Showing posts with label kinh tế lượng. Show all posts
Showing posts with label kinh tế lượng. Show all posts

Tuesday, August 13, 2013

Chọn toán vì... không đủ sức vào ngành khác

Hơi bất ngờ vì thông tin GS.TSKH Lê Tuấn Hoa là viện trưởng Viện Toán học, đã kiểm tra qua trang web của Viện, thấy hoàn toàn đúng. Vậy là GS.TSKH Ngô Việt Trung đã thôi chức và chuyển sang là nghiên cứu viên cao cấp. Thế hệ quen biết cũ hết dần. Như nhà thơ - chú Việt Phương thường nói: Toán học là ước mơ không thành của tôi.

Chọn toán vì... không đủ sức vào ngành khác
TT - Nỗi lo lắng về chất lượng nguồn nhân lực nghiên cứu toán học nói riêng, khoa học cơ bản nói chung đã được đặt ra tại Đại hội toán học VN lần 8, đang diễn ra ở TP Nha Trang (tỉnh Khánh Hòa).
GS.TS Lê Tuấn Hoa - viện trưởng Viện Toán học, giám đốc điều hành Viện Nghiên cứu cao cấp về toán - cho rằng chất lượng đầu vào khoa toán học ở các trường đại học tại VN những năm gần đây là một vấn đề rất đáng lo.
“Điểm tuyển vào ngành toán thường ở nửa dưới so với điểm tuyển trung bình của các trường đại học và thậm chí có xu hướng ngày càng thấp đi. Rất nhiều sinh viên chọn ngành toán chỉ vì lượng thấy không đủ sức vào các ngành khác. Do vậy, mặc dù số lượng sinh viên không phải ít nhưng số sinh viên có năng lực và đam mê toán học vô cùng hiếm hoi” - ông Hoa thẳng thắn.
TS Hoàng Nam Dũng (32 tuổi, Trường đại học Khoa học tự nhiên Đại học Quốc gia Hà Nội) nói: “Toán là một môn khó, đòi hỏi sinh viên phải có một trình độ nhất định thì mới có thể học tập, nghiên cứu được. Nhưng với đầu vào như vậy thì dù các thầy cô giáo trong trường có giỏi đến mức nào, số sinh viên tốt nghiệp có chất lượng chắc chắn cũng không nhiều”.

Theo báo cáo của Hội Toán học, hiện đang có sự hẫng hụt về lực lượng kế nhiệm giảng dạy, nghiên cứu toán học. Trong năm năm qua có bốn đợt phong giáo sư và phó giáo sư, nhưng toàn bộ ngành toán (không kể phương pháp giảng dạy toán) chỉ có 10 giáo sư và 34 phó giáo sư mới được phong.

Toàn hội hiện có 70 giáo sư và 200 phó giáo sư toán, nếu chia cho 400 trường đại học, cao đẳng cả nước sẽ thấy lực lượng giảng dạy thiếu thốn nghiêm trọng. Do vậy, giáo viên dạy toán thường xuyên quá tải dẫn đến không còn thời gian nghiên cứu. Số lượng nghiên cứu sinh về toán cũng chưa được cải thiện nhiều, hầu hết các cơ sở đào tạo tiến sĩ toán không tuyển đủ chỉ tiêu.

PGS.TS Bùi Công Cường (Viện Toán học) nói: “Ở Viện Toán mấy năm nay hầu như không tuyển được nghiên cứu sinh ở Hà Nội và TP.HCM, hai thành phố đứng đầu cả nước về nghiên cứu khoa học, vì các em đều chọn những ngành nghề theo xu hướng xã hội. Chúng ta đã mất một lượng đáng kể những nhà nghiên cứu toán học có tiềm năng và năng lực”.

Theo GS.TS Lê Tuấn Hoa, trong “khung cảnh đầy u tối khiến nguy cơ tan rã và biến mất nền toán học VN non trẻ hoàn toàn hiện hữu” như vậy đã có một số nhân tố tác động để duy trì, phát triển toán học.

Đó là sự ra đời của Quỹ hỗ trợ phát triển khoa học quốc gia (NAFOSTED) giúp những người đam mê nghiên cứu toán học có thêm kinh phí nghiên cứu khoa học và chăm lo cuộc sống; chương trình trọng điểm quốc gia phát triển toán học giai đoạn 2010-2020 được Thủ tướng phê duyệt giữa năm 2010 và sự ra đời của Viện Nghiên cứu cao cấp về toán tạo bước đột phá để chấn hưng, phát triển toán học VN; giáo sư Ngô Bảo Châu đoạt giải thưởng Fields vào tháng 8-2010 là niềm tự hào của toán học VN, thúc đẩy giới trẻ tự tin, đam mê hơn với ngành khoa học cơ bản này...

Theo GS.TS Nguyễn Hữu Dư - tân chủ tịch Hội Toán học VN, cần phải có mức hỗ trợ, đầu tư cao hơn cho những công trình, đề tài nghiên cứu khoa học cơ bản vì “nếu nhà khoa học không đủ sống thì làm sao anh ta nghiên cứu được”. Ông cũng nói rằng những tài năng trẻ toán học cần được phát hiện sớm, được khuyến khích nghiên cứu đặc biệt ngay từ khi còn ở ghế nhà trường phổ thông và phải được đưa vào các lớp tài năng khi lên bậc đại học.

DUY THANH

Monday, August 12, 2013

(1) Lời than vãn của một nhà toán học

Lời than vãn của một nhà toán học 
Tác giả: Paul Lockhart 
Nguyễn Tiến Đạt dịch
Học Thế Nào xin được lần lượt đăng 4 phần bản dịch bài viết “A Mathematician’s Lament” của tác giả Paul Lockhart – một nhà toán học đã giảng dạy nhiều năm tại một trường tư ở Mỹ. Bài viết bàn về cách học theo trực giác và cách giảng dạy cho phép học sinh học bằng cách chính mình tự khám phá các sự vật hiện tượng, học từ trải nghiệm của chính họ chứ không phải bằng cách nói cho họ về các sự vật hiện tượng đó. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thay đổi cách giảng dạy Toán học, coi việc học Toán là một hoạt động nghệ thuật và cần nhiều trí tưởng tượng, trong khi quan điểm này chưa được thể hiện trong cách dạy Toán ở hệ thống giáo dục Mỹ.
PHẦN 1
Một nhạc công vừa choàng tỉnh dậy khỏi một cơn ác mộng kinh hoàng nhất. Trong giấc mơ, ông thấy mình mắc kẹt trong một thế giới nơi âm nhạc đã trở thành một phần bắt buộc của hệ thống giáo dục: “Chúng ta đang giúp các học sinh có thể cạnh tranh một cách tốt nhất, trong một thế giới nơi âm nhạc đang ngày càng chiếm một vị trí lớn hơn trong cuộc sống con người”, họ nói.Các nhà giáo dục, các hệ thống trường học, và cả các chính phủ đều tham gia vào dự án quan trọng này. Các nghiên cứu được triển khai, những cuộc hội thảo được tổ chức, và rất nhiều quyết định được ban bố – tất cả, hoàn toàn không có lấy sự tham vấn hay đóng góp của bất cứ một nhạc công hay một nhạc sĩ đang hoạt động nào.

Ai cũng biết các nhạc sĩ ghi lại ý tưởng của mình dưới dạng những nốt và khuông trên những bản nhạc, và do vậy, các ký tự đen trắng ngộ nghĩnh này được coi là thứ “ngôn ngữ của âm thanh”. Bởi thế, thời nay, một trong những yêu cầu bắt buộc đối với các học sinh sinh viên khi muốn lấy bất cứ một bằng cấp gì trong ngành nhạc là phải “đọc thông viết thạo” được thứ ngôn ngữ trên. Thật vậy, sẽ là quá nực cười nếu bạn tin rằng một đứa trẻ có thể hát một bài hát, hay chơi một nhạc cụ mà không cần có một chút nền tảng kiến thức nào về ký âm hay biết sơ qua các học thuyết về nhạc lý. Không nói đến sáng tác, chỉ nghe và chơi nhạc thôi cũng đã là những hoạt động được coi là có độ khó rất cao rồi, và do vậy, chỉ được dạy trong các chương trình từ mức đại học trở lên, thường phải là cao học.
Đó là về đại học, còn về các cấp học thấp hơn như tiểu học, trung học; ở đó nhiệm vụ chính của nhà giáo dục chỉ là tập trung huấn luyện để học sinh có thể sử dụng thuần thục được thứ ngôn ngữ trên, có thể sắp xếp qua lại vị trí các ký tự dựa trên các quy luật đã được soạn sẵn: “Đến giờ học nhạc, bọn em sẽ lấy giấy ký âm ra; khi giáo viên viết các nốt trên bảng, bọn em sẽ chép lại hoặc chuyển chúng về một khóa nhạc khác trên giấy. Quan trọng nhất là biểu tượng khóa nhạc và hình dáng các nốt phải chính xác; và cô giáo luôn yêu cầu bọn em rất kỹ rằng phải viết kín cho bằng hết tờ in khuông nhạc mới được. Một lần chữa bài tập về gam nửa cung, em đã trả lời đúng nhưng không được cô cho điểm, chỉ vì em đánh cái móc cho các nốt nhạc quay nhầm bên.”
Dần dần, các nhà giáo dục học thông thái nhận ra rằng, ngay cả các học sinh rất nhỏ cũng có thể được giao những dạng bài tập như trên. Và trên thực tế, vào thời buổi này, sẽ rất đáng xấu hổ cho thầy cô và các bậc cha mẹ nếu con em, học trò của họ học đến lớp 3 rồi mà vẫn chưa nắm vững được lý thuyết về các khóa và tông trong luật ký âm. “Chắc tôi phải kiếm gia sư nhạc cho thằng con tôi quá. Nó chẳng bao giờ chịu làm bài tập cả, nói những bài tập đó “chán òm”. Suốt cả ngày, lúc nào cũng chỉ thấy nó ngồi nhìn ra ngoài cửa sổ, ngâm nga một giai điệu khỉ gió gì đấy một mình, có những lúc nó còn tự bịa ra một bài hát linh ta linh tinh nào đấy nữa.”
Càng học lên cao, áp lực sẽ càng lớn; suy cho cùng, các học sinh cũng cần phải được chuẩn bị để đối mặt với các kỳ thi tiêu chuẩn sắp tới, trong đó có cả bài thi đầu vào đại học, cao đẳng. Các môn học bắt buộc trong giáo trình giảng dạy thường bao gồm: Thang âm và Gam; Điệu thứ; Nhịp Phách; Kỹ thuật hòa âm, Lý thuyết đối âm học… “Đúng là các em phải học một số lượng môn học khá lớn, tuy vậy đó là một sự chuẩn bị cần thiết; tôi tin là khi học lên các giáo trình cao hơn trong bậc đại học, yêu cầu phải trực tiếp nghe và chơi nhạc, các em sẽ thấy biết ơn tất cả những gì mình đã được học trong chương trình phổ thông…” Tất nhiên, không mấy học sinh tiếp tục đi theo con đường âm nhạc; nên sẽ chỉ có một số rất ít các em được thực sự nghe những âm thanh mà những nốt đen đen ngộ nghĩnh các em vẫn được học ký hiệu cho. Tuy vậy, điều tối quan trọng vẫn là mỗi thành viên trong xã hội đều phải có khả năng đọc được một quãng chuyển tông hay nhận ra một nhịp thứ trong các bản ký âm, bất kể là họ có bao giờ được thực sự nghe một bản nhạc hay không. “Nói thật với anh, phần lớn học sinh ngày nay không giỏi nhạc một chút nào hết. Chúng uể oải trong giờ học, kỹ thuật của chúng kém cỏi, và bài tập chép của chúng thì tệ đến mức gần như không đọc được nữa. Chẳng mấy đứa ý thức được tầm quan trọng của âm nhạc vào thời buổi hiện nay, tất cả chúng chỉ muốn làm quấy quá cho xong nhiệm vụ, miễn cứ kiếm đủ điểm tối thiểu để được lên lớp là xong. Tôi nghĩ đứa nào giỏi thì đã giỏi từ bé, còn những đứa đã bẩm sinh không có thiên khiếu thì có học thế chứ học nữa cũng vậy thôi. Mà, tôi biết có một cô bé giỏi lắm nhé, trời ơi, bài ký âm của nó, bài nào cũng phải nói là chuẩn cực luôn – mọi nốt đều ở đúng vị trí, mọi nét ký đều chính xác, sắc nét, rõ ràng, tất cả đều đẹp đến hoàn hảo! Chắc chắn rồi đây con bé sẽ trở thành một nhạc công vĩ đại cho mà xem!”
Choàng tỉnh dậy trong mồ hôi lạnh vì sợ hãi, người nhạc công nhận ra rằng, may mắn thay, tất cả đó chỉ là một giấc mơ – một cơn ác mộng điên rồ! “Tất nhiên rồi!”, ông tự trấn an bản thân, “làm gì có xã hội nào độc ác đến mức bóp chết một trong những hình thái nghệ thuật đẹp và ý nghĩa nhất của con người thành một thứ ngớ ngẩn và vô nghĩa lý đến thế! Không một nền văn hóa nào lại có thể tàn nhẫn đến độ tước đoạt đi của trẻ em một phương cách tự nhiên nhất, tuyệt vời nhất để thăng hoa, để thỏa mãn và thể hiện cảm xúc của bản thân như vậy! Thật lố bịch, quá sức lố bịch!”
Cùng lúc ấy, cách đó vài con phố, người họa sĩ của thị trấn cũng vừa choàng tỉnh khỏi một giấc mộng kinh hoàng tương tự…
Tôi kinh ngạc nhận ra mình đang ở trong một căn phòng học hoàn toàn bình thường – không giá vẽ, không ống mực, không có một thứ gì dùng để vẽ. “Ồ, ở đây chúng tôi không thực sự vẽ, cái đó phải đợi đến khi các em học đến cấp III kia” – một giáo viên trả lời thắc mắc của tôi. “Ở lớp bảy, chủ yếu các em học về màu vẽ và bảng pha màu”. Rồi họ đưa tôi xem một tờ phiếu bài tập của học sinh. Trên mặt giấy là những ô màu, bên dưới là những dòng trống, và các học sinh được yêu cầu điền vào đó tên của màu sắc trong những ô tương ứng bên trên. “Em thích môn Mỹ thuật lắm”, một học sinh hào hứng, “chỉ cần làm theo hướng dẫn là xong. Dễ nhất luôn!”.
Sau giờ học, tôi tìm đến nói chuyện với giảng viên. “Vậy các học sinh của anh không được thực sự vẽ gì hay sao?”, tôi hỏi. “Có chứ, sang năm các em sẽ được học lớp Dự bị bộ môn Vẽ-theo-số. Nó sẽ chuẩn bị cho các em kiến thức nền tảng để theo học các phân môn Vẽ-theo-số cao hơn trong bậc phổ thông. Sau đó, khi vào đời, các em sẽ có khả năng áp dụng những kiến thức được học bây giờ vào thực tế – nhúng cọ vào sơn, quét màu, lau khô, mấy thứ đại loại thế. Tất nhiên chúng tôi cũng theo dõi rất sát sao năng lực của học sinh. Những họa sĩ giỏi nhất – những em nắm vững nhất kiến thức về cọ vẽ, màu vẽ, giá vẽ – sẽ được thực sự vẽ sớm hơn, tất nhiên; nhiều em thậm chí đã có thể tự tin đăng ký lớp Dự Bị Đại Học để tích lũy tín chỉ cho đại học ngay từ bây giờ. Nhưng chủ yếu chúng tôi chỉ cố giúp các em có một hiểu biết căn bản nhất về hội họa, để sau này khi ra ngoài đời, nhỡ có lúc phải sơn lại căn bếp hay quét vôi lại mảng tường trước nhà, các em cũng không đến mức phải bỡ ngỡ.”
“Ừm, các lớp học ở phổ thông mà anh nhắc đến lúc nãy, nó là…”
“Ý anh là các lớp Vẽ-theo-số? Gần đây số lượng học sinh đăng ký học những môn đó đang tăng đột biến đấy nhé. Tôi nghĩ chúng chủ yếu đến từ các bậc cha mẹ muốn đảm bảo cho con mình sẽ vào được một trường đại học tốt. Không có gì đảm bảo cho các thí sinh tương lai tốt hơn một chứng chỉ loại giỏi môn Vẽ-theo-số trong học bạ đâu!”
“Sao các trường đại học lại đi quan tâm đến việc thí sinh của mình có biết tô màu vào đúng ô hay không?
“Ừ thì, anh biết đấy, nó cho thấy là thí sinh có một tư duy logic… vả lại nếu các em muốn được học những chuyên ngành về mỹ thuật như thiết kế thời trang hay trang trí nội thất; chẳng phải sẽ tốt hơn nếu ngay từ bậc phổ thông các em đã có thể đáp ứng đủ những yêu cầu cơ bản về hội họa hay sao?”
“Tôi hiểu rồi. Thế bao giờ thì các học sinh được vẽ tự do, trên một tấm toan trắng?”
“Anh nói cứ y như một ông giáo sư đã từng dạy tôi hồi xưa ấy! Lúc nào cũng rao giảng về việc hội họa là phải thể hiện bản thân, rồi thể hiện cảm xúc rồi các thứ này nọ… toàn những thứ huyễn hoặc, trừu tượng đâu đâu ấy! Tôi á, tôi cũng có một bằng đại học về hội họa đấy, nhưng chẳng mấy khi tôi làm việc với một tấm toan trắng tinh không có gì cả. Tôi chỉ hay dùng những bộ dụng cụ Vẽ-theo-số được nhà trường cấp là chủ yếu thôi.”
* * *
Đáng buồn thay, hệ thống giáo dục toán của chúng ta hiện nay đang giống chính xác như những cơn ác mộng kinh khủng trên. Trên thực tế, nếu bạn bảo tôi phải thiết kế ra một hệ thống hoàn hảo với mục đích tối thượng là hủy hoại hoàn toàn trí tò mò và tình yêu với việc tự phát hiện ra những quy luật của riêng mình ở trẻ em, tôi chắc chắn sẽ không thể làm tốt hơn những gì đang được làm hiện nay – Tôi chỉ đơn giản là không có đủ trí tưởng tượng để có thể nghĩ ra hàng đống những ý tưởng quá sức tàn nhẫn và vô nghĩa lý, như những cái đang tạo nên nền giáo dục toán học ngày nay!
Ai cũng biết là có gì đó không ổn ở đây. Các quan chức chính phủ nói “Chúng ta cần những tiêu chuẩn khắt khe hơn!”. Các nhà trường thì nói “Chúng ta cần thêm tiền và trang thiết bị hiện đại hơn!”. Các nhà giáo dục nói một kiểu, và các thầy cô lại nói một kiểu khác nữa. Và tất cả đều sai. Những người duy nhất thực sự hiểu chuyện gì đang xảy ra lại là những người luôn bị đổ lỗi nhiều nhất, và ít được lắng nghe nhất: các học sinh. Các em nói: “Giờ Toán nào cũng chán òm!”. Và các em đã nói hoàn toàn chính xác!
* * *
Toán học và văn hóa
Đầu tiên chúng ta cần phải hiểu rằng, Toán học cũng là một môn nghệ thuật. Sự khác biệt giữa toán và các loại nghệ thuật khác, như âm nhạc hay hội họa, đấy là nền văn hóa của chúng ta không nhìn nhận nó như thế. Ai cũng biết rằng các nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ sáng tạo nên những tác phẩm nghệ thuật, và tự thể hiện mình qua chất liệu của ngôn ngữ, màu sắc hoặc âm thanh. Trên thực tế, xã hội còn khá là nhân nhượng với từ “sáng tạo”: đến cả những kiến trúc sư, đầu bếp, thậm chí cả đạo diễn phim truyền hình cũng có thể được coi là những “nghệ sĩ”. Vậy tại sao các nhà toán học lại không thể được thừa nhận như vậy?
Một phần của vấn đề là ở chỗ, hầu như không ai hiểu một cách thực sự các nhà toán học làm gì.  Quan niệm thường thấy nhất của số đông có vẻ là các nhà toán học, theo một cách nào đấy, làm những việc liên quan đến khoa học – có thể họ giúp các nhà khoa học nghĩ ra những công thức và thuật toán; hay nhập những con số rất lớn vào máy tính vì một lý do gì đấy. Không cần hỏi cũng biết, nếu có một ngày thế giới phải chia thành hai nhóm: nhóm “những người mơ mộng lãng mạn” và nhóm “những người tư duy lý trí”; chắc chắn hầu hết mọi người sẽ xếp các nhà toán học vào dạng thứ hai: nhóm “những người tư duy lý trí”.
Tuy vậy, thực tế không có thứ gì thơ mộng, lãng mạn; không thứ gì cấp tiến, cách mạng; cũng không thứ gì có thể khiến người ta mê đắm, ảo mị như toán học. Nó ẩn chứa nhiều những kinh ngạc và bất ngờ không hề thua kém vũ trụ học [1] hay vật lý (các nhà toán học đã mường tượngra khái niệm hố đen từ rất lâu trước khi các nhà thiên văn thực sự tìm thấy một hố đen); và cho người ta nhiều tự do để thể hiện mình hơn thơ, họa, nhạc rất nhiều (những hình thái nghệ thuật này luôn bị phụ thuộc vào các nguyên liệu vật chất, hoặc có tính hạn định như ngôn ngữ, màu sắc, âm thanh). Toán học là hình thức nghệ thuật thuần khiết nhất, cũng là hình thức nghệ thuật bị hiểu sai nhiều nhất.
Bởi vậy xin hãy để tôi được giải thích toán học là gì, và các nhà toán học thực sự làm gì. Tôi nghĩ mình không thể làm tốt hơn lời miêu tả thực xác đáng sau đây của nhà toán học người Anh G.H. Hardy:
“Một nhà toán học, cũng như một họa sĩ hay nhà thơ, là một người tìm ra các quy luật. Nếu những quy luật của anh ta có bền vững hơn của một họa sĩ hay một nhà thơ, thì đó là vì chúng là quy luật của những ý tưởng.”
Vậy các nhà toán học ngồi một chỗ, tìm ra quy luật của những ý tưởng. Nhưng loại quy luật như thế nào? Loại ý tưởng như thế nào? Ý tưởng về loài tê giác chăng? Không, cái đó dành cho các nhà sinh vật học. Hay ý tưởng về ngôn ngữ và các nền văn hóa? Không, hầu hết không phải là vậy. Tất cả những thứ đó đều quá phức tạp so với sở thích của một người làm toán. Nếu có một thứ có thể coi là tư tưởng thẩm mỹ chung nhất cho toán học, thì đấy là: sự đơn giản chính là vẻ đẹp. Các nhà toán học ưa thích nghĩ đến những thứ đơn giản hết mức có thể, và thứ đơn giản nhất, chính là những nằm trong trí tưởng tượng của chúng ta.
Ví dụ, nếu tôi có hứng nghĩ về các hình khối – và thường thì tôi rất hay có hứng nghĩ về chúng – tôi sẽ hình dung về một tam giác bên trong một cái hộp chữ nhật như thế này:
lament-h1
Tôi sẽ tự hỏi: cái tam giác kia chiếm bao nhiêu phần của cái hộp chữ nhật? Hai phần ba, có lẽ? Điều quan trọng cần nhớ ở đây là không phải tôi đang nói về cái hình vẽ trên giấy về một tam giác bên trong một hình chữ nhật. Cũng không phải tôi đang thắc mắc về một kết cấu kim loại hình tam giác trong một chi tiết dầm đỡ của một cây cầu nào đó. Hoàn toàn không có một mục đích thiết thực nào ẩn giấu trong câu hỏi này cả. Tôi chỉ đang chơi đùa vậy thôi. Đấy mới là toán – tự thắc mắc, tự chơi đùa với trí tưởng tượng của chính mình. Ngay từ đầu, cái câu hỏi “hình tam giác chiếm bao nhiêu phần của hình chữ nhật” kia đã chẳng thể áp dụng nổi với bất cứ vật thể có thực nào. Kể cả những tam giác được tạo tác một cách tinh xảo, chính xác nhất; cũng vẫn là một mớ hỗn độn quá phức tạp của hàng đống những nguyên tử và phân tử, nhảy từ bên này qua bên kia, dao động qua lại liên tục trong từng tích tắc. Đấy là, trừ khi bạn chỉ đang nói đến một hệ đo lường theo kiểu xấp xỉ. Lúc đấy thì lại là vấn đề của mỹ thuật mất rồi. Nó không hề đơn giản, và do đó, nó là một câu hỏi rất gây ức chế, bởi phụ thuộc quá nhiều vào đủ thứ chi tiết của thế giới thực. Cứ để nó cho các nhà khoa học cho xong. Câu hỏi toán học ở đây là về một tam giác tưởng tượng, bên trong một hình chữ nhật tưởng tượng. Các đường biên của chúng đều thẳng một cách tuyệt đối, bởi vì tôi muốn thế – đây mới là thứ tôi thực sự thích ở toán: mọi thứ đều có đúng những đặc tính như bạn muốn nó có. Bạn có vô hạn những lựa chọn, không hề có một thực tại nào cản trở bạn hết.
Mặt khác, một khi bạn đã quyết định các đặc tính cho đối tượng của mình (ví dụ, tôi có thể cho tam giác của mình có tính đối xứng, hoặc không); thì từ đó trở đi sáng tạo của bạn sẽ tự vận hành theo những nguyên tắc của riêng nó, bất kể bạn có muốn hay không. Đây mới là điều kỳ diệu nhất của những sáng tạo tưởng tượng này: chúng trả lời lại bạn! Có một con số đâu đó ngoài kia cho câu hỏi của tôi, nó có thể là hai phần ba, cũng có thể không, nhưng tôi không được phép quyết định nó là gì. Tôi sẽ phải tìm ra nó.
Vậy là chúng ta được thỏa sức nghĩ ra bất cứ thứ gì ta muốn, sau đó tạo ra các quy luật và đặt các câu hỏi về chúng. Nhưng làm thế nào ta có thể trả lời cho những câu hỏi kiểu này? Toán không giống như các môn khoa học: không có ống nghiệm, bình pha các kiểu để tôi có thể làm các thí nghiệm để trả lời cho câu hỏi về một thứ chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của tôi. Cách duy nhất để tìm ra được sự thật về một thứ tưởng tượng, đấy là phải dùng chính trí tưởng tượng, và đấy không phải là một công việc dễ dàng gì đâu.
Về trường hợp cái tam giác trong một hình chữ nhật, tôi có thấy một phương án rất đẹp và đơn giản thế này:
lament-h2
Nếu tôi “chém” một nhát dọc cái tam giác thế này, tôi có thể thấy rõ: mỗi nửa bị chém đều được một cạnh bên của tam giác chia đôi thành hai phần bằng nhau. Thế tức là phần không gian bên trong và phần không gian bên ngoài tam giác ở hai bên là bằng nhau. Tức là cái tam giác này chiếm đúng một nửa diện tích của hình chữ nhật!
Đây mới thực sự là một bài toán. Ví dụ ngắn vừa rồi của tôi chính là đại diện cho nghệ thuật của một nhà toán học: đặt những câu hỏi đơn giản mà sáng suốt về một đối tượng tưởng tượng của riêng mình, và tạo ra được những câu trả lời thích đáng và thỏa mãn đến tuyệt vời cho chúng. Thực sự không có gì tuyệt vời như cảm giác được tung hoành trong vương quốc của những ý tưởng: nó hấp dẫn, nó lôi cuốn người ta, và nhất là, nó hoàn toàn miễn phí!
Nhưng ý tưởng cho câu trả lời đó của tôi đến từ đâu? Sao tôi lại biết phải cần kẻ thêm đường kẻ đó? Thế tại sao một họa sĩ lại biết cần nên đặt bút vào chỗ nào trước? Cảm hứng bất chợt, kinh nghiệm, thử đi thử lại nhiều lần, ăn may. Đây chính là nét nghệ thuật của nó: tạo ra những áng tuyệt thi của suy nghĩ, những bản xô-nát của ý tưởng. Có một thứ gì đó có sức lôi cuốn, sức thay đổi rất mãnh liệt ở thứ nghệ thuật này. Mối quan hệ giữa hình tam giác và hình chữ nhật kia vốn là một điều bí ẩn, rồi xuất hiện thêm một đường kẻ, và tất cả mọi thứ bỗng đột nhiên trở nên sáng rõ. Chỉ trong phút chốc, tôi đã nhìn thấy được một điều mà lúc trước tôi không thể thấy. Bằng một cách diệu kỳ nào đó, tôi đã tạo ra được một vẻ đẹp sâu sắc chẳng từ một cái gì cả, và trong cùng lúc đó tự thay đổi chính bản thân tôi. Chẳng phải nghệ thuật chính là thế hay sao?
Đó là lý do tại sao tôi đau khổ biết bao khi nhìn những gì đang được làm với toán ở trường học. Từ một chuyến phiêu lưu đầy hấp dẫn và lôi cuốn của trí tưởng tượng, toán học đã bị rút lại thành một mớ những “định luật” để học sinh ghi nhớ và một đống các “bước”, quy trình để học sinh làm theo. Thay vì được tự mình đặt ra một câu hỏi đơn giản và tự nhiên về hai hình khối, được tự mình trải qua một quy trình tuyệt vời và đầy hưng phấn của khám phá và sáng tạo, các em học sinh lại được “chiêu đãi” một thứ như thế này đây:
Công thức tính diện tích tam giác:
S = ½ b.h lament-h3
“Diện tích một tam giác bằng một phần hai tích của độ dài cạnh đáy và chiều cao của nó”. Học sinh được yêu cầu học thuộc công thức này, sau đó “áp dụng” lại nó, lặp đi lặp lại nhiều lần trong các “bài tập”. Còn đâu sự phấn khích, sự hứng khởi, thậm chí cả những phút khổ sở, bế tắc của quá trình sáng tạo. Ở đây thậm chí còn không có một vấn đề nào để giải quyết nữa. Câu hỏi đã được hỏi và được trả lời cùng một lúc. Chẳng còn lại gì cho các học sinh thực sự làm cả.
Hãy để tôi nói cho rõ thứ tôi đang công kích. Không phải việc các công thức, hay việc ghi nhớ những quy tắc thú vị là có gì sai trái. Trong tình huống này phải có nó ở đó, cũng giống như học ngoại ngữ thì phải nhớ từ vựng vậy – nó giúp học sinh tạo ra được những tác phẩm hay hơn, giàu có, phong phú hơn. Nhưng thứ quan trọng nhất ở đây là ý tưởng “chém” đôi cái tam giác ra bằng một đường kẻ, và việc từ một đường kẻ đó có thể dẫn ra thêm bao nhiêu ý tưởng và những đột phá mới trong sáng tạo để từ đó có thể giải quyết được những vấn đề khác – những thứ mà chỉ một dòng định lý không thể nào mang lại cho ta được.
Bằng cách bỏ đi hoàn toàn quá trình sáng tạo và chỉ để lại mỗi kết quả của quá trình sáng tạo ấy, bạn vô hình chung đã tự đảm bảo chắc chắn rằng sẽ không có ai có thể thực sự hiểu rõ vấn đề. Giống như là nói với tôi Michelangelo [2] đã tạo ra một tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp, nhưng lại không cho tôi được thấy tác phẩm đó hình dáng ra sao. Thế thì làm thế nào nó có thể khơi gợi cảm hứng cho tôi hay làm tôi rung động được? (và trong thực tế với môn toán, sự việc còn tệ hơn nữa kia – ít nhất trong cái ví dụ trên đây, tôi vẫn còn hiểu rằng thứ tôi đang không được thưởng thức là một tác phẩm nghệ thuật ).
Bằng cách tập trung vào câu hỏi cái gì; mà xa rời câu hỏi tại sao; toán học đã bị chúng ta rút lại chỉ còn là một cái vỏ trống rỗng. Nghệ thuật của nó không nằm trong “định lý”, nó nằm trong cách giải thích, cách lập luận. Chính sự lập luận mới cho định lý nội dung của nó, chính lập luận mới quyết định câu nói được phát biểu, và ý nghĩa thực sự của câu nói đó. Nếu bạn từ chối cho học sinh của mình tham gia vào các hoạt động này – được tìm ra vấn đề của riêng chúng, được đưa ra những suy đoán và khám phá của riêng chúng, được sai, được vò đầu bứt tai vì không tìm ra cách giải, được bỗng dưng tìm thấy cảm hứng bất ngờ, và được đưa ra những cách kiến giải và chứng cứ của riêng chúng – thì tức là bạn đã tước đi khỏi chúng toán học đích thực. Vậy nên không, tôi không phải đang than phiền về sự có mặt của công thức và định luật trong các lớp học toán. Tôi đang than phiền về sự thiếu vắng của toán học trong các lớp học toán.
(còn nữa…)
Người dịch: Nguyễn Tiến Đạt.

[1] Nguyên bản: “cosmology”; một ngành khoa học nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của vũ trụ.
[2] Michelangelo di Lodovico Buonarroti Simoni (6 tháng 3 năm 1475 –18 tháng 2 năm 1564), thường được gọi là Michelangelo, là một hoạ sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư, nhà thơ và kỹ sư thời kỳ Phục hưng Ý. Dù ít có những đột phá bên ngoài nghệ thuật, sự uyên bác của ông trong các lĩnh vực đạt tới tầm mức khiến ông được coi là một người xứng đáng với danh hiệu nhân vật thời Phục hưng, cùng với đối thủ cũng là người bạn là Leonardo da Vinci. (Wikipedia)

Sunday, August 11, 2013

(17) Phân tích, dự báo kinh tế vĩ mô đến năm 2010

Bài viết cũ của tôi năm 2004:
Phân tích, dự báo một số khả năng phát triển kinh tế đến năm 2010
 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Adam Smith (1776) "Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations" - Điều tra về bản chất và các nguyên nhân thịnh vượng của các quốc gia. Eds. R.H. Cambell and A.S. Skinner (1979), Vol 1.
Amsden Alice H. (1989) "Asia's Next Giant: South Korea and Late Industrialization" New York, Oxford University Press.
Amsden Alice H. (1991) "Diffusion of Development: The Late Industrializing Model and Greater East Asia", American Economic Review 81(2): 282-86
Arnold C. Haberger (1983) "The Cost - Benefit Approach to Development Economics", World Development, Vol. 11, no.10 (1983), pp 864-866.
Arthur Lewis W. (1954) "Economic Development with Unlimited Supplies of Labour", The Manchester School, May, 1954, p.139.
Arthur Lewis W. (1955) "The Theory of Economic Growth", p.208
Areskoug K. (1973) "Foreign Capital Utilization and Economic Policies in Developing Countries" Review of Economics and Statistics, Vol 55, No. 2, May 1973,
Aschauer D. A. (1989a) "Is Public Expenditure Productive ?", Journal of Monetary Economics 23(2)
Aschauer D. A. (1989b) "Does Public Capital Crowd Out Private Capital ?", Journal of Monetary Economics 24(2)
Blejer M. I. và Khan M. S. (1984) "Government Policy and Private Investment in Developing Countries", IMF Staff Papers, Vol. 31.
Boone P. (1994) "The Impact of Foreign Aid on Saving and Growth", London School of Economics, mimeo
Boone P. (1996) "Politics and the Effectiveness of Foreign Aid", European Economic Review, 40
Boyer R và Didier M. (2000) "Đổi mới và tăng trưởng: thúc đẩy tăng trưởng năng động và bền vững thông qua đổi mới", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2000.
Buffie E. F. (1993) "Direct Foreign Investment, Crowding out, and Underemployment in the Dualistic Economy", Oxford Economic Papers, Vol. 45
Burnside C. và Dollar D. (1997) "Aid, Policies and Growth", Policy Research Working Paper, No 1777, June 1997.
Carroll C.D. and Weil D.N. (1994) "Saving and Growth: A Reinterpretation", Carnegie Conference Series on Public Policy 40 (June)
Chenery H. B. and Strout A. M. (1966) "Foreign Assistance and Ecopnomic Development", American Economic Review, Vol 56 (1966)
Chow Percy C.Y. (2000) "The Asian Financial Crisis and Its Aftermath"; Flatters Frank (2000) "Thailand, the International Monetary Fund, and the Financial Crisis: First In, Fast Out ?", đều nằm trong sách: Chow Percy C.Y. and Gill Bates, eds, "Weathering the Storm", Washington, D.C. Brookings Institution Press
Chenery H.B. and Strout A.M. (1966) "Foreign Assistance and Economic Development", American Economic Review, Vol 56, No.4, Part I, September 1966
Chow Percy C.Y. (2000) "The Asian Financial Crisis and Its Aftermath"; Flatters Frank (2000) "Thailand, the International Monetary Fund, and the Financial Crisis: First In, Fast Out ?", đều nằm trong sách: Chow Percy C.Y. and Gill Bates, eds, "Weathering the Storm", Washington, D.C. Brookings Institution Press.
Cohen D. và Debonneil M. (2000) "Nội dung của nền kinh tế mới", trong sách "Nền kinh tế mới", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2001.
Cohen D. (2000) "Các quốc gia nghèo khó trong một thế giới thịnh vượng", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2001.
Collins S.M. (1991) "Saving Behavior in Ten Developing Countries", trong Douglas B. và Shoven J.B. eds. National Saving and Economic Performance, University of Chicago Press.
Crafts Nicolas (1998) "East Asian Growth Before and After the Crisis", IMF Staff Papers 46(2), pp 139-66.
De Gregorio J. và Guidotti P. E. (1995) "Financial Development and Economic Growth", World Development, Vol 23, No 3.
De Melo J. (1988) "The Macroeconomic E ffects of Foreign Aid: I ssues and Evidence"; in Jepma C. eds "North South Cooperation in Restrospect and Prospect", London Routledge.
De Long J. B. and Summers L. H. (1993) "How Strongly Do Developing Countries Benefit from Equipment Investment ?" Journal of Monetary Economics 32(3).
Dillar D. (1963) “The Economics of J. M. Keynes”, London, Crosby and Son Ltd.
Domar Evsey D. (1947) "Expansion and Employment", American Economic Review, March 1947.
Domar Evsey D. (1957) "Essays in the Theory of Economic Growth", New York, O xford University Press, 1957.
Dooley M., Frankel J. và Mathieson D. (1987) "International Capital Mobility: What Do the Saving - Investment Correlations Tell Us ?" IMF Staffs Papers, Vol 43, Washington DC, USA.
Dowling J.M. và Hiemenz U. (1983) "Aids, Savings and Growth in Asian Region", The Developing Economies, Vol 21, No1, March 1983.
Edwards S. (1987) “Devaluation, Aggregate Output and Income Distribution”, University of California, November.
Feldstein M. (1994) "Tax Policy and International Capital Flows", NBER Working Papers.
Feldstein M. và Bacchetta P. (1991) "National Saving and International Investment", trong Douglas B. và Shoven J.B. eds. National Saving and Economic Performance, University of Chicago Press.
Feldstein M. và Horioka C. (1980) "Domestic Savings and International Capital Flows", Economic Journal, Vol 90 (1980), pp. 314-329.
Felipe Jesus (1999) "Total Factor Productivity Growth in East Asia: A Critical Survey", Journal of Development Studies 35(Avril), pp 1-41.
Frankel J. A. (1992) "Measuring International Capital Mobility: A Review", American Economic Review, 82(2)
Frey B.S. and Schneider F. (1986) "Competing Models of International Lending Activity", Journal of Development Economics, 20
Fry J. Maxwell (1984) "Domestic Resource Mobilization through Financial Development" Volume II, Appendices, Manila, ADB, Mimeographed.
Fry J. Maxwell (1988) "Money, Interest, and Banking in Economic Development", The Johns Hopkins University Press.
Furman  Jason and Joseph E. Stiglitz (1998) "Economic Crises: Evidence and Insights from East Asia", Brookings Papers on Economic Activity 1998 (2), pp 1-114
Greenwald (1987) "Dictionary of Modern Economics", McGraw-Hill Book Company.
Gillis M., Perkins D.H... (1987) " Kinh tế học của sự Phát triển", Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW, 1990.
Gordon H. và Sellon J. eds. Changing Capital Markets: Implications for Monetary Policy, Federal Reserve Bank of Kansas
Go E. (1983) "The Impact of Foreign Capital Inflow on Investment and Economic Growth in Developing Asia", Economic Office Report Series, no 33, ADB, May 1985.
Griffin K.G. (1970) "Foreign Capital, Domestic Saving and Development", Oxford Bulletin of Economics and Statistics, No.32, May 1970
Greene J. and Villanueva D. (1991) "Private Investment in Developing Countries: An Empirical Analysis", IMF Staffs Papers, Vol 38, Washington DC, USA.
Gupta K.C. và I slam M.A. (1983) "Foreign Capital, Savings and Growth", Dordrecht, Holland, D.Reidel Publishing Company.
Harrod R. F. (1939) "Essay in Dynamic Theory", Economic Journal, March 1939
Hellman T.F., Kevin C. Murdock, and Joseph E. Stiglitz (2000)
Helleiner G. (1987) "Direct Foreign Investment and Manufacturing for Export: A Review of Issues", in Cable V. and Persaud B. eds "Developing with Foreign Investment", London: Croom Helm.
Hirschman Albert O.  (1958) "The Strategy of Economic Developpent".
Hội đồng Phân tích Kinh tế trực thuộc Thủ tướng Pháp (1998, 2000) "Báo cáo năm 1998" do M. Didier và R. Boyer soạn, "Báo cáo năm 2000" do E. Cohen và J. H. Lorenzi soạn.
Hollis Chenery (1986) "Growth and Transformation" in Hollis Chenery, Sherman Robinson and Moshe Syrquin (1986) "Industrialization and Growth", Oxford University Press, New  York.
Hughes H and Dorranece G. S. (1987) "Foreign Investment in East Asia", in Cable V. and Persaud B. eds "Developing with Foreign Investment", London: Croom Helm.
Husain I. and Jun K. (1992) "Capital Flows to South A sian and ASEAN Countries: Trends, Determinants and Policy Implications" World Bank Working Papers, 842, Washington D.C.
Ito Takatoshi (2001) "Tăng trưởng, khủng hoảng và tương lai phục hồi kinh tế ở Đông á", trong sách: "Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông á", J. E. Stiglitz và S. Yusuf biên tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2002.
Ito Takatoshi and O rii Keisuke (2000) "Changes in Industrial Structure in East Asian Countries: Common Characteristic and Idiosyncratic Factors" in The East Asian Economic Growth with Industrial Structural Changes, Chapter 1, Economic Planning Agency, Tokyo, Japan
Jensen K. (1995) "The Macroeconomic Effects of Direct Foreign Investment: The Case of Thailand", World Development 23 (2)
Kaldor N. (1957) "A Model of Economic Growth", Economic Journal 67(268)
Keynes J. M. (1936) “General Theory
Keynes J. M. (1952) “Essays in Persuasian”, London, Rupert Hart-Davis.
Khan M. S. and Reinhart C. M. (1990) "Private Investment and Economic Growth in Developing Countries", World Development 18 (1)
Kim Jong Il and Lawrence Lau (1994) "The Sources of Economic Growth of the East Asian Newly Industralized Countries", Journal of Japanese and International Economies 8(3).
Krugman P. và Taylor L. (1978) “Contractionary Effects of Devaluation”, Journal of International Economics (Amsterdam), Vol. 8, August
Lee J.S và Rana P. (1986) "Effects of Foreign Capital Inflows on Developing Countries in Asia" Economic Staffs Papers, No 30, Chapter IV, ADB, Avril 1986.
Lessard D. R (1989) "Beyond the Debt Crisis: Alternative Forms of Financing Growth", Working Papers of the Alfred P. Sloane School of Management, Massachusetts Institute of Technology, February 1989.
Levis C. Solmon (1994) "Economics", Addison-Wesley Publishing Compagny, USA and Canada.
Levine R. and Renelt D. (1992) "A Sensitivity Analysis of Cross Country Growth Regressions", American Economic Review 84(2)
Lizondo J. S. và Montiel P. J. (19..) “Contractionary Devaluation in Developing Countries - An Analytical Overview”, IMF Staff Papers.
Lorenzi J.H. (1995) "Le choc du progres technique" Economica
Lorenzi J.H. (2001) "Kinh tế và cải tiến kỹ thuật", trong sách: Khoa học, công nghệ và phát triển kinh tế, do Michaud Y. chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002
Lucas R. E. (1993) "On the Determinants of FDI: Evidence from East and Southeast Asia", World Development 21 (3)
Maddison A. "Economie Mondiale 1820-1992", Paris, OCDE, 1995
Maizel A. và Nissanke M. (1984) "Motivation for Aid to Developing Countries", World Development 12 (9)
Mankiw N., Romer D, and Weil D. (1992) " A Contribution to the Empirics of Economic Growth", Quarterly Journal of Economics, 107(2)
Marx K. (1865) "Capital", tập 1
Matsuyama Kiminori (1992) "The Market Size, Entrepreneurship and the Big Push", Journal of the Japanese and International Economies (6), pp 347-64
McKinlay R. D. và Little R. (1979) "The US Aid Relationship: A Test of the Recepient Need and Donor Interest Models", Political Studies 27 (2)
McKinnon Ronald I (1991) "The Order of Economic Liberalization: Financial Control in the Transition to a Market Economy", Baltimore, Md. Johns Hopkins University Press.
Meade J. E. (1982) "A Neo-Classical Theory of Economic Growth", London: George Allen and Unwin Ltd, Edition 1982.
Misra S. K. and Puri V. K. (1988) “Development and Planning”, Himalaya Publishing House, Delhi, Avril 1988
Murphy K.M., Shleifer A., và Vishny R.W. (1989a) "Industrialization and the Big Push", Journal of Political Economy 97 (5, October), pp 1003-26
Murphy K.M., Shleifer A., và Vishny R.W. (1989b), "Income Distribution, Market Size, and Industrialization", Quarterly Journal of Economics 104(3), pp 537-64.
Mussa M. L. và Goldstein M. (1994) "The Integration of World Capital Markets", trong
Newlyn W. T. (1977) "The Financing of Economic Development", Oxford: Clarendon Press.
Obstfeld M. (1986) "Capital Mobility in the World Economy: Theory and Measurement", Carnegie Conference Series on Public Policy, 24 (Spring)
Obstfeld M. (1994) "International Capital Mobility in the 1990s", International Finance Discussion Paper 472, Board of Governors, Federal Reserve System, Washington DC.
Papanek G.F (1972) "Aid, Foreign Private Investment, Savings and Growth in Less Developed Countries", Journal of Political Economy, Vol 81, No1, 1-2/1972.
Pass C. and Lowes B. (1995) "Dictionary of Economics", Collins, 1995
Polak Jacques J. (1989) "Financial Policies and Development", Paris, OECD, 1989.
Phùng Xuân Nhạ (2000) Các nguồn vốn nước ngoài ở Việt Nam: Thực trạng và những khuyến nghị chính sách
Trương Bá Tuấn và Nguyễn Thu Thuỷ (2000) "Những vấn đề về quản lý nợ ở Việt Nam 1991-2000
Ragnar Nurke (1953) "Problems of Capital Formation in Underdeveloped Countries". Oxford University Press, New  York.
Rana B.P. and Dowling J.M (1988) "The Impact of Foreign Capital on Economic Growth: Evidence from Asian Developing Countries", The Developing Economies, Vol 24, No.01, March 1988
Rana B.P. (1988) "Recent Trends and Issues on Foreign Direct Investment in Asian and Pacific Developing Countries", Economic Staffs Papers, No.41, ADB, March 1988
Rana B.P. and Dowling J.M (1990) "Foreign Capital and Asian Economic Growth", Asian Development Review, Vol 8, No.02, Asian Development Bank
Robinson J. (1962) "Essays in the Theory of Economic Growth", London, Macmillan
Rosenstein Rodan P.N. (1961) "International Aid for Underdeveloped Countries", Review of Economics and Statistics, Vol 43, No. 2, May 1961,
Rostow W.W. (1960) "The Stages of Economic Growth", London: Cambridge University Press, 1992
Sachs J. D. và Warner A. (1995) "Economic Reform and the Process of Global Intergration" Brookings Papers on Economic Activity (1).
Schmidt-Hebbel K. and Serven L. (1996) "Saving and Investment: Paradigms, Puzzles, Policies", The WB Research Observer, Vol. 11, No. 1, February 1996.
Schumpeter J. (1911) "Theorie de l'Evolution Economique - Recherche sur le Profit, le Credit, l'Interet et le Cycle de la Conjoncture", bản dịch tiếng Pháp, 1983, Dalloz, Paris.
Schumpeter J. (1934) "The Theory of Economic Development", Cambridge, Mass. Harvard University Press.
Sen A.K. (1983) "Development: Which Way Now ?", Economic Journal, December 1983.
Serven L. và Solimano A. (1992) “Private Investment and Macroeconomic Adjustment - A Survey” World Bank Research Observers, Vol. 7, N. 1.
Serven L. và Solimano A. (1999) “Private Investment and Macroeconomic Adjustment - An Overview” World Bank Working Papers, 9/1999.
Shirokov G. K. (1973) "Industrialization of India", Progress Publishers, Moscow.
Asian Development Outlook 1999-2004, Asian Development Bank.
Bruno, Michael  (1992) , “Stabilization and Reform in Eastern Europe”, IMF Staff Papers,  December.
Dodsworth, John R., Erich Spitaller, Michael Braulke, Keon Hyok Lee, Kenneth Miranda, Christian Mulder, Hisanobu Shishido, and Krishna Srinivasan (1996): “Vietnam: Transition to A Market Economy”, IMF Occasional Paper No. 135, March,  1996.
Dodsworth, John R., Ajai Chopra, Chi Do Pham, and Hisanobu Shishido  (1996): “Macroeconomic Experiences of the Transition Economies in Indochina”, IMF Working Paper WP/96/112.
 Ljunggren, Borje  (ed.)  (1993), “The Challenge of Reform in Indochina”, Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press.
International Monetary Fund, Vietnam: Recent Economic Developments, various IMF reports 1989-2001.
“Vietnam 2000”,  Statistical Publishing House (1998) , Vietnam Exhibition-Fair Center.
Choudry, Nurun N (1991) “Collection lags, fiscal revenue and inflationnary financing: Empirical evidence and analysis”, Researche report of IMF.
Ban Điều khiển học, Phủ Thủ tướng Việt Nam (1976) "Mô hình kinh tế Việt Nam", tài liệu in roneo, Hà nội, tháng 9/1976.
Lê Việt Đức và các cộng sự (2001) "Mô hình quý cho nền kinh tế nước ta giai đoạn 1996-2000"; báo cáo đề tài khoa học năm 2001.
Nguyễn Văn Quỳ, Lê Việt Đức, Đàm Anh Nhi (1984) "Xây dựng mô hình kinh tế lượng phân tích tình hình phát triển kinh tế giai đoạn 1976-1983", Tạp chí Thống kê, số 11 năm 1984.
Nguyễn Văn Quỳ, Lê Hồng Nhật, Lê Việt Đức, Nguyễn Công Hoá (1987) "Thử nghiệm xây dựng mô hình kinh tế lượng cho nền kinh tế Việt Nam", Chuyên san các báo cáo tại Hội thảo Pháp - Việt về mô hình hoá kinh tế tại Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương 12/1987.
Nguyễn Văn Quỳ, Lê Việt Đức (1989) " Xây dựng mô hình kinh tế lượng để phân tích kinh tế, mô phỏng chính sách và dự báo phát triển", Tạp chí Thống kê, số 5 và 6 năm 1989, và các mô hình tiếp theo trong các năm 1990-1995 tại Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương.
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (1999) "Tiếp cận phân tích định lượng nền kinh tế Việt Nam: Khung khổ hạch toán tổng thể và mô hình kinh tế lượng vĩ mô dạng cấu trúc", Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Hà nội, tháng 12/1999. Đồng chủ biên: Võ Trí Thành và Rudolf Zwiner.
Lê Anh Sơn, Hoàng Minh Hải (1997) "Mô hình kinh tế lượng vĩ mô phục vụ dự báo ngắn hạn ở Việt Nam". Tài liệu Hội thảo của Dự án của Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư "Chuẩn bị cho một trung tâm dự báo kinh tế ở Việt Nam" do Quỹ Nippon tài trợ, Hà nội, tháng 12/1997.
Nguyễn Văn Quỳ và các tác giả khác (1995) "Thử nghiệm xây dựng một mô hình kinh tế lượng quý cho nền kinh tế Việt Nam", Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương.
Phan Văn Dĩnh (1990) "Thuế và cải cách thuế ở Việt Nam", Tài liệu của Bộ Tài chính Việt Nam.
Bruneau M. (1996) "Crises et Mutations des Agricultures et des Espaces Ruraux en Asie du Sud-Est", trong sách Bonnamour J "Agricultures et Campagnes dans le Monde", SEDES, 1996.
Tổng cục Thống kê, Vụ Hệ thống Tài khoản Quốc gia (2001) "Kinh tế Việt Nam trong những năm đổi mới qua các chỉ tiêu tổng hợp của hệ thống tài khoản quốc gia", Nhà xuất bản Thống kê, Hà nội, 2001.
Tổng cục Thống kê "Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam 10 năm 1991-2000, Nhà xuất bản Thống kê, Hà nội tháng 2/2001.
Lê Việt Đức, Trần Thị Thu Hằng (2001) "Công nghiệp Việt Nam - Những thành tựu và thách đố" trong sách "Đánh thức con rồng ngủ quên", Nhà xuất bản trẻ Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Trung tâm Kinh tế Châu á - Thái Bình Dương và Thời báo Kinh tế Sài gòn xuất bản. Tài liệu xuất bản trong khuôn khổ đề tài.
Phạm Đỗ Chí, Lê Việt Đức (2001) "Nhìn lại thập niên đổi mới: 1989-1999" trong sách "Đánh thức con rồng ngủ quên"; tài liệu xuất bản trong khuôn khổ đề tài.
Phạm Đỗ Chí, Lê Việt Đức (2001) "Tiếp tục lộ trình kinh tế thị trường: Năm 2000" trong sách "Đánh thức con rồng ngủ quên"; tài liệu xuất bản trong khuôn khổ đề tài.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (22/3/2001) "Yêu cầu một thoả thuận ba năm theo thể thức tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo cho Việt Nam".
Hagger A.J.(1977) "Inflation: Theory  and Policy", The Macmillan Press Ltd.
Tào Hữu Phùng, Nguyễn Công Nghiệp "Đổi mới Ngân sách Nhà nước", Nhà xuất bản Thống kê, 1995.
Lê Việt Đức (1994) "Hiện tượng đánh giá cao nội tệ và những hậu quả tiêu cực", Tạp chí Ngân hàng số 12-1994, trang 36-40.
Quỹ Tiền tệ quốc tế (10/2001) "World Economic Outlook - 10/2001"
Lê Việt Đức (1998) "Les origines de l'inflation au Việt Nam", Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Auvergne, Cộng hoà Pháp.
Rudiger Dornburch (1993) "Overvaluation and Trade Balance", The World Bank publication, 1993.
Lê Việt Đức và Trần Thị Thu Hằng (1999) "Về những khó khăn hiện nay của nền kinh tế nước ta và một số giải pháp", Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 6 (253), trang 3-22.
Mc Kinnon (1992) "Trình tự tự do hoá kinh tế - Quản lý tài chính trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường", chương 4: Các công cụ kìm hãm tài chính. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội, 1995.
Corden W. M. et Neary J.P. (1982) "Booming Sector and De-Industrialization in a Small Open Economy", Economic Journal, 92, pp. 825-848, United Kingdom.
Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1999) "Tổng quan về cạnh tranh công nghiệp Việt Nam", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.
Lê Việt Đức (1999) "Nới lỏng tiền tệ để chống thiểu phát", Thời báo kinh tế Việt Nam, số 63, 7/8/1999.
Solow R. M. (1956) "A Contribution to the Theory of Economic Growth", Quarterly Journal of Economics, February 1956, Reprinted in Amartya Sen (ed) "Growth Economics".
Solow R. M. (1957) "Technical Change and the Aggrigate Production Funtion", Review of Economics and Statistics, No 39, 1957
Stoneman C (1975) "Foreign Capital and Economic Growth" World Development, Vol.3, No.1, January, 1975.
Summers L. H. (1988) "Tax Policy and International Competitiveness" trong Frankel J. A. eds. International Aspects of Fiscal Policies, University of Chicago Press.
Taylor A. M. (1993) "The Rocky Road to Reform, Adjustment, Income Distribution and Growth in Developing Countries", Cambridge, The MIT Press.
Taylor A. M. (1994) "Domestic Saving and International Capital Flows Reconsidered", NBER Working Papers 4892, Cambridge,
Tesar L. L. và Werner I. M. (1992) "Home Bias and the Globalization of Securities Markets", NBER Working Papers 4218, Cambridge,
Trumbull W. N. and Wall H. J. (1994) "Estimating Aid - Allocation Criteria with Panel Data", Economic Journal, 104
United Nations (1999) "World Investment Report", 1999.
UN Economic and Social Council (1963), dẫn lại trong Misra (1988).
Young Alwyn (1994b) "Lessons from the East Asian NICs: A Contrarian View", European Economic Review 38, pp 964-973
Weisskopf T.E. "The Impact of Foreign Capital Inflow on Domestic Savings in Underdeveloped Countries", Journal of International Economics, Vol 2, No.1, February 1972
World Bank (1993) " East Asian Miracle" và nhiều ấn phẩm tiếp theo
Wrong Y.C. Richard (1999) "Lessons from the Asian Financial Crisis", Cato Journal 18(3), pp 391-98.

(16) Phân tích, dự báo kinh tế vĩ mô đến năm 2010

Bài viết cũ của tôi năm 2004:
Phân tích, dự báo một số khả năng phát triển kinh tế đến năm 2010
        3.2)  Kết quả dự báo theo phương án dự báo lạc quan cho giai đoạn 2006-2010:
Kết quả dự báo từ mô hình được thể hiện trong bảng ở trang sau. Một số điểm chính của kết quả dự báo là tốc độ tăng trưởng GDP trong 5 năm 2006-2010 trung bình khoảng 9,2%/năm, tức là cao hơn đáng kể so với kết quả dự báo trong phương án cơ bản. Kết quả dự báo cũng cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP có xu hướng tăng dần qua các năm, năm 2005 là 8,6%, năm 2006 là 8,7%, năm 2007 là 8,9%, năm 2008 là 9,2%, năm 2009 là 9,5% và năm 2010 là 9,75%. Đến năm 2009-2010 tốc độ tăng trưởng GDP đã đạt được mức cao nhất đã đạt  được trong những năm giữa thập kỷ 90 của thế kỷ trước (9,5%).
          Về tốc độ tăng trưởng của các khu vực kinh tế, dự báo qua mô hình cho thấy tốc độ tăng trưởng trong 5 năm tới của khu vực nông nghiệp trung bình đạt 4,3%/năm, của khu vực công nghiệp đạt 12,3%, của khu vực dịch vụ đạt 8%. Như vậy so với phương án cơ bản, trong phương án này, tăng trưởng của nền kinh tế nước ta trong 5 năm tới sẽ dựa chủ yếu vào đẩy nhanh sự phát triển khu vực công nghiệp trong khi khu vực dịch vụ và khu vực nông nghiệp đều sẽ tăng trưởng cao hơn, song không quá mạnh. Đóng góp của khu vực dịch vụ vào tăng trưởng chung toàn nền kinh tế sẽ ngày càng cao trong nền kinh tế.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm 2006-2010 dự báo đạt 2659 nghìn tỷ đồng, tăng 24,3%/ năm. Đáng chú ý là trong phương án này, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước sẽ tăng trưởng chậm lại so với phương án cơ bản, trong khi các nguồn vốn khác sẽ tăng nhanh hơn.
Tổng thu ngân sách trong 5 năm 2006-2010 dự báo theo mô hình sẽ đạt 1738 nghìn tỷ đồng, tăng 20,9%/năm. Tỷ lệ thu ngân sách trên GDP đạt 20,7%. Tổng chi ngân sách trong 5 năm 2006-2010 theo dự báo của mô hình sẽ đạt 2196 nghìn tỷ đồng, tăng 21,7%/năm. Tỷ lệ chi ngân sách trên GDP đạt 26,1%. Tỷ lệ thâm hụt ngân sách theo mô hình là 5,45% GDP trong khi theo cách tính của Bộ Tài chính là 4,9%.
Về giá cả, theo phương án cao, tỷ lệ lạm phát trong  5 năm 2006-2010 sẽ tăng lên so với phương án cơ bản. Tỷ lệ lạm phát năm 2005 là 7,5%, dự báo năm 2006 sẽ tăng lên 8,3%, năm 2007 lên 11%, năm 2008 lên 12,6%, năm 2009 lên 14% và năm 2010 lên 15,5%. Tính chung, tỷ lệ lạm phát trung bình 5 năm 2006-2010 đạt 12,4% trong khi dự báo theo phương án cơ bản là 11%.
Hoạt động ngoại thương trong 5 năm tới tiếp tục phát triển mạnh. Dự báo xuất khẩu năm 2010 sẽ đạt xấp xỉ 76,8 tỷ USD; tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm sẽ đạt 281 tỷ USD, tăng 19,8%/năm. Nhập khẩu năm 2010 dự báo qua mô hình sẽ đạt xấp xỉ 89,7 tỷ USD. Tính chung 5 năm, kim ngạch nhập khẩu đạt 314 tỷ USD, tăng 21,7%/năm.
Do tốc độ tăng trưởng nhập khẩu cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, thâm hụt ngoại thương sẽ tăng mạnh từ khoảng 3,4 tỷ USD năm 2005 lên 12,9 tỷ USD năm 2010. Tuy nhiên, do GDP tăng trưởng mạnh nên tỷ lệ thâm hụt ngoại thương trên GDP sẽ giảm từ 6,3% năm 2005 xuống còn 4,9% năm 2007, sau đó sẽ tăng dần lên tới 8,9% năm 2010. Như vậy trong phương án tăng trưởng cao, tỷ lệ thâm hụt ngoại thương trên GDP vẫn nằm trong tầm chấp nhận được.
Tóm lại, nhìn chung phương án dự báo lạc quan về các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô giai đoạn 2006-2010 cho thấy tình hình phát triển kinh tế 5 năm tới sẽ rất khả quan vì hầu hết các chỉ tiêu đều trong giới hạn chấp nhận được hoặc an toàn, tốc độ tăng trưởng GDP khá cao... Tuy nhiên, tương tự như trong phương án dự báo cơ bản, cần lưu ý vấn đề kiểm soát tỷ giá và cán cân ngoại thương vì nếu không, tình hình vào những năm cuối kỳ kế hoạch có thể xấu đi rất nhanh.
          4) Phương án dự báo phát triển trung hạn bi quan:
Phương án dự báo bi quan được xây dựng ngược với phương án lạc quan nêu trên. Theo phương án này, thay vì các chỉ tiêu đầu vào tích cực hơn so với phương án dự báo cơ bản như đã thực hiện ở trên, chúng tôi giả định các chỉ tiêu này sẽ ở mức bất lợi hơn đối với tăng trưởng so với phương án dự báo cơ bản. Đặc biệt, trong phương án này, giả định chính phủ sẽ giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách trên GDP xuống còn 4% để phòng ngừa nguy cơ lạm phát. Khi đó, kết quả dự báo một số chỉ tiêu chính như sau:
Tốc độ tăng trưởng GDP trong 5 năm 2006-2010 trung bình khoảng 7,4%/năm, tức là chỉ ngangvới kết quả đạt được trong thực hiện kế hoạch 5 năm 2001-2005 và thấp hơn đáng kể so với kết quả dự báo trong phương án cơ bản. Kết quả dự báo cũng cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP có xu hướng tăng dần qua các năm, năm 2006 là 7%, năm 2007 là 7,2%, năm 2008 là 7,4%, năm 2009 là 7,6% và năm 2010 là 7,8%.
          Về tốc độ tăng trưởng của các khu vực kinh tế, dự báo qua mô hình cho thấy tốc độ tăng trưởng trong 5 năm tới của khu vực nông nghiệp trung bình đạt 3,6%/năm, của khu vực công nghiệp đạt 9,5%, của khu vực dịch vụ đạt 7%. Như vậy so với phương án cơ bản, trong phương án này, tăng trưởng trong 5 năm tới của khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ sẽ chậm lại đáng kể trong khi khu vực nông nghiệp chỉ giảm tốc độ tăng trưởng ở mức thấp hơn. Tuy nhiên, đóng góp của khu vực dịch vụ vào tăng trưởng chung toàn nền kinh tế cũng sẽ ngày càng cao trong nền kinh tế. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm 2006-2010 dự báo đạt 2180 nghìn tỷ đồng, tăng 19,3%/ năm.
Tổng thu ngân sách trong 5 năm 2006-2010 dự báo theo mô hình sẽ đạt 1496 nghìn tỷ đồng, tăng 16,2%/năm. Tỷ lệ thu ngân sách trên GDP trung bình đạt 21,4%. Tổng chi ngân sách trong 5 năm 2006-2010 theo dự báo của mô hình sẽ đạt 1814 nghìn tỷ đồng, tăng 16,7%/năm. Tỷ lệ chi ngân sách trên GDP trung bình đạt 26%. Tỷ lệ thâm hụt ngân sách theo mô hình là 4,55% GDP trong khi theo cách tính của Bộ Tài chính là 4%.
Về giá cả, theo phương án tăng trưởng thấp này, tỷ lệ lạm phát trong 5 năm 2006-2010 sẽ giảm so với phương án cơ bản do tốc độ tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tiền tệ đều chậm hơn. Tỷ lệ lạm phát năm 2005 là 6,5%, dự báo năm 2006 sẽ tăng lên 7,1%, năm 2007 lên 8%, năm 2008 lên 9%, năm 2009 lên 10,1% và năm 2010 lên 11,2%. Tính chung, tỷ lệ lạm phát trung bình 5 năm 2006-2010 đạt 9% trong khi dự báo theo phương án cơ bản là 11%.
Hoạt động ngoại thương trong 5 năm tới tiếp tục phát triển. Dự báo xuất khẩu năm 2010 sẽ đạt xấp xỉ 60 tỷ USD; tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm sẽ đạt 234 tỷ USD, tăng 14,9%/năm. Nhập khẩu năm 2010 dự báo qua mô hình sẽ đạt xấp xỉ 72,2 tỷ USD. Tính chung 5 năm, kim ngạch nhập khẩu đạt 270 tỷ USD, tăng 16,8%/năm.
Như vậy, theo phương án này, kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng mạnh hơn so với phương án cơ bản; ngược lại kim ngạch nhập khẩu sẽ tăng trưởng chậm lại. Nguyên nhân chủ yếu là do tốc độ tăng giá trong phương án này thấp dẫn đến chênh lệch giá tương đối giữa giá hàng xuất và giá hàng nhập thay đổi có lợi cho xuất khẩu. Do tốc độ tăng trưởng nhập khẩu cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, thâm hụt ngoại thương sẽ tăng mạnh từ khoảng 3,5 tỷ USD năm 2005 lên 10,3 tỷ USD năm 2010. Tỷ lệ thâm hụt ngoại thương trên GDP sẽ tăng từ 6,6% năm 2005 lên 11,2% năm 2010. Như vậy trong phương án tăng trưởng này, tỷ lệ thâm hụt ngoại thương trên GDP vẫn nằm trong tầm chấp nhận được.
Như vậy, nhìn chung phương án dự báo thấp cho giai đoạn 5 năm 2006-2010 cho thấy tình hình kinh tế trong kế hoạch 5 năm vẫn tương đối khả quan vì hầu hết các chỉ tiêu đều trong giới hạn chấp nhận được hoặc an toàn mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP có thể sẽ không đạt các mục tiêu cao hơn do Quốc hội đề ra trong kế hoạch 5 năm tới.


KẾT LUẬN CHUNG VỀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG
MÔ HÌNH VMEM-2004 VÀ MỘT SỐ NHẬN XÉT
TRÊN CƠ SỞ CÁC DỰ BÁO RÚT RA TỪ MÔ HÌNH

          Mô hình hoá kinh tế lượng là một trong những ngành khoa học còn rất mới mẻ ở nước ta trong khi nó được coi là một công cụ không thể thiếu được trong hoạch định chính sách kinh tế và xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở phần lớn các nước trên thế giới. Đặc biệt, trong quá trình xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và cần được triển khai thực hiện ngay là xây dựng các dự báo tăng trưởng và phát triển trung hạn của nền kinh tế từ này đến năm 2010. Để thực hiện được mục tiêu này, nếu không sử dụng công cụ mô hình hoá thì rất khó tạo ra được các dự báo cân đối và khớp nhau. Nhận thức được nhu cầu này, gần đây, nhiều cơ quan quản lý kinh tế nước ta đã bắt đầu đặt vấn đề nghiên cứu thử nghiệm xây dựng các mô hình kinh tế lượng trung hạn để phục vụ nhiệm vụ phân tích, dự báo đến năm 2010 của các cơ quan đó .
Đề tài "Dự báo một số khả năng phát triển kinh tế đến năm 2010 bằng mô hình kinh tế lượng" được thực hiện tại Vụ Tổng hợp Kinh tế quốc dân, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhằm thiết thực thực hiện chủ trương tăng cường sử dụng các công cụ hiện đại, trong đó có công cụ toán kinh tế và mô hình hoá, vào xây dựng và điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm tới của lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã đi từ phân tích những mối quan hệ giữa các chỉ tiêu kinh tế cơ bản của nền kinh tế trong chương 1 tới phác thảo và thử nghiệm xây dựng một mô hình kinh tế lượng quy mô nhỏ nhỏ với chuỗi số liệu năm trong chương 2; cuối cùng chúng tôi đã sử dụng mô hình xây dựng được để thực hiện 3 phương án dự báo cơ bản trong chương 3.
Qua quá trình xây dựng và sử dụng mô hình trong phân tích kinh tế và dự báo ngắn hạn, chúng tôi đã rút ra một số nhận xét sau:
Các phân tích trong chương 1 đã chỉ ra rằng quá trình tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nước ta trong gần 20 năm qua đã diễn ra qua hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, nguồn gốc chính của những thành tựu kinh tế vĩ mô trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh là tăng trưởng đầu tư, trong đó đầu tư vừa đóng vai trò nhân tố cung, vừa đóng vai trò nhân tố cầu. Trong giai đoạn 2, đặc biệt là trong những năm gần đây, những nhân tố cầu như tiêu dùng và xuất khẩu cũng đóng vai trò khá quan trọng, trong đó nổi bật là vai trò của những nhân tố cầu đã tăng lên rất mạnh.
Tuy nhiên, nhìn về trung hạn, các nhân tố cung vẫn đóng vai trò quyết định, do đó căn cứ vào đặc điểm trên, để xây dựng các mô hình dự báo trung hạn cho nền kinh tế nước ta phục vụ việc phân tích, dự báo các khả năng tăng trưởng kinh tế đến năm 2010, cần phải đi theo tiếp cận của mô hình cung, trong đó có bổ sung một số nhân tố cầu. Loại mô hình này cũng đã và đang được xây dựng tại nhiều nước đang phát triển do đặc điểm của các nền kinh tế đo là các nhân tố cung và cầu tác động xen kẽ nhau; các mô hình này thường được gọi là mô hình hỗn hợp nửa cung nửa cầu. Mô hình ở đây cũng là một dạng của mô hình nửa cung nửa cầu nhưng vai trò của nhân tố cung quan trọng hơn.
Những lập luận lô gíc trong chương 1 cũng cho thấy tiến triển của khu vực thực (khu vực sản xuất, đầu tư) có quan hệ mật thiết với tiến triển của khu vực tài chính, tiền tệ: Tiến triển của lãi suất thực có ảnh hưởng lớn tới đầu tư trong khi những thay đổi của tổng cung tiền tệ có ảnh hưởng mạnh tới tỷ lệ lạm phát và qua đó tác động tới môi trường đầu tư và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, vai trò của chính sách tiền tệ đối với tăng trưởng kinh tế không mạnh vì tăng trưởng tiền tệ thường bị động và tăng trưởng tín dụng không thực sự đi đôi với tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Ngược lại với chính sách tiền tệ, chính sách tài chính đã tỏ ra có tác động mạnh tới tốc độ tăng trưởng kinh tế. Điều này là hoàn toàn hợp lý vì một mặt, chính phủ đã không dùng biện pháp phát hành tiền tệ để bù đắp thâm hụt ngân sách; mặt khác, đã tích cực sử dụng công cụ phát hành trái phiếu, tín phiếu (trước đây hầu như không làm) để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân vào mục tiêu tăng trưởng. Thực tế, giảm tỷ lệ động viên vào ngân sách và tăng tỷ lệ chi ngân sách đều có tác dụng tích cực làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế mặc dù quá trình này có thể trễ 6 tháng đến 1 năm. Ngoài ra, mặc dù những biến động của tỷ giá tuy ảnh hưởng không lớn tới tỷ lệ lạm phát nhưng chúng có ảnh hưởng rất quan trọng tới hoạt động xuất nhập khẩu và điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế.
Quá trình xây dựng mô hình kinh tế lượng trong chương 2 cho thấy hầu hết các quan hệ kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế nước ta đều phù hợp với lập luận trong các lý thuyết kinh tế thị trường và phù hợp với những phân tích thực hiện trong chương 1. Điều này chứng tỏ về mặt trung hạn, nền kinh tế thị trường ở nước ta, dù còn nhiều méo mó và chưa hoàn chỉnh, nhưng cũng đã thực sự vận hành trên cơ sở những quy luật khách quan chung của cơ chế kinh tế thị trường như ở các nền kinh tế thị trường khác.
Lô gíc cơ bản của mô hình cũng tương tự như những phân tích trong chương 1. Dân số nước ta tiếp tục tăng trưởng theo xu thế với tốc độ tăng trưởng giảm dần. Tốc độ tăng trưởng nguồn cung lao động tiếp tục được duy trì ở mức cao do tác động của bùng nổ dân số giữa những năm 80 của thế kỷ trước. Thu hút lao động vào các ngành và toàn nền kinh tế phụ thuộc vào nhu cầu của nền kinh tế (khả năng tăng trưởng kinh tế) nhưng cũng tác động trở lại tăng trưởng kinh tế.
Trong khối thực, huy động vốn vào hệ thống ngân hàng phụ thuộc vào lãi suất huy động và xu thế đã hình thành trong quá khứ nhưng nhân tố xu thế có vai trò quyết định; ảnh hưởng của lãi suất không lớn. Nguồn cung tín dụng cho nền kinh tế phụ thuộc vào khả năng huy động vốn của hệ thống ngân hàng và tích luỹ trước đây của nền kinh tế, trong đó chỉ tiêu cuối cùng này được đại diện bằng tổng sản phẩm trong nước năm trước. Đầu tư của khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân phụ thuộc vào nguồn tín dụng, lãi suất, chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư, quy mô nền kinh tế và xu thế đã hình thành trong quá khứ.
Tăng trưởng của các khu vực kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào hai nhân tố là tổng số lao động và tổng tích luỹ tài sản cố định, trong đó tổng tích luỹ tài sản cố định được đại diện bằng tổng vốn đầu tư cộng dồn từ năm 1990 đến năm tính toán. Ngoài ra, tăng trưởng của khu vực nông nghiệp còn phụ thuộc vào xu thế quá khứ, phản ánh sức ỳ của sản xuất nông nghiệp; tăng trưởng của khu vực công nghiệp còn phụ thuộc vào nhập khẩu đầu vào phục vụ sản xuất...
Về tiêu dùng, trong khi tiêu dùng chính phủ là biến ngoại sinh, phụ thuộc hoàn toàn vào quyết định chính sách của chính phủ thì tiêu dùng tư nhân phụ thuộc vào thu nhập của năm trước (GDP trừ đi thuế) và vào xu hướng tiêu dùng đã hình thành trong quá khứ hay thu nhập mang tính dài hạn (thu nhập thường xuyên).
Trong khối tài chính tiền tệ, về hoạt động ngân sách, tổng thu ngân sách gồm thu nội địa, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu và thu từ dầu thô, trong đó thu nội địa hàng năm phụ thuộc vào quy mô của nền kinh tế; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu phụ thuộc vào kim ngạch nhập khẩu tính theo ngoại tệ, tỷ giá và xu thế; thu từ dầu thô phụ thuộc vào khối lượng, giá cả xuất khẩu dầu và tỷ giá.
Tổng chi ngân sách được xác định căn cứ vào tổng thu ngân sách và tỷ lệ thâm hụt ngân sách trên GDP do Quốc hội thông qua (biến cuối này là biến ngoại sinh). Tổng chi ngân sách thường xuyên phụ thuộc vào tổng thu ngân sách cùng năm. Do đó tổng chi ngân sách cho mục đích đầu tư phát triển là phần còn lại của tổng chi ngân sách sau khi đã chi cho tiêu dùng thường xuyên và chi trả nợ, viện trợ chính phủ. Tỷ lệ lạm phát giá hàng tiêu dùng phụ thuộc vào tốc độ tăng giá hàng nhập khẩu tính theo ngoại tệ, biến động của tỷ giá, tốc độ tăng trưởng tổng cung tiền tệ, tỷ lệ lạm phát năm trước và lãi suất huy động tiền gửi ngắn hạn.
Về hoạt động ngoại thương, trong khi xuất khẩu chủ yếu phụ thuộc vào nhu cầu nhập khẩu hàng Việt Nam của các nước bạn hàng chính và khả năng cạnh tranh về giá cả của hàng xuất khẩu nước ta thì nhập khẩu phụ thuộc chủ yếu vào quy mô của nền kinh tế (GDP) và quan hệ cánh kéo giá trong nước và quốc tế đối với hàng nhập khẩu và thay thế nhập khẩu. Các yếu tố đầu tư, tiêu dùng, xuất và nhập khẩu tham gia vào phương trình cân bằng tổng sản phẩm trong nước theo giá cố định và theo giá hiện hành, và chính quy mô của nền kinh tế (GDP) này đến lượt mình lại trở thành tổng cầu và tác động tới các chỉ tiêu đầu tư, tiêu dùng, xuất và nhập khẩu, và các chỉ tiêu tài chính tiền tệ trong vòng tiếp sau.
Phân tích mô hình có thể nhận thấy một số cơ chế kinh tế tạo thành các vòng xoáy xác định các chỉ tiêu thuộc nhiều khối; ví dụ như cơ chế tăng trưởng và phát triển, cơ chế thu chi ngân sách, cơ chế tiền tệ và giá cả, cơ chế xuất nhập khẩu... Hầu hết các cơ chế này đều là cơ chế động, tức là dù chỉ thực hiện giải pháp kinh tế một lần nhưng nó sẽ có tác động dây truyền gây nhiều biến động (lớn hoặc nhỏ) cho nền kinh tế rồi mới đưa nền kinh tế hội tụ về điểm cân bằng mới. Hơn nữa, ảnh hưởng của chúng thường kéo dài sang nhiều năm tiếp theo. Dựa trên các cơ chế này, có thể hiểu rõ hơn vai trò của chính sách kích cầu cũng như kích cung trong nước và phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nước ngoài tới phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây.
Về các dự báo xây dựng trong chương 3: Trước khi sử dụng mô hình vào mục đích dự báo trung hạn đến năm 2010, chúng tôi đã xây dựng 3 kịch bản làm đầu vào cho mô hình, gồm kịch bản cơ bản, kịch bản cao và kịch bản thấp, tạo thành 3 phương án dự báo cơ sở, lạc quan và bi quan.
Sử dụng mô hình để dự báo cho thấy nhìn chung nền kinh tế nước ta sẽ tiếp tục tăng trưởng khả quan trong kế hoạch 5 năm tới. Tốc độ tăng trưởng GDP có thể đạt từ 7,4%/năm (phương án bi quan) đến 9,2%/năm (phương án lạc quan) tuỳ theo môi trường thuận lợi hay khó khăn, chính sách tài chính tiền tệ mở rộng hay thắt chặt, và nhất là chất lượng tăng trưởng được cải thiện nhiều hay ít.
Phương án dự báo cơ bản cho thấy nếu như tình hình kinh tế thế giới tiếp tục được cải thiện và tăng trưởng mạnh trong kế hoạch 5 năm tới trong khi các chính sách kích cầu và kích cung (tuỳ từng mặt) trong nước được triển khai thuận lợi và có hiệu quả theo đúng dự kiến của Chính phủ thì tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta sẽ tăng khá nhanh trong 5 năm 2006-2010; hơn nữa, tốc độ tăng trưởng kinh tế có khả năng sẽ liên tục tăng lên qua các năm như đã diễn ra từ năm 1999 đến nay.
Xuất khẩu dự báo cũng sẽ tăng trưởng khá mạnh nhưng do nhập khẩu tăng trưởng nhanh hơn nên tỷ lệ thâm hụt ngoại thương trên GDP cũng sẽ tăng lên. Tuy nhiên, mức tăng đến năm 2010 vẫn chưa vượt qua những mức trước đây và vẫn nằm trong tầm chấp nhận được mặc dù phải chú ý phân tích để kịp thời có thể điều chỉnh chính sách nhằm ngăn ngừa cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán quốc tế.
Đáng lo ngại là tỷ lệ lạm phát sẽ tăng lên với tốc độ ngày càng nhanh và từ năm 2008 có thể sẽ vượt 10% tức là nằm ngoài tầm kiểm soát của Chính phủ. Do đó cũng như đối với cán cân ngoại thương, cần chú ý theo dõi biến động của tỷ lệ lạm phát, phân tích kỹ hơn nguyên nhân của hiện tượng này ở nước ta để đề ra các giải pháp hữu hiệu phòng ngừa ngay từ năm tới.
Do các chỉ tiêu dự báo trong phương án dự báo cơ bản là khá tốt nên ngay cả khi tình hình kinh tế thế giới có xấu hơn dự kiến và việc thực hiện các chính sách trong nước, kể cả các chính sách nhằm tăng cường chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, có không đạt được mục tiêu đầy tham vọng đặt ra, thì nền kinh tế nước ta vẫn có khả năng đạt tốc độ tăng trưởng khoảng trên 7%/năm, trong khi tỷ lệ lạm phát giảm về mức ôn hoà hơn. Ngược lại, nếu như môi trường trong nước và quốc tế thuận lợi hơn, thì tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể cao hơn 9%/năm trong khi tỷ lệ lạm phát trung bình chỉ lên tới 12,4%/năm.
Kết luận chung: Các dự báo từ mô hình cho thấy kinh tế nước ta trong kế hoạch 5 năm 2006-2010 sẽ tiếp tục phát triển mạnh và các chỉ tiêu ổn định vĩ mô đều cơ bản nằm trong tầm kiểm của Chính phủ.