thể nói một cách khách quan và rõ ràng rằng họ đã thất bại. Luật của Somalia có thể cô đọng như sau: Không có chính quyền kiểm soát tập trung, dẫn đến không thể có pháp luật hay trật tự; Vì không có pháp luật và trật tự, dẫn đến không thể có nền kinh tế thực; và không có nền kinh tế thực, dẫn đến một quốc gia không tránh khỏi sụp đổ.
7. Colombia: Chính phủ yếu kém
Colombia không phải là Somalia. Nhưng chẳng khác gì nhau, chính quyền trung ương Columbia không thể hoặc không sẵn sàng giữ quyền kiểm soát một nửa đất nước, để chúng rơi vào tay các du kích cánh tả, mà nổi tiếng nhất là phiến quân với cái tên gọi là Lực lượng Vũ trang Cách mạng Columbia [FARC: Revolutionary Armed Forces of Colombia (Fuerzas Armadas Revolucionarias de Colombia - the FARC)], và, những tổ chức bán vũ trang(3) cánh hữu ngày càng lớn mạnh. Các công ty dược phẩm có thể đã sẵn sàng, nhưng sự vắng bóng chính quyền trên phần lớn đất nước dẫn tới việc không chỉ thiếu thốn dịch vụ công cộng như đường xá, chăm sóc sức khỏe mà còn chẳng hề có các quyền sở hữu tài sản được định nghĩa rõ ràng và thể chế hóa.
Hàng ngàn người dân nông thôn Colombia chỉ có sổ đỏ không chính thức hoặc sổ đỏ không có giá trị pháp lý. Mặc dù điều này không làm ngưng trệ việc mua bán đất đai, nhưng nó làm suy giảm động cơ để đầu tư – và sự không chắc chắn thường dẫn tới bạo lực. Ví dụ, trong suốt thập niên 1990s và 2000s, ước tính khoảng 5 triệu ha đất đã bị tước đoạt ở Colombia, thường là bằng súng ống. Tình trạng này trở nên tồi tệ tới mức vào năm 1997, chính phủ trung ương cho phép chính quyền địa phương ngăn cấm giao dịch bất động sản ở các vùng nông thôn. Kết quả? Nhiều nơi ở Colombia không còn tham dự vào các hoạt động kinh tế hiện đại, thay vào đó là sự suy tàn trong đói nghèo, chưa kể đến việc đất đai màu mỡ trở thành nơi ẩn náu cho các phần tử vũ trang nổi dậy và các lực lượng bán vũ trang của cả cánh tả và hữu.
8. Peru: Dịch vụ công cộng tệ hại
Calca và Acomayo gần đó là hai tỉnh của Peru. Cả hai đều ở trên núi cao, và đều là nơi cư ngụ cho các hậu duệ nói tiếng Quechua của người Inca. Cả hai đều trồng trọt giống nhau, nhưng Acomayo nghèo hơn, với mức tiêu dùng của dân chúng chỉ bằng một phần ba so với người ở Calca. Mọi người biết điều này. Ở Acomayo, họ hỏi những người nước ngoài phiêu lưu tới đây: “Ông có biết rằng người ở đây nghèo hơn người ở Calca không? Tại sao ông lại còn muốn tới đây”?
Thực vậy, tới Acomayo từ thủ phủ vùng Cusco, trung tâm của đế chế Inca cổ đại, khó hơn là tới Calca. Đường tới Calca được trải nhựa, trong khi đường tới Acomayo đang xuống cấp trầm trọng. Để di chuyển ở Acomayo bạn cần ngựa hoặc lừa – không phải do sự khác biệt phong tục, mà bởi ở đây không có đường rải nhựa. Ở Calca, họ bán ngô và đâu ở chợ để có tiền, trong khi ở Acomayo họ chỉ trồng trọt cho chính nhu cầu của mình. Người Acomayo có thu nhập chỉ bằng một phần ba so với người Calca là vì lẽ đó: Vấn đề cơ sở hạ tầng.
 
9. Bolivia: Lợi dụng chính trị
Bolivia có lịch sử lâu đời với các thể chế bóc lột kể từ thời kỳ Tây Ban Nha trở lại đây – một lịch sử chất chứa oán hận trong nhiều năm qua. Năm 1952, người Bolivia nổi dậy chống lại giai cấp sở hữu đất đai và mỏ quặng truyền thống. Các lãnh đạo của cuộc cách mạng này phần lớn là người dân thị thành, những người đã bị tước quyền lực và trợ cấp từ tầng lớp cai trị trước đây. Một khi đã nắm quyền, những người làm cách mạng đoạt lấy phần lớn đất đai và mỏ quặng và thành lập đảng chính trị mang tên Phong trào Cách mạng Dân tộc (MNR: Revolutionary Nationalist Movement). Sự bất bình đẳng, ban đầu đã giảm mạnh nhờ vào quá trình chiếm hữu đất đai nói trên, cũng như nhờ vào công cuộc cải cách giáo dục của MNR. Nhưng MNR đã thành lập một chính quyền độc đảng và từ từ loại bỏ các quyền chính trị mà nó đã khơi ra vào năm 1952. Vào cuối thập niên 1960, sự bất bình đẳng đã thực sự cao hơn mức trước khi có cách mạng.
Đối với phần lớn người dân nông thôn Bolivia, giai cấp này đơn giản thay thế giai cấp kia theo cách mà nhà xã hội học người Đức Robert Michels gọi là “luật sắt của đầu sỏ”. Người dân nông thôn vẫn chỉ có quyền tư hữu tài sản rất lỏng lẻo và vẫn phải bán quyền bầu cử của họ để được tiếp cận đất đai, tín dụng hay công việc. Sự khác biệt chính yếu là thay vì làm những việc này với các điền chủ trước kia, giờ họ làm với đảng Phong trào Cách mạng Dân tộc.
10. Sierra Leone: tranh giành chiến lợi phẩm
Sự bóc lột tàn bạo là mầm mống cho bất ổn và sụp đổ bởi vì, cùng với luật sắt của kẻ đầu sỏ, nó tạo ra động lực cho các thế lực khác hạ bệ chế độ hiện tại và tước đoạt quyền lực.
Đây chính xác là những gì đã diễn ra ở Sierra Leone. Siaka Stevens và Đảng Quốc Đại của Toàn dân (APC: All People’s Congress) của ông ta đã điều hành đất nước từ 1967 tới 1985 như một thái ấp cá nhân của họ. Cũng chỉ có một thay đổi nhỏ là khi Stevens nhường ngôi, chuyển giao quyền lực cho người được bảo hộ của ông ta, Joseph Momoh, nối tiếp quá trình bóc lột đó.
Vấn đề là sự bóc lột này gây ra bất bình sâu sắc và làm khơi dậy cuộc tranh giành quyền lực từ những thế lực khác, hy vọng sẽ giành được quyền sở hữu của cải bị cướp. Tháng Ba năm 1991, đảng Mặt trận Cách mạng Thống nhất của Foday Sankoh (Foday Sankoh’s Revolutionary United Front: RUF), tiến vào Siera Leone và dìm đất nước trong một cuộc chiến tranh dân sự tồi tệ kéo dài cả thập kỷ. Sankoh và Taylor chỉ đam mê một thứ duy nhất: quyền lực, để họ có thể sử dụng, giữa các công cụ khác, để trộm cắp kim cương, và họ đã có thể làm như vậy là vì có sự cai trị mà Stevens và Đảng APC của ông ta đã thiết lập. Đất nước sớm rơi vào hỗn loạn, với cuộc chiến dân sự cướp đi mạng sống của 1% dân số và làm bị thương số người không thể đếm được. Nhà nước và các tổ chức của Sierra Leone hoàn toàn sụp đổ. Thu ngân sách giảm từ 15% tổng thu nhập quốc dân xuống còn gần như 0% vào năm 1991. Nhà nước, nói theo cách khác, không phải sụp đổ mà là hoàn toàn mất tích.
Ghi chú của chủ blog:
1. Mohammad Najibullah: là tổng thống bù nhìn của A Phú Hãn thời kỳ Liên Xô rút quân khỏi nơi này, nhưng chi viện kinh tế và vũ khí nhỏ giọt để điều khiển ổ tàn quân al Qedae và Taliban để làm đối trọng với Mỹ và phương Tây ở khu vực Trung Á và Trung Đông. Nhưng ông ta bị buộc phải từ chức vào ngày 10/4/1992, vì Liên Xô tan rã, và nước Nga khi đó không có khả năng chi viện. Taliban tấn công và ông muốn đi lưu vong, mặc dù Nga có triển khai chiến dịch giải cứu ông vào năm 1995. Nhưng vì Pakistan (Hồi Quốc) đã trở cờ sang thân Mỹ và phương Tây, nên chính quyền Pakistan đã tiết lộ thông tin tình báo cho Taliban và bắt ông giao cho nhóm Taliban vào ngày 27/9/1996. Taliban xử tử ông cùng ngày và treo thể xác ông ở cột đèn thuộc quảng trường lớn của thủ đô Kabul.

2. Thuế thân (poll tax): Ở một số nước có nền dân chủ đa nguyên, mỗi công dân phải có nghĩa vụ đóng một loại thuế gọi là thuế thân hằng năm. Thuế này chỉ mang tính tượng trưng để góp phần tài chính vào cho công việc tổ chức bầu cử? Điều này bản thân chủ blog còn mù mờ. Xin bạn đọc bổ sung thêm.
3. Lực lượng bán vũ trang (paramilitary force): là lực lượng dân quân, vừa làm ăn kiếm sống vừa được trang bị vũ khí chiến đấu.
Trang La dịch, BS Hồ Hải hiệu đính
Theo BSHohai

Wednesday, August 7, 2013

(3) Có phải con người được tạo ra để ăn thịt

Có phải con người được tạo ra để ăn thịt

(*) Dr. D.P. Atukorale, M.D. M.R.C.P. là bác sĩ chuyên khoa về tim mạch, hiện là Giáo Sư Viện Đại Học Colombo Tích Lan và là Cố Vấn Trưởng Khoa Tim Mạch Viện Tim Mạch Quốc Gia, Colombo, Sri Lanka. Bài này và các bài nghiên cứu khác về y khoa và dinh dưỡng của ông được đăng tải trên Tập San Y Khoa Hiệp Hội Y Khoa Tích Lan và các báo Online edition of Daily News và Sunday Observer ở Colombo.
Một số người có nhận thức sai lầm rằng:
(a) Con người được tạo ra để ăn thịt, và
(b) Việc ăn thịt là điều cần thiết giúp cho con người được khỏe mạnh.
Hiện nay có hàng triệu người ăn chay trên thế giới sống lâu và khỏe mạnh hơn những người không ăn chay. Riêng tại Hoa Kỳ, thống kê cho biết có 9 triệu người ăn chay trong năm 1989 theo hội North American Vegetarian Society (Christian Science Monitor, 18-04-1990). Con số người ăn chay nhiều nhất trên thế giới là Ấn Độ.
Thực ra, con người được tạo ra là để trở thành sinh vật ăn các loại thực phẩm có nguồn từ thực vật.

Theo quan điểm của khoa cơ thể học và sinh lý học thì cấu trúc của con người không phải để ăn thịt động vật theo các lý do sau đây:

(1) Răng hàm con người giống như loài động vật ăn rau cỏ, thuộc loại bằng, dùng để nhai nghiền thức ăn, không giống như loại động vật ăn thịt có răng nhọn và bén dùng để cắt xẻ thịt. Có một số người cho rằng sự tồn tại của răng nanh chứng tỏ rằng chúng ta thích hợp với việc ăn thịt. Những con khỉ đột và giống khỉ đầu chó là loài động vật không ăn thịt, răng nanh của chúng được dùng như khí giới để tự vệ, không phải để ăn thịt.


(2) Bàn tay của con người khác với bàn tay (chân) của loài động vật ăn thịt có những móng nhọn vuốt, sắc bén (dùng để chụp mồi bắt thịt).


(3) Dung dịch acid trong dạ dày con người và loài động vật ăn rau cỏ có nồng độ thấp, thích ứng với việc tiêu hóa các thức ăn rau quả; không giống như loài động vật ăn thịt có nồng độ acid rất cao (độ pH thấp) thích ứng cho sự tiêu hóa nhanh chất thịt.


(4) Hệ thống ruột của con người và loài động vật ăn rau quả rất dài nhằm thích hợp với sự tiêu hóa hoàn toàn loại thực phẩm rau đậu. Trái lại, loài động vật ăn thịt như cọp và sư tử có đường ruột rất ngắn cho phép bài tiết nhanh chóng những chất thải ra ngoài trong tiến trình chuyển hóa thực phẩm. Nếu như con người ăn thịt, những chất thải sẽ không được bài tiết ra ngoài nhanh chóng do đường ruột rất dài, vì thế sẽ gây nên nhiều chứng bệnh liên quan đến bộ phận tiêu hóa như ung thư biểu bì, ung thư ruột, thường thấy rất phổ thông trong số những người không ăn chay.


(5) Những người ăn chay và loài động vật ăn rau quả ra mồ hôi làm mát cơ thể, không giống như loài động vật ăn thịt phải thở mạnh (thở hỗn hển) để làm mát cơ thể.


(6) Loài người uống từng hớp nước, không giống như loài thú ăn thịt liếm nước bằng lưỡi.


(7) Những người ăn chay và loài động vật ăn rau quả đáp ứng được nhu cầu Vitamin C từ nguồn dinh dưỡng chay. Tất cả loài động vật ăn thịt tự tạo ra Vitamin C cho chúng.


(8) Con người giống như loài động vật ăn rau quả có bàn tay nắm lại được và sử dụng khéo léo không giống loài ăn thịt, không có bàn tay khéo léo.


(9) Loài động vật ăn thịt thường bài tiết ra ngoài các chất thải rất hôi thối, so với loài động vật ăn rau quả, các chất thải ít thối hơn.


(10) Những người ăn chay và loài động vật ăn rau cỏ không nuốt chửng thức ăn, khác với loài ăn thịt nuốt gọn thực phẩm.


(11) Phần lớn những người ăn chay thích ngọt, không giống như loài động vật ăn thịt ưa thích ăn thực phẩm chất béo.


(12) Loài người có bộ óc lớn hơn, có khả năng hành động một cách hợp lý, trong khi đó loài động vật ăn thịt tỏ ra ít khả năng cư xử thích ứng.


(13) Những người ăn chay thường ít bị ung thư đường ruột, buồng trứng và tinh hoàn so sánh với người ăn thịt. Họ cũng ít bị các chứng bệnh kinh niên khác như cao áp huyết, tiểu đường, sạn mật, mập phì và các chứng bệnh tâm thần như nghiện rượu...


(14) Bệnh tim mạch là chứng bệnh gây chết người nhiều nhất tại các quốc gia đã và đang phát triển, không mấy phổ thông trong số những người ăn chay, vì thực phẩm chay không có chất cholesterol, trái với thịt có nhiều cholesterol. 

Chế độ dinh dưỡng chay thường có loại chất béo không bão hòa giúp hạ lượng cholesterol, trái với chất béo bão hòa chứa trong thịt thường làm gia tăng lượng cholesterol trong máu. Theo sự hiểu biết thông thường thì lượng cholesterol cao gây nguy hiểm đến chứng bệnh tim mạch.


(15) Tiêu thụ thực phẩm rau, quả, ngũ cốc và hạt đậu chứa đầy đủ chất đạm, chất béo, chất khoáng, chất carbohydrates, fibre và vitamins cần thiết, là điều ưu tiên của chúng ta nhằm bảo vệ lâu dài sức khỏe và sống đời an vui cùng là ngăn ngừa các căn bệnh kinh niên như bệnh tim, cao áp huyết, đột quỵ, tiểu đường và ung thư, thường hay xảy ra nơi những người ăn thịt.


Vì thế con người được tạo ra là để trở thành người ăn các loại thực phẩm có nguồn từ thực vật.


Hiện vật trưng bày ở "The CIA Museum"

The CIA Museum

Một bảo tàng của Cơ quan tình báo trung ương Mỹ (CIA) đang trưng bày nhiều hiện vật thu được sau các thập niên làm tình báo, trong đó đáng chú ý là một khẩu súng AK-47 của trùm khủng bố Osama bin Laden. Tuy nhiên, bảo tàng này không mở cửa với công chúng.

Trụ sở của Cơ quan tình báo trung ương Mỹ tại Langley, bang Virginia.

Bảo tàng bí mật được chia làm 5 khu vực, trải dài trên các hành lang của 2 tòa nhà nằm trong trụ sở của CIA tại Langley.

Bảo tàng trưng bày nhiều hiện vật được thu thập sau các thập niên hoạt động tình báo của CIA.

Một hiện vật mới được trưng bày trong viện bảo tàng và thu hút sự chú ý là khẩu súng AK-47 của trùm khủng bố Osama bin Laden.

Khẩu súng trường do Nga chế tạo được Mỹ thu giữ từ tầng 3 ngôi nhà của Bin Laden tại Abbottabad Pakistan, nơi trùm khủng bố bị tiêu diệt trong cuộc đột kích hồi tháng 5/2011.

Mô hình khu nhà của Bin Laden tại Abbottabad cũng được trưng bày trong bảo tàng.

Một thiết bị trông giống côn trùng do Văn phòng nghiên cứu và phát triển của CIA thiết kế vào những năm 1970 để thu thập thông tin tình báo.

Văn phòng nghiên cứu và phát triển của CIA cũng chế tạo một camera đủ nhỏ để gắn lên ngực chim bồ câu để thu thập tin tức.

Vào những năm 1990, CIA đã chế tạo một robot hình cá để nghiên cứu tính khả nghi của các phương tiện không người lái dưới nước phục vụ việc thu thập tin tức.

Các miếng hút ẩm được sử dụng để gửi các thông điệp bí mật.

Một camera siêu nhỏ của CIA.

Đồng tiền xu này có thể giống một đồng đôla bạc Eisenhower nhưng thực chất là một vật rỗng chứa các thông điệp hoặc các mẩu phim.

Một la bàn được giấu trong cúc áo.

Các khẩu súng từng được sử dụng trong Thế chiến II.

Một cẩm nang huấn luyện của al-Qaeda được tìm thấy tại Afghanistan.

Bảo tàng cũng trưng bày một bức thư mà điệp viên OSS Richard Helms, người sau này trở thành giám đốc CIA, viết trên một tờ giấy thu được từ đống đồ dùng cá nhân của trùm phát xít Adolf Hitler sau khi phát xít Đức đầu hàng Đồng minh năm 1945.

Một giấy tờ của nữ điệp viên huyền thoại Mỹ Virginia Hall.

Bảo tàng bí mật của CIA đóng cửa với công chúng và chỉ các nhân viên CIA và khách mời mới được phép vào thăm. Photographers cũng hiếm khi được phép quay phim, chụp ảnh.

Nhân viên viện bảo tàng Toni Hiley (phải) giới thiệu với nhà báo Richard Engel của đài NBC về các hiện vật trong lần mở cửa hiếm hoi với một cơ quan truyền thông.











  1. CIA Museum — Central Intelligence Agency

    https://www.cia.gov/about-cia/cia-museum‎
    19-04-2007 - The CIA Museum supports the Agency's operational, recruitment and training missions and helps visitors better understand CIA and its ...
  2. CIA Museum - Wikipedia, the free encyclopedia

    en.wikipedia.org/wiki/CIA_Museum‎
    Dịch trang này
    The CIA Museum's scope of collection includes material associated with all activities of the CIA's predecessor, the Office of Strategic Services, material ...