Showing posts with label vĩ mô. Show all posts
Showing posts with label vĩ mô. Show all posts

Sunday, August 11, 2013

(17) Phân tích, dự báo kinh tế vĩ mô đến năm 2010

Bài viết cũ của tôi năm 2004:
Phân tích, dự báo một số khả năng phát triển kinh tế đến năm 2010
 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Adam Smith (1776) "Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations" - Điều tra về bản chất và các nguyên nhân thịnh vượng của các quốc gia. Eds. R.H. Cambell and A.S. Skinner (1979), Vol 1.
Amsden Alice H. (1989) "Asia's Next Giant: South Korea and Late Industrialization" New York, Oxford University Press.
Amsden Alice H. (1991) "Diffusion of Development: The Late Industrializing Model and Greater East Asia", American Economic Review 81(2): 282-86
Arnold C. Haberger (1983) "The Cost - Benefit Approach to Development Economics", World Development, Vol. 11, no.10 (1983), pp 864-866.
Arthur Lewis W. (1954) "Economic Development with Unlimited Supplies of Labour", The Manchester School, May, 1954, p.139.
Arthur Lewis W. (1955) "The Theory of Economic Growth", p.208
Areskoug K. (1973) "Foreign Capital Utilization and Economic Policies in Developing Countries" Review of Economics and Statistics, Vol 55, No. 2, May 1973,
Aschauer D. A. (1989a) "Is Public Expenditure Productive ?", Journal of Monetary Economics 23(2)
Aschauer D. A. (1989b) "Does Public Capital Crowd Out Private Capital ?", Journal of Monetary Economics 24(2)
Blejer M. I. và Khan M. S. (1984) "Government Policy and Private Investment in Developing Countries", IMF Staff Papers, Vol. 31.
Boone P. (1994) "The Impact of Foreign Aid on Saving and Growth", London School of Economics, mimeo
Boone P. (1996) "Politics and the Effectiveness of Foreign Aid", European Economic Review, 40
Boyer R và Didier M. (2000) "Đổi mới và tăng trưởng: thúc đẩy tăng trưởng năng động và bền vững thông qua đổi mới", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2000.
Buffie E. F. (1993) "Direct Foreign Investment, Crowding out, and Underemployment in the Dualistic Economy", Oxford Economic Papers, Vol. 45
Burnside C. và Dollar D. (1997) "Aid, Policies and Growth", Policy Research Working Paper, No 1777, June 1997.
Carroll C.D. and Weil D.N. (1994) "Saving and Growth: A Reinterpretation", Carnegie Conference Series on Public Policy 40 (June)
Chenery H. B. and Strout A. M. (1966) "Foreign Assistance and Ecopnomic Development", American Economic Review, Vol 56 (1966)
Chow Percy C.Y. (2000) "The Asian Financial Crisis and Its Aftermath"; Flatters Frank (2000) "Thailand, the International Monetary Fund, and the Financial Crisis: First In, Fast Out ?", đều nằm trong sách: Chow Percy C.Y. and Gill Bates, eds, "Weathering the Storm", Washington, D.C. Brookings Institution Press
Chenery H.B. and Strout A.M. (1966) "Foreign Assistance and Economic Development", American Economic Review, Vol 56, No.4, Part I, September 1966
Chow Percy C.Y. (2000) "The Asian Financial Crisis and Its Aftermath"; Flatters Frank (2000) "Thailand, the International Monetary Fund, and the Financial Crisis: First In, Fast Out ?", đều nằm trong sách: Chow Percy C.Y. and Gill Bates, eds, "Weathering the Storm", Washington, D.C. Brookings Institution Press.
Cohen D. và Debonneil M. (2000) "Nội dung của nền kinh tế mới", trong sách "Nền kinh tế mới", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2001.
Cohen D. (2000) "Các quốc gia nghèo khó trong một thế giới thịnh vượng", Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2001.
Collins S.M. (1991) "Saving Behavior in Ten Developing Countries", trong Douglas B. và Shoven J.B. eds. National Saving and Economic Performance, University of Chicago Press.
Crafts Nicolas (1998) "East Asian Growth Before and After the Crisis", IMF Staff Papers 46(2), pp 139-66.
De Gregorio J. và Guidotti P. E. (1995) "Financial Development and Economic Growth", World Development, Vol 23, No 3.
De Melo J. (1988) "The Macroeconomic E ffects of Foreign Aid: I ssues and Evidence"; in Jepma C. eds "North South Cooperation in Restrospect and Prospect", London Routledge.
De Long J. B. and Summers L. H. (1993) "How Strongly Do Developing Countries Benefit from Equipment Investment ?" Journal of Monetary Economics 32(3).
Dillar D. (1963) “The Economics of J. M. Keynes”, London, Crosby and Son Ltd.
Domar Evsey D. (1947) "Expansion and Employment", American Economic Review, March 1947.
Domar Evsey D. (1957) "Essays in the Theory of Economic Growth", New York, O xford University Press, 1957.
Dooley M., Frankel J. và Mathieson D. (1987) "International Capital Mobility: What Do the Saving - Investment Correlations Tell Us ?" IMF Staffs Papers, Vol 43, Washington DC, USA.
Dowling J.M. và Hiemenz U. (1983) "Aids, Savings and Growth in Asian Region", The Developing Economies, Vol 21, No1, March 1983.
Edwards S. (1987) “Devaluation, Aggregate Output and Income Distribution”, University of California, November.
Feldstein M. (1994) "Tax Policy and International Capital Flows", NBER Working Papers.
Feldstein M. và Bacchetta P. (1991) "National Saving and International Investment", trong Douglas B. và Shoven J.B. eds. National Saving and Economic Performance, University of Chicago Press.
Feldstein M. và Horioka C. (1980) "Domestic Savings and International Capital Flows", Economic Journal, Vol 90 (1980), pp. 314-329.
Felipe Jesus (1999) "Total Factor Productivity Growth in East Asia: A Critical Survey", Journal of Development Studies 35(Avril), pp 1-41.
Frankel J. A. (1992) "Measuring International Capital Mobility: A Review", American Economic Review, 82(2)
Frey B.S. and Schneider F. (1986) "Competing Models of International Lending Activity", Journal of Development Economics, 20
Fry J. Maxwell (1984) "Domestic Resource Mobilization through Financial Development" Volume II, Appendices, Manila, ADB, Mimeographed.
Fry J. Maxwell (1988) "Money, Interest, and Banking in Economic Development", The Johns Hopkins University Press.
Furman  Jason and Joseph E. Stiglitz (1998) "Economic Crises: Evidence and Insights from East Asia", Brookings Papers on Economic Activity 1998 (2), pp 1-114
Greenwald (1987) "Dictionary of Modern Economics", McGraw-Hill Book Company.
Gillis M., Perkins D.H... (1987) " Kinh tế học của sự Phát triển", Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế TW, 1990.
Gordon H. và Sellon J. eds. Changing Capital Markets: Implications for Monetary Policy, Federal Reserve Bank of Kansas
Go E. (1983) "The Impact of Foreign Capital Inflow on Investment and Economic Growth in Developing Asia", Economic Office Report Series, no 33, ADB, May 1985.
Griffin K.G. (1970) "Foreign Capital, Domestic Saving and Development", Oxford Bulletin of Economics and Statistics, No.32, May 1970
Greene J. and Villanueva D. (1991) "Private Investment in Developing Countries: An Empirical Analysis", IMF Staffs Papers, Vol 38, Washington DC, USA.
Gupta K.C. và I slam M.A. (1983) "Foreign Capital, Savings and Growth", Dordrecht, Holland, D.Reidel Publishing Company.
Harrod R. F. (1939) "Essay in Dynamic Theory", Economic Journal, March 1939
Hellman T.F., Kevin C. Murdock, and Joseph E. Stiglitz (2000)
Helleiner G. (1987) "Direct Foreign Investment and Manufacturing for Export: A Review of Issues", in Cable V. and Persaud B. eds "Developing with Foreign Investment", London: Croom Helm.
Hirschman Albert O.  (1958) "The Strategy of Economic Developpent".
Hội đồng Phân tích Kinh tế trực thuộc Thủ tướng Pháp (1998, 2000) "Báo cáo năm 1998" do M. Didier và R. Boyer soạn, "Báo cáo năm 2000" do E. Cohen và J. H. Lorenzi soạn.
Hollis Chenery (1986) "Growth and Transformation" in Hollis Chenery, Sherman Robinson and Moshe Syrquin (1986) "Industrialization and Growth", Oxford University Press, New  York.
Hughes H and Dorranece G. S. (1987) "Foreign Investment in East Asia", in Cable V. and Persaud B. eds "Developing with Foreign Investment", London: Croom Helm.
Husain I. and Jun K. (1992) "Capital Flows to South A sian and ASEAN Countries: Trends, Determinants and Policy Implications" World Bank Working Papers, 842, Washington D.C.
Ito Takatoshi (2001) "Tăng trưởng, khủng hoảng và tương lai phục hồi kinh tế ở Đông á", trong sách: "Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông á", J. E. Stiglitz và S. Yusuf biên tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, 2002.
Ito Takatoshi and O rii Keisuke (2000) "Changes in Industrial Structure in East Asian Countries: Common Characteristic and Idiosyncratic Factors" in The East Asian Economic Growth with Industrial Structural Changes, Chapter 1, Economic Planning Agency, Tokyo, Japan
Jensen K. (1995) "The Macroeconomic Effects of Direct Foreign Investment: The Case of Thailand", World Development 23 (2)
Kaldor N. (1957) "A Model of Economic Growth", Economic Journal 67(268)
Keynes J. M. (1936) “General Theory
Keynes J. M. (1952) “Essays in Persuasian”, London, Rupert Hart-Davis.
Khan M. S. and Reinhart C. M. (1990) "Private Investment and Economic Growth in Developing Countries", World Development 18 (1)
Kim Jong Il and Lawrence Lau (1994) "The Sources of Economic Growth of the East Asian Newly Industralized Countries", Journal of Japanese and International Economies 8(3).
Krugman P. và Taylor L. (1978) “Contractionary Effects of Devaluation”, Journal of International Economics (Amsterdam), Vol. 8, August
Lee J.S và Rana P. (1986) "Effects of Foreign Capital Inflows on Developing Countries in Asia" Economic Staffs Papers, No 30, Chapter IV, ADB, Avril 1986.
Lessard D. R (1989) "Beyond the Debt Crisis: Alternative Forms of Financing Growth", Working Papers of the Alfred P. Sloane School of Management, Massachusetts Institute of Technology, February 1989.
Levis C. Solmon (1994) "Economics", Addison-Wesley Publishing Compagny, USA and Canada.
Levine R. and Renelt D. (1992) "A Sensitivity Analysis of Cross Country Growth Regressions", American Economic Review 84(2)
Lizondo J. S. và Montiel P. J. (19..) “Contractionary Devaluation in Developing Countries - An Analytical Overview”, IMF Staff Papers.
Lorenzi J.H. (1995) "Le choc du progres technique" Economica
Lorenzi J.H. (2001) "Kinh tế và cải tiến kỹ thuật", trong sách: Khoa học, công nghệ và phát triển kinh tế, do Michaud Y. chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, 2002
Lucas R. E. (1993) "On the Determinants of FDI: Evidence from East and Southeast Asia", World Development 21 (3)
Maddison A. "Economie Mondiale 1820-1992", Paris, OCDE, 1995
Maizel A. và Nissanke M. (1984) "Motivation for Aid to Developing Countries", World Development 12 (9)
Mankiw N., Romer D, and Weil D. (1992) " A Contribution to the Empirics of Economic Growth", Quarterly Journal of Economics, 107(2)
Marx K. (1865) "Capital", tập 1
Matsuyama Kiminori (1992) "The Market Size, Entrepreneurship and the Big Push", Journal of the Japanese and International Economies (6), pp 347-64
McKinlay R. D. và Little R. (1979) "The US Aid Relationship: A Test of the Recepient Need and Donor Interest Models", Political Studies 27 (2)
McKinnon Ronald I (1991) "The Order of Economic Liberalization: Financial Control in the Transition to a Market Economy", Baltimore, Md. Johns Hopkins University Press.
Meade J. E. (1982) "A Neo-Classical Theory of Economic Growth", London: George Allen and Unwin Ltd, Edition 1982.
Misra S. K. and Puri V. K. (1988) “Development and Planning”, Himalaya Publishing House, Delhi, Avril 1988
Murphy K.M., Shleifer A., và Vishny R.W. (1989a) "Industrialization and the Big Push", Journal of Political Economy 97 (5, October), pp 1003-26
Murphy K.M., Shleifer A., và Vishny R.W. (1989b), "Income Distribution, Market Size, and Industrialization", Quarterly Journal of Economics 104(3), pp 537-64.
Mussa M. L. và Goldstein M. (1994) "The Integration of World Capital Markets", trong
Newlyn W. T. (1977) "The Financing of Economic Development", Oxford: Clarendon Press.
Obstfeld M. (1986) "Capital Mobility in the World Economy: Theory and Measurement", Carnegie Conference Series on Public Policy, 24 (Spring)
Obstfeld M. (1994) "International Capital Mobility in the 1990s", International Finance Discussion Paper 472, Board of Governors, Federal Reserve System, Washington DC.
Papanek G.F (1972) "Aid, Foreign Private Investment, Savings and Growth in Less Developed Countries", Journal of Political Economy, Vol 81, No1, 1-2/1972.
Pass C. and Lowes B. (1995) "Dictionary of Economics", Collins, 1995
Polak Jacques J. (1989) "Financial Policies and Development", Paris, OECD, 1989.
Phùng Xuân Nhạ (2000) Các nguồn vốn nước ngoài ở Việt Nam: Thực trạng và những khuyến nghị chính sách
Trương Bá Tuấn và Nguyễn Thu Thuỷ (2000) "Những vấn đề về quản lý nợ ở Việt Nam 1991-2000
Ragnar Nurke (1953) "Problems of Capital Formation in Underdeveloped Countries". Oxford University Press, New  York.
Rana B.P. and Dowling J.M (1988) "The Impact of Foreign Capital on Economic Growth: Evidence from Asian Developing Countries", The Developing Economies, Vol 24, No.01, March 1988
Rana B.P. (1988) "Recent Trends and Issues on Foreign Direct Investment in Asian and Pacific Developing Countries", Economic Staffs Papers, No.41, ADB, March 1988
Rana B.P. and Dowling J.M (1990) "Foreign Capital and Asian Economic Growth", Asian Development Review, Vol 8, No.02, Asian Development Bank
Robinson J. (1962) "Essays in the Theory of Economic Growth", London, Macmillan
Rosenstein Rodan P.N. (1961) "International Aid for Underdeveloped Countries", Review of Economics and Statistics, Vol 43, No. 2, May 1961,
Rostow W.W. (1960) "The Stages of Economic Growth", London: Cambridge University Press, 1992
Sachs J. D. và Warner A. (1995) "Economic Reform and the Process of Global Intergration" Brookings Papers on Economic Activity (1).
Schmidt-Hebbel K. and Serven L. (1996) "Saving and Investment: Paradigms, Puzzles, Policies", The WB Research Observer, Vol. 11, No. 1, February 1996.
Schumpeter J. (1911) "Theorie de l'Evolution Economique - Recherche sur le Profit, le Credit, l'Interet et le Cycle de la Conjoncture", bản dịch tiếng Pháp, 1983, Dalloz, Paris.
Schumpeter J. (1934) "The Theory of Economic Development", Cambridge, Mass. Harvard University Press.
Sen A.K. (1983) "Development: Which Way Now ?", Economic Journal, December 1983.
Serven L. và Solimano A. (1992) “Private Investment and Macroeconomic Adjustment - A Survey” World Bank Research Observers, Vol. 7, N. 1.
Serven L. và Solimano A. (1999) “Private Investment and Macroeconomic Adjustment - An Overview” World Bank Working Papers, 9/1999.
Shirokov G. K. (1973) "Industrialization of India", Progress Publishers, Moscow.
Asian Development Outlook 1999-2004, Asian Development Bank.
Bruno, Michael  (1992) , “Stabilization and Reform in Eastern Europe”, IMF Staff Papers,  December.
Dodsworth, John R., Erich Spitaller, Michael Braulke, Keon Hyok Lee, Kenneth Miranda, Christian Mulder, Hisanobu Shishido, and Krishna Srinivasan (1996): “Vietnam: Transition to A Market Economy”, IMF Occasional Paper No. 135, March,  1996.
Dodsworth, John R., Ajai Chopra, Chi Do Pham, and Hisanobu Shishido  (1996): “Macroeconomic Experiences of the Transition Economies in Indochina”, IMF Working Paper WP/96/112.
 Ljunggren, Borje  (ed.)  (1993), “The Challenge of Reform in Indochina”, Cambridge, Massachusetts: Harvard University Press.
International Monetary Fund, Vietnam: Recent Economic Developments, various IMF reports 1989-2001.
“Vietnam 2000”,  Statistical Publishing House (1998) , Vietnam Exhibition-Fair Center.
Choudry, Nurun N (1991) “Collection lags, fiscal revenue and inflationnary financing: Empirical evidence and analysis”, Researche report of IMF.
Ban Điều khiển học, Phủ Thủ tướng Việt Nam (1976) "Mô hình kinh tế Việt Nam", tài liệu in roneo, Hà nội, tháng 9/1976.
Lê Việt Đức và các cộng sự (2001) "Mô hình quý cho nền kinh tế nước ta giai đoạn 1996-2000"; báo cáo đề tài khoa học năm 2001.
Nguyễn Văn Quỳ, Lê Việt Đức, Đàm Anh Nhi (1984) "Xây dựng mô hình kinh tế lượng phân tích tình hình phát triển kinh tế giai đoạn 1976-1983", Tạp chí Thống kê, số 11 năm 1984.
Nguyễn Văn Quỳ, Lê Hồng Nhật, Lê Việt Đức, Nguyễn Công Hoá (1987) "Thử nghiệm xây dựng mô hình kinh tế lượng cho nền kinh tế Việt Nam", Chuyên san các báo cáo tại Hội thảo Pháp - Việt về mô hình hoá kinh tế tại Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương 12/1987.
Nguyễn Văn Quỳ, Lê Việt Đức (1989) " Xây dựng mô hình kinh tế lượng để phân tích kinh tế, mô phỏng chính sách và dự báo phát triển", Tạp chí Thống kê, số 5 và 6 năm 1989, và các mô hình tiếp theo trong các năm 1990-1995 tại Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương.
Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (1999) "Tiếp cận phân tích định lượng nền kinh tế Việt Nam: Khung khổ hạch toán tổng thể và mô hình kinh tế lượng vĩ mô dạng cấu trúc", Nhà xuất bản Giao thông vận tải, Hà nội, tháng 12/1999. Đồng chủ biên: Võ Trí Thành và Rudolf Zwiner.
Lê Anh Sơn, Hoàng Minh Hải (1997) "Mô hình kinh tế lượng vĩ mô phục vụ dự báo ngắn hạn ở Việt Nam". Tài liệu Hội thảo của Dự án của Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư "Chuẩn bị cho một trung tâm dự báo kinh tế ở Việt Nam" do Quỹ Nippon tài trợ, Hà nội, tháng 12/1997.
Nguyễn Văn Quỳ và các tác giả khác (1995) "Thử nghiệm xây dựng một mô hình kinh tế lượng quý cho nền kinh tế Việt Nam", Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương.
Phan Văn Dĩnh (1990) "Thuế và cải cách thuế ở Việt Nam", Tài liệu của Bộ Tài chính Việt Nam.
Bruneau M. (1996) "Crises et Mutations des Agricultures et des Espaces Ruraux en Asie du Sud-Est", trong sách Bonnamour J "Agricultures et Campagnes dans le Monde", SEDES, 1996.
Tổng cục Thống kê, Vụ Hệ thống Tài khoản Quốc gia (2001) "Kinh tế Việt Nam trong những năm đổi mới qua các chỉ tiêu tổng hợp của hệ thống tài khoản quốc gia", Nhà xuất bản Thống kê, Hà nội, 2001.
Tổng cục Thống kê "Tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam 10 năm 1991-2000, Nhà xuất bản Thống kê, Hà nội tháng 2/2001.
Lê Việt Đức, Trần Thị Thu Hằng (2001) "Công nghiệp Việt Nam - Những thành tựu và thách đố" trong sách "Đánh thức con rồng ngủ quên", Nhà xuất bản trẻ Thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Trung tâm Kinh tế Châu á - Thái Bình Dương và Thời báo Kinh tế Sài gòn xuất bản. Tài liệu xuất bản trong khuôn khổ đề tài.
Phạm Đỗ Chí, Lê Việt Đức (2001) "Nhìn lại thập niên đổi mới: 1989-1999" trong sách "Đánh thức con rồng ngủ quên"; tài liệu xuất bản trong khuôn khổ đề tài.
Phạm Đỗ Chí, Lê Việt Đức (2001) "Tiếp tục lộ trình kinh tế thị trường: Năm 2000" trong sách "Đánh thức con rồng ngủ quên"; tài liệu xuất bản trong khuôn khổ đề tài.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (22/3/2001) "Yêu cầu một thoả thuận ba năm theo thể thức tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo cho Việt Nam".
Hagger A.J.(1977) "Inflation: Theory  and Policy", The Macmillan Press Ltd.
Tào Hữu Phùng, Nguyễn Công Nghiệp "Đổi mới Ngân sách Nhà nước", Nhà xuất bản Thống kê, 1995.
Lê Việt Đức (1994) "Hiện tượng đánh giá cao nội tệ và những hậu quả tiêu cực", Tạp chí Ngân hàng số 12-1994, trang 36-40.
Quỹ Tiền tệ quốc tế (10/2001) "World Economic Outlook - 10/2001"
Lê Việt Đức (1998) "Les origines de l'inflation au Việt Nam", Luận án tiến sĩ kinh tế, Đại học Auvergne, Cộng hoà Pháp.
Rudiger Dornburch (1993) "Overvaluation and Trade Balance", The World Bank publication, 1993.
Lê Việt Đức và Trần Thị Thu Hằng (1999) "Về những khó khăn hiện nay của nền kinh tế nước ta và một số giải pháp", Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế số 6 (253), trang 3-22.
Mc Kinnon (1992) "Trình tự tự do hoá kinh tế - Quản lý tài chính trong quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường", chương 4: Các công cụ kìm hãm tài chính. Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội, 1995.
Corden W. M. et Neary J.P. (1982) "Booming Sector and De-Industrialization in a Small Open Economy", Economic Journal, 92, pp. 825-848, United Kingdom.
Viện Chiến lược Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (1999) "Tổng quan về cạnh tranh công nghiệp Việt Nam", Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia.
Lê Việt Đức (1999) "Nới lỏng tiền tệ để chống thiểu phát", Thời báo kinh tế Việt Nam, số 63, 7/8/1999.
Solow R. M. (1956) "A Contribution to the Theory of Economic Growth", Quarterly Journal of Economics, February 1956, Reprinted in Amartya Sen (ed) "Growth Economics".
Solow R. M. (1957) "Technical Change and the Aggrigate Production Funtion", Review of Economics and Statistics, No 39, 1957
Stoneman C (1975) "Foreign Capital and Economic Growth" World Development, Vol.3, No.1, January, 1975.
Summers L. H. (1988) "Tax Policy and International Competitiveness" trong Frankel J. A. eds. International Aspects of Fiscal Policies, University of Chicago Press.
Taylor A. M. (1993) "The Rocky Road to Reform, Adjustment, Income Distribution and Growth in Developing Countries", Cambridge, The MIT Press.
Taylor A. M. (1994) "Domestic Saving and International Capital Flows Reconsidered", NBER Working Papers 4892, Cambridge,
Tesar L. L. và Werner I. M. (1992) "Home Bias and the Globalization of Securities Markets", NBER Working Papers 4218, Cambridge,
Trumbull W. N. and Wall H. J. (1994) "Estimating Aid - Allocation Criteria with Panel Data", Economic Journal, 104
United Nations (1999) "World Investment Report", 1999.
UN Economic and Social Council (1963), dẫn lại trong Misra (1988).
Young Alwyn (1994b) "Lessons from the East Asian NICs: A Contrarian View", European Economic Review 38, pp 964-973
Weisskopf T.E. "The Impact of Foreign Capital Inflow on Domestic Savings in Underdeveloped Countries", Journal of International Economics, Vol 2, No.1, February 1972
World Bank (1993) " East Asian Miracle" và nhiều ấn phẩm tiếp theo
Wrong Y.C. Richard (1999) "Lessons from the Asian Financial Crisis", Cato Journal 18(3), pp 391-98.

(16) Phân tích, dự báo kinh tế vĩ mô đến năm 2010

Bài viết cũ của tôi năm 2004:
Phân tích, dự báo một số khả năng phát triển kinh tế đến năm 2010
        3.2)  Kết quả dự báo theo phương án dự báo lạc quan cho giai đoạn 2006-2010:
Kết quả dự báo từ mô hình được thể hiện trong bảng ở trang sau. Một số điểm chính của kết quả dự báo là tốc độ tăng trưởng GDP trong 5 năm 2006-2010 trung bình khoảng 9,2%/năm, tức là cao hơn đáng kể so với kết quả dự báo trong phương án cơ bản. Kết quả dự báo cũng cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP có xu hướng tăng dần qua các năm, năm 2005 là 8,6%, năm 2006 là 8,7%, năm 2007 là 8,9%, năm 2008 là 9,2%, năm 2009 là 9,5% và năm 2010 là 9,75%. Đến năm 2009-2010 tốc độ tăng trưởng GDP đã đạt được mức cao nhất đã đạt  được trong những năm giữa thập kỷ 90 của thế kỷ trước (9,5%).
          Về tốc độ tăng trưởng của các khu vực kinh tế, dự báo qua mô hình cho thấy tốc độ tăng trưởng trong 5 năm tới của khu vực nông nghiệp trung bình đạt 4,3%/năm, của khu vực công nghiệp đạt 12,3%, của khu vực dịch vụ đạt 8%. Như vậy so với phương án cơ bản, trong phương án này, tăng trưởng của nền kinh tế nước ta trong 5 năm tới sẽ dựa chủ yếu vào đẩy nhanh sự phát triển khu vực công nghiệp trong khi khu vực dịch vụ và khu vực nông nghiệp đều sẽ tăng trưởng cao hơn, song không quá mạnh. Đóng góp của khu vực dịch vụ vào tăng trưởng chung toàn nền kinh tế sẽ ngày càng cao trong nền kinh tế.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm 2006-2010 dự báo đạt 2659 nghìn tỷ đồng, tăng 24,3%/ năm. Đáng chú ý là trong phương án này, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước sẽ tăng trưởng chậm lại so với phương án cơ bản, trong khi các nguồn vốn khác sẽ tăng nhanh hơn.
Tổng thu ngân sách trong 5 năm 2006-2010 dự báo theo mô hình sẽ đạt 1738 nghìn tỷ đồng, tăng 20,9%/năm. Tỷ lệ thu ngân sách trên GDP đạt 20,7%. Tổng chi ngân sách trong 5 năm 2006-2010 theo dự báo của mô hình sẽ đạt 2196 nghìn tỷ đồng, tăng 21,7%/năm. Tỷ lệ chi ngân sách trên GDP đạt 26,1%. Tỷ lệ thâm hụt ngân sách theo mô hình là 5,45% GDP trong khi theo cách tính của Bộ Tài chính là 4,9%.
Về giá cả, theo phương án cao, tỷ lệ lạm phát trong  5 năm 2006-2010 sẽ tăng lên so với phương án cơ bản. Tỷ lệ lạm phát năm 2005 là 7,5%, dự báo năm 2006 sẽ tăng lên 8,3%, năm 2007 lên 11%, năm 2008 lên 12,6%, năm 2009 lên 14% và năm 2010 lên 15,5%. Tính chung, tỷ lệ lạm phát trung bình 5 năm 2006-2010 đạt 12,4% trong khi dự báo theo phương án cơ bản là 11%.
Hoạt động ngoại thương trong 5 năm tới tiếp tục phát triển mạnh. Dự báo xuất khẩu năm 2010 sẽ đạt xấp xỉ 76,8 tỷ USD; tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm sẽ đạt 281 tỷ USD, tăng 19,8%/năm. Nhập khẩu năm 2010 dự báo qua mô hình sẽ đạt xấp xỉ 89,7 tỷ USD. Tính chung 5 năm, kim ngạch nhập khẩu đạt 314 tỷ USD, tăng 21,7%/năm.
Do tốc độ tăng trưởng nhập khẩu cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, thâm hụt ngoại thương sẽ tăng mạnh từ khoảng 3,4 tỷ USD năm 2005 lên 12,9 tỷ USD năm 2010. Tuy nhiên, do GDP tăng trưởng mạnh nên tỷ lệ thâm hụt ngoại thương trên GDP sẽ giảm từ 6,3% năm 2005 xuống còn 4,9% năm 2007, sau đó sẽ tăng dần lên tới 8,9% năm 2010. Như vậy trong phương án tăng trưởng cao, tỷ lệ thâm hụt ngoại thương trên GDP vẫn nằm trong tầm chấp nhận được.
Tóm lại, nhìn chung phương án dự báo lạc quan về các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô giai đoạn 2006-2010 cho thấy tình hình phát triển kinh tế 5 năm tới sẽ rất khả quan vì hầu hết các chỉ tiêu đều trong giới hạn chấp nhận được hoặc an toàn, tốc độ tăng trưởng GDP khá cao... Tuy nhiên, tương tự như trong phương án dự báo cơ bản, cần lưu ý vấn đề kiểm soát tỷ giá và cán cân ngoại thương vì nếu không, tình hình vào những năm cuối kỳ kế hoạch có thể xấu đi rất nhanh.
          4) Phương án dự báo phát triển trung hạn bi quan:
Phương án dự báo bi quan được xây dựng ngược với phương án lạc quan nêu trên. Theo phương án này, thay vì các chỉ tiêu đầu vào tích cực hơn so với phương án dự báo cơ bản như đã thực hiện ở trên, chúng tôi giả định các chỉ tiêu này sẽ ở mức bất lợi hơn đối với tăng trưởng so với phương án dự báo cơ bản. Đặc biệt, trong phương án này, giả định chính phủ sẽ giảm tỷ lệ thâm hụt ngân sách trên GDP xuống còn 4% để phòng ngừa nguy cơ lạm phát. Khi đó, kết quả dự báo một số chỉ tiêu chính như sau:
Tốc độ tăng trưởng GDP trong 5 năm 2006-2010 trung bình khoảng 7,4%/năm, tức là chỉ ngangvới kết quả đạt được trong thực hiện kế hoạch 5 năm 2001-2005 và thấp hơn đáng kể so với kết quả dự báo trong phương án cơ bản. Kết quả dự báo cũng cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP có xu hướng tăng dần qua các năm, năm 2006 là 7%, năm 2007 là 7,2%, năm 2008 là 7,4%, năm 2009 là 7,6% và năm 2010 là 7,8%.
          Về tốc độ tăng trưởng của các khu vực kinh tế, dự báo qua mô hình cho thấy tốc độ tăng trưởng trong 5 năm tới của khu vực nông nghiệp trung bình đạt 3,6%/năm, của khu vực công nghiệp đạt 9,5%, của khu vực dịch vụ đạt 7%. Như vậy so với phương án cơ bản, trong phương án này, tăng trưởng trong 5 năm tới của khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ sẽ chậm lại đáng kể trong khi khu vực nông nghiệp chỉ giảm tốc độ tăng trưởng ở mức thấp hơn. Tuy nhiên, đóng góp của khu vực dịch vụ vào tăng trưởng chung toàn nền kinh tế cũng sẽ ngày càng cao trong nền kinh tế. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm 2006-2010 dự báo đạt 2180 nghìn tỷ đồng, tăng 19,3%/ năm.
Tổng thu ngân sách trong 5 năm 2006-2010 dự báo theo mô hình sẽ đạt 1496 nghìn tỷ đồng, tăng 16,2%/năm. Tỷ lệ thu ngân sách trên GDP trung bình đạt 21,4%. Tổng chi ngân sách trong 5 năm 2006-2010 theo dự báo của mô hình sẽ đạt 1814 nghìn tỷ đồng, tăng 16,7%/năm. Tỷ lệ chi ngân sách trên GDP trung bình đạt 26%. Tỷ lệ thâm hụt ngân sách theo mô hình là 4,55% GDP trong khi theo cách tính của Bộ Tài chính là 4%.
Về giá cả, theo phương án tăng trưởng thấp này, tỷ lệ lạm phát trong 5 năm 2006-2010 sẽ giảm so với phương án cơ bản do tốc độ tăng trưởng kinh tế và tăng trưởng tiền tệ đều chậm hơn. Tỷ lệ lạm phát năm 2005 là 6,5%, dự báo năm 2006 sẽ tăng lên 7,1%, năm 2007 lên 8%, năm 2008 lên 9%, năm 2009 lên 10,1% và năm 2010 lên 11,2%. Tính chung, tỷ lệ lạm phát trung bình 5 năm 2006-2010 đạt 9% trong khi dự báo theo phương án cơ bản là 11%.
Hoạt động ngoại thương trong 5 năm tới tiếp tục phát triển. Dự báo xuất khẩu năm 2010 sẽ đạt xấp xỉ 60 tỷ USD; tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm sẽ đạt 234 tỷ USD, tăng 14,9%/năm. Nhập khẩu năm 2010 dự báo qua mô hình sẽ đạt xấp xỉ 72,2 tỷ USD. Tính chung 5 năm, kim ngạch nhập khẩu đạt 270 tỷ USD, tăng 16,8%/năm.
Như vậy, theo phương án này, kim ngạch xuất khẩu sẽ tăng mạnh hơn so với phương án cơ bản; ngược lại kim ngạch nhập khẩu sẽ tăng trưởng chậm lại. Nguyên nhân chủ yếu là do tốc độ tăng giá trong phương án này thấp dẫn đến chênh lệch giá tương đối giữa giá hàng xuất và giá hàng nhập thay đổi có lợi cho xuất khẩu. Do tốc độ tăng trưởng nhập khẩu cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, thâm hụt ngoại thương sẽ tăng mạnh từ khoảng 3,5 tỷ USD năm 2005 lên 10,3 tỷ USD năm 2010. Tỷ lệ thâm hụt ngoại thương trên GDP sẽ tăng từ 6,6% năm 2005 lên 11,2% năm 2010. Như vậy trong phương án tăng trưởng này, tỷ lệ thâm hụt ngoại thương trên GDP vẫn nằm trong tầm chấp nhận được.
Như vậy, nhìn chung phương án dự báo thấp cho giai đoạn 5 năm 2006-2010 cho thấy tình hình kinh tế trong kế hoạch 5 năm vẫn tương đối khả quan vì hầu hết các chỉ tiêu đều trong giới hạn chấp nhận được hoặc an toàn mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP có thể sẽ không đạt các mục tiêu cao hơn do Quốc hội đề ra trong kế hoạch 5 năm tới.


KẾT LUẬN CHUNG VỀ QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG
MÔ HÌNH VMEM-2004 VÀ MỘT SỐ NHẬN XÉT
TRÊN CƠ SỞ CÁC DỰ BÁO RÚT RA TỪ MÔ HÌNH

          Mô hình hoá kinh tế lượng là một trong những ngành khoa học còn rất mới mẻ ở nước ta trong khi nó được coi là một công cụ không thể thiếu được trong hoạch định chính sách kinh tế và xây dựng các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội ở phần lớn các nước trên thế giới. Đặc biệt, trong quá trình xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010, một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và cần được triển khai thực hiện ngay là xây dựng các dự báo tăng trưởng và phát triển trung hạn của nền kinh tế từ này đến năm 2010. Để thực hiện được mục tiêu này, nếu không sử dụng công cụ mô hình hoá thì rất khó tạo ra được các dự báo cân đối và khớp nhau. Nhận thức được nhu cầu này, gần đây, nhiều cơ quan quản lý kinh tế nước ta đã bắt đầu đặt vấn đề nghiên cứu thử nghiệm xây dựng các mô hình kinh tế lượng trung hạn để phục vụ nhiệm vụ phân tích, dự báo đến năm 2010 của các cơ quan đó .
Đề tài "Dự báo một số khả năng phát triển kinh tế đến năm 2010 bằng mô hình kinh tế lượng" được thực hiện tại Vụ Tổng hợp Kinh tế quốc dân, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhằm thiết thực thực hiện chủ trương tăng cường sử dụng các công cụ hiện đại, trong đó có công cụ toán kinh tế và mô hình hoá, vào xây dựng và điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm tới của lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã đi từ phân tích những mối quan hệ giữa các chỉ tiêu kinh tế cơ bản của nền kinh tế trong chương 1 tới phác thảo và thử nghiệm xây dựng một mô hình kinh tế lượng quy mô nhỏ nhỏ với chuỗi số liệu năm trong chương 2; cuối cùng chúng tôi đã sử dụng mô hình xây dựng được để thực hiện 3 phương án dự báo cơ bản trong chương 3.
Qua quá trình xây dựng và sử dụng mô hình trong phân tích kinh tế và dự báo ngắn hạn, chúng tôi đã rút ra một số nhận xét sau:
Các phân tích trong chương 1 đã chỉ ra rằng quá trình tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nước ta trong gần 20 năm qua đã diễn ra qua hai giai đoạn. Trong giai đoạn đầu, nguồn gốc chính của những thành tựu kinh tế vĩ mô trong giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh là tăng trưởng đầu tư, trong đó đầu tư vừa đóng vai trò nhân tố cung, vừa đóng vai trò nhân tố cầu. Trong giai đoạn 2, đặc biệt là trong những năm gần đây, những nhân tố cầu như tiêu dùng và xuất khẩu cũng đóng vai trò khá quan trọng, trong đó nổi bật là vai trò của những nhân tố cầu đã tăng lên rất mạnh.
Tuy nhiên, nhìn về trung hạn, các nhân tố cung vẫn đóng vai trò quyết định, do đó căn cứ vào đặc điểm trên, để xây dựng các mô hình dự báo trung hạn cho nền kinh tế nước ta phục vụ việc phân tích, dự báo các khả năng tăng trưởng kinh tế đến năm 2010, cần phải đi theo tiếp cận của mô hình cung, trong đó có bổ sung một số nhân tố cầu. Loại mô hình này cũng đã và đang được xây dựng tại nhiều nước đang phát triển do đặc điểm của các nền kinh tế đo là các nhân tố cung và cầu tác động xen kẽ nhau; các mô hình này thường được gọi là mô hình hỗn hợp nửa cung nửa cầu. Mô hình ở đây cũng là một dạng của mô hình nửa cung nửa cầu nhưng vai trò của nhân tố cung quan trọng hơn.
Những lập luận lô gíc trong chương 1 cũng cho thấy tiến triển của khu vực thực (khu vực sản xuất, đầu tư) có quan hệ mật thiết với tiến triển của khu vực tài chính, tiền tệ: Tiến triển của lãi suất thực có ảnh hưởng lớn tới đầu tư trong khi những thay đổi của tổng cung tiền tệ có ảnh hưởng mạnh tới tỷ lệ lạm phát và qua đó tác động tới môi trường đầu tư và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, vai trò của chính sách tiền tệ đối với tăng trưởng kinh tế không mạnh vì tăng trưởng tiền tệ thường bị động và tăng trưởng tín dụng không thực sự đi đôi với tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Ngược lại với chính sách tiền tệ, chính sách tài chính đã tỏ ra có tác động mạnh tới tốc độ tăng trưởng kinh tế. Điều này là hoàn toàn hợp lý vì một mặt, chính phủ đã không dùng biện pháp phát hành tiền tệ để bù đắp thâm hụt ngân sách; mặt khác, đã tích cực sử dụng công cụ phát hành trái phiếu, tín phiếu (trước đây hầu như không làm) để huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân vào mục tiêu tăng trưởng. Thực tế, giảm tỷ lệ động viên vào ngân sách và tăng tỷ lệ chi ngân sách đều có tác dụng tích cực làm tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế mặc dù quá trình này có thể trễ 6 tháng đến 1 năm. Ngoài ra, mặc dù những biến động của tỷ giá tuy ảnh hưởng không lớn tới tỷ lệ lạm phát nhưng chúng có ảnh hưởng rất quan trọng tới hoạt động xuất nhập khẩu và điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế.
Quá trình xây dựng mô hình kinh tế lượng trong chương 2 cho thấy hầu hết các quan hệ kinh tế vĩ mô trong nền kinh tế nước ta đều phù hợp với lập luận trong các lý thuyết kinh tế thị trường và phù hợp với những phân tích thực hiện trong chương 1. Điều này chứng tỏ về mặt trung hạn, nền kinh tế thị trường ở nước ta, dù còn nhiều méo mó và chưa hoàn chỉnh, nhưng cũng đã thực sự vận hành trên cơ sở những quy luật khách quan chung của cơ chế kinh tế thị trường như ở các nền kinh tế thị trường khác.
Lô gíc cơ bản của mô hình cũng tương tự như những phân tích trong chương 1. Dân số nước ta tiếp tục tăng trưởng theo xu thế với tốc độ tăng trưởng giảm dần. Tốc độ tăng trưởng nguồn cung lao động tiếp tục được duy trì ở mức cao do tác động của bùng nổ dân số giữa những năm 80 của thế kỷ trước. Thu hút lao động vào các ngành và toàn nền kinh tế phụ thuộc vào nhu cầu của nền kinh tế (khả năng tăng trưởng kinh tế) nhưng cũng tác động trở lại tăng trưởng kinh tế.
Trong khối thực, huy động vốn vào hệ thống ngân hàng phụ thuộc vào lãi suất huy động và xu thế đã hình thành trong quá khứ nhưng nhân tố xu thế có vai trò quyết định; ảnh hưởng của lãi suất không lớn. Nguồn cung tín dụng cho nền kinh tế phụ thuộc vào khả năng huy động vốn của hệ thống ngân hàng và tích luỹ trước đây của nền kinh tế, trong đó chỉ tiêu cuối cùng này được đại diện bằng tổng sản phẩm trong nước năm trước. Đầu tư của khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân phụ thuộc vào nguồn tín dụng, lãi suất, chi ngân sách Nhà nước cho đầu tư, quy mô nền kinh tế và xu thế đã hình thành trong quá khứ.
Tăng trưởng của các khu vực kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào hai nhân tố là tổng số lao động và tổng tích luỹ tài sản cố định, trong đó tổng tích luỹ tài sản cố định được đại diện bằng tổng vốn đầu tư cộng dồn từ năm 1990 đến năm tính toán. Ngoài ra, tăng trưởng của khu vực nông nghiệp còn phụ thuộc vào xu thế quá khứ, phản ánh sức ỳ của sản xuất nông nghiệp; tăng trưởng của khu vực công nghiệp còn phụ thuộc vào nhập khẩu đầu vào phục vụ sản xuất...
Về tiêu dùng, trong khi tiêu dùng chính phủ là biến ngoại sinh, phụ thuộc hoàn toàn vào quyết định chính sách của chính phủ thì tiêu dùng tư nhân phụ thuộc vào thu nhập của năm trước (GDP trừ đi thuế) và vào xu hướng tiêu dùng đã hình thành trong quá khứ hay thu nhập mang tính dài hạn (thu nhập thường xuyên).
Trong khối tài chính tiền tệ, về hoạt động ngân sách, tổng thu ngân sách gồm thu nội địa, thu từ hoạt động xuất nhập khẩu và thu từ dầu thô, trong đó thu nội địa hàng năm phụ thuộc vào quy mô của nền kinh tế; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu phụ thuộc vào kim ngạch nhập khẩu tính theo ngoại tệ, tỷ giá và xu thế; thu từ dầu thô phụ thuộc vào khối lượng, giá cả xuất khẩu dầu và tỷ giá.
Tổng chi ngân sách được xác định căn cứ vào tổng thu ngân sách và tỷ lệ thâm hụt ngân sách trên GDP do Quốc hội thông qua (biến cuối này là biến ngoại sinh). Tổng chi ngân sách thường xuyên phụ thuộc vào tổng thu ngân sách cùng năm. Do đó tổng chi ngân sách cho mục đích đầu tư phát triển là phần còn lại của tổng chi ngân sách sau khi đã chi cho tiêu dùng thường xuyên và chi trả nợ, viện trợ chính phủ. Tỷ lệ lạm phát giá hàng tiêu dùng phụ thuộc vào tốc độ tăng giá hàng nhập khẩu tính theo ngoại tệ, biến động của tỷ giá, tốc độ tăng trưởng tổng cung tiền tệ, tỷ lệ lạm phát năm trước và lãi suất huy động tiền gửi ngắn hạn.
Về hoạt động ngoại thương, trong khi xuất khẩu chủ yếu phụ thuộc vào nhu cầu nhập khẩu hàng Việt Nam của các nước bạn hàng chính và khả năng cạnh tranh về giá cả của hàng xuất khẩu nước ta thì nhập khẩu phụ thuộc chủ yếu vào quy mô của nền kinh tế (GDP) và quan hệ cánh kéo giá trong nước và quốc tế đối với hàng nhập khẩu và thay thế nhập khẩu. Các yếu tố đầu tư, tiêu dùng, xuất và nhập khẩu tham gia vào phương trình cân bằng tổng sản phẩm trong nước theo giá cố định và theo giá hiện hành, và chính quy mô của nền kinh tế (GDP) này đến lượt mình lại trở thành tổng cầu và tác động tới các chỉ tiêu đầu tư, tiêu dùng, xuất và nhập khẩu, và các chỉ tiêu tài chính tiền tệ trong vòng tiếp sau.
Phân tích mô hình có thể nhận thấy một số cơ chế kinh tế tạo thành các vòng xoáy xác định các chỉ tiêu thuộc nhiều khối; ví dụ như cơ chế tăng trưởng và phát triển, cơ chế thu chi ngân sách, cơ chế tiền tệ và giá cả, cơ chế xuất nhập khẩu... Hầu hết các cơ chế này đều là cơ chế động, tức là dù chỉ thực hiện giải pháp kinh tế một lần nhưng nó sẽ có tác động dây truyền gây nhiều biến động (lớn hoặc nhỏ) cho nền kinh tế rồi mới đưa nền kinh tế hội tụ về điểm cân bằng mới. Hơn nữa, ảnh hưởng của chúng thường kéo dài sang nhiều năm tiếp theo. Dựa trên các cơ chế này, có thể hiểu rõ hơn vai trò của chính sách kích cầu cũng như kích cung trong nước và phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế ở nước ngoài tới phục hồi và tăng trưởng của nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây.
Về các dự báo xây dựng trong chương 3: Trước khi sử dụng mô hình vào mục đích dự báo trung hạn đến năm 2010, chúng tôi đã xây dựng 3 kịch bản làm đầu vào cho mô hình, gồm kịch bản cơ bản, kịch bản cao và kịch bản thấp, tạo thành 3 phương án dự báo cơ sở, lạc quan và bi quan.
Sử dụng mô hình để dự báo cho thấy nhìn chung nền kinh tế nước ta sẽ tiếp tục tăng trưởng khả quan trong kế hoạch 5 năm tới. Tốc độ tăng trưởng GDP có thể đạt từ 7,4%/năm (phương án bi quan) đến 9,2%/năm (phương án lạc quan) tuỳ theo môi trường thuận lợi hay khó khăn, chính sách tài chính tiền tệ mở rộng hay thắt chặt, và nhất là chất lượng tăng trưởng được cải thiện nhiều hay ít.
Phương án dự báo cơ bản cho thấy nếu như tình hình kinh tế thế giới tiếp tục được cải thiện và tăng trưởng mạnh trong kế hoạch 5 năm tới trong khi các chính sách kích cầu và kích cung (tuỳ từng mặt) trong nước được triển khai thuận lợi và có hiệu quả theo đúng dự kiến của Chính phủ thì tốc độ tăng trưởng kinh tế nước ta sẽ tăng khá nhanh trong 5 năm 2006-2010; hơn nữa, tốc độ tăng trưởng kinh tế có khả năng sẽ liên tục tăng lên qua các năm như đã diễn ra từ năm 1999 đến nay.
Xuất khẩu dự báo cũng sẽ tăng trưởng khá mạnh nhưng do nhập khẩu tăng trưởng nhanh hơn nên tỷ lệ thâm hụt ngoại thương trên GDP cũng sẽ tăng lên. Tuy nhiên, mức tăng đến năm 2010 vẫn chưa vượt qua những mức trước đây và vẫn nằm trong tầm chấp nhận được mặc dù phải chú ý phân tích để kịp thời có thể điều chỉnh chính sách nhằm ngăn ngừa cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán quốc tế.
Đáng lo ngại là tỷ lệ lạm phát sẽ tăng lên với tốc độ ngày càng nhanh và từ năm 2008 có thể sẽ vượt 10% tức là nằm ngoài tầm kiểm soát của Chính phủ. Do đó cũng như đối với cán cân ngoại thương, cần chú ý theo dõi biến động của tỷ lệ lạm phát, phân tích kỹ hơn nguyên nhân của hiện tượng này ở nước ta để đề ra các giải pháp hữu hiệu phòng ngừa ngay từ năm tới.
Do các chỉ tiêu dự báo trong phương án dự báo cơ bản là khá tốt nên ngay cả khi tình hình kinh tế thế giới có xấu hơn dự kiến và việc thực hiện các chính sách trong nước, kể cả các chính sách nhằm tăng cường chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, có không đạt được mục tiêu đầy tham vọng đặt ra, thì nền kinh tế nước ta vẫn có khả năng đạt tốc độ tăng trưởng khoảng trên 7%/năm, trong khi tỷ lệ lạm phát giảm về mức ôn hoà hơn. Ngược lại, nếu như môi trường trong nước và quốc tế thuận lợi hơn, thì tốc độ tăng trưởng kinh tế có thể cao hơn 9%/năm trong khi tỷ lệ lạm phát trung bình chỉ lên tới 12,4%/năm.
Kết luận chung: Các dự báo từ mô hình cho thấy kinh tế nước ta trong kế hoạch 5 năm 2006-2010 sẽ tiếp tục phát triển mạnh và các chỉ tiêu ổn định vĩ mô đều cơ bản nằm trong tầm kiểm của Chính phủ.

(15) Phân tích, dự báo kinh tế vĩ mô đến năm 2010

Bài viết cũ của tôi năm 2004:
Phân tích, dự báo một số khả năng phát triển kinh tế đến năm 2010
MỤC II: THỬ NGHIỆM DỰ BÁO MỘT SỐ KHẢ NĂNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NƯỚC TA GIAI ĐOẠN 2005-2010
Khâu thực hiện dự báo gồm ba bước cuối của quy trình mô hình hoá: Xây dựng các kịch bản phát triển; sử dụng mô hình để tính giá trị các biến nội sinh; và phân tích kết quả, lựa chọn phương án dự báo hợp lý nhất.
1) Xây dựng các kịch bản phát triển
          Trong phân tích, dự báo, người ta thường xây dựng ba loại kịch bản về khả năng phát triển tương lai của các biến ngoại sinh; gồm kịch bản nền hay kịch bản trung tâm, kịch bản bi quan và kịch bản lạc quan. Trong khâu chuẩn bị thông tin cho quá trình dự báo ở trên, chúng ta đã xác định được giá trị xu thế của tất cả các biến ngoại sinh; tập hợp chúng lại sẽ tạo thành kịch bản cơ bản hay kịch bản trung tâm để dự báo. Để xây dựng kịch bản bi quan, chúng tôi điều chỉnh giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới và giảm khả năng thực hiện một số chính sách kích cung hoặc kích cầu. Tương tự, kịch bản lạc quan được xây dựng trên cơ sở môi trường kinh tế quốc tế thuận lợi hơn và chính sách kích cung hoặc cầu được thực hiện theo đúng kế hoạch với hiệu quả cao hơn. Những kịch bản này sẽ được đưa vào làm đầu vào dự báo.

          Trong khuôn khổ báo cáo đề tài, dưới đây xin trình bày 3 phương án dự báo cơ bản: Phương án cơ sở, phương án lạc quan và phương án dự báo bi quan.
          2) Dự báo khả năng phát triển trung hạn cơ bản:
          Bốn bảng số trang sau trình bày kết quả dự báo khả năng phát triển dễ xảy ra nhất cho nền kinh tế nước ta trong giai đoạn từ nay đến năm 2010.
          2.1) Về khả năng phát triển năm 2005:
Theo dự báo này, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2005 là 7,5%, tương đương với tốc độ tăng trưởng GDP năm 2004 nhưng thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng dự kiến trong kế hoạch 2005 đã được Quốc hội thông qua là 8,5%. Việc tốc độ tăng trưởng GDP năm 2005 của ta chỉ tương đương hoặc giảm nhẹ so với tốc độ tăng trưởng GDP năm 2004 (7,6%) là phù hợp với dự báo chung của các nền kinh tế trên thế giới. Điều này hoàn toàn có thể xảy ra do kinh tế thế giới giảm sút sẽ ảnh hưởng bất lợi tới tăng trưởng của nền kinh tế nước ta, đồng thời do những khó khăn tích tụ từ lâu trong nền kinh tế chậm được giải quyết sẽ tiếp tục hạn chế tốc độ tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới.
          Tương tự, với những số liệu trong bảng, có thể xác định tốc độ tăng trưởng của các ngành kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ), xác định nhu cầu tín dụng và nhu cầu đầu tư cho nền kinh tế cũng như cho khu vực Nhà nước và khu vực tư nhân. Theo tính toán từ mô hình, tốc độ tăng trưởng năm 2005 của khu vực nông nghiệp đạt 3,9%, của khu vực công nghiệp đạt 9,6%, của khu vực dịch vụ đạt 7,2%. Như vậy, so với năm 2004, tốc độ tăng trưởng của khu vực nông nghiệp tăng lên, và của khu vực dịch vụ ổn định, nhưng tốc độ tăng trưởng của khu vực công nghiệp giảm xuống. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2005 đạt 250 nghìn tỷ đồng, tăng 19,1% so với năm 2004.
Về ngân sách, tổng thu ngân sách dự báo theo mô hình sẽ đạt 190,7 nghìn tỷ đồng, tăng 14,5% so với năm 2004, trong đó thu nội địa đạt 107 nghìn tỷ đồng, tăng 16,6%, thu từ thuế xuất nhập khẩu đạt 41,9 nghìn tỷ đồng, tăng 18%, thu từ dầu mỏ đạt 39,7 nghìn tỷ đồng, tăng 6,9%. Tỷ lệ thu ngân sách trên GDP đạt 23%.
Tổng chi ngân sách theo dự báo của mô hình sẽ đạt 236,1 nghìn tỷ đồng, tăng 14,8% so với ước thực hiện năm 2004, trong đó chi thường xuyên đạt 123,3 nghìn tỷ đồng, tăng 25,4%, chi đầu tư phát triển đạt 67,7 nghìn tỷ đồng, tăng 9,1%. Tỷ lệ chi ngân sách trên GDP đạt 28,5%.
Tỷ lệ thâm hụt ngân sách theo mô hình là 5,45% GDP trong khi theo cách tính của Bộ Tài chính là 4,9%.
Về giá cả, tỷ lệ lạm phát trong năm 2005 sẽ tiếp tục trong tầm kiểm soát, dự kiến khoảng 7,5%. Nguyên nhân chính là tốc độ tăng trưởng GDP giảm nhẹ, đồng tốc độ tăng trưởng tiền tệ chậm (khoảng 20%), lãi suất thấp và tỷ giá không có biến động lớn. Như vậy, đến hết năm 2005, có thể nói nền kinh tế sẽ hoàn toàn ra khỏi tình trạng thiểu phát kéo dài trong những năm tăng trưởng thấp 1999-2002.
Hoạt động ngoại thương tiếp tục phát triển. Dự báo xuất khẩu năm 2005 sẽ đạt khoảng 30,2 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2004, trong đó xuất khẩu hàng nông sản đạt khoảng 7,6 tỷ USD, xuất khẩu hàng công nghiệp nặng và khoáng sản đạt khoảng 9,7 tỷ USD, xuất khẩu hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp khoảng 13 tỷ USD.
Nhập khẩu năm 2005 dự báo qua mô hình sẽ đạt 33,6 tỷ USD, tăng  13,3% so với năm 2004. Nhờ tốc độ tăng trưởng xuất khẩu cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng nhập khẩu, thâm hụt ngoại thương sẽ giảm từ khoảng 4,1 tỷ USD năm 2004 xuống còn 3,4 tỷ USD năm 2005. Tỷ lệ thâm hụt ngoại thương trên GDP sẽ giảm từ 9,1% xuống còn 6,6%.
Như vậy, nhìn chung phương án dự báo năm 2005 cho thấy tình hình kinh tế năm 2005 tương đối khả quan vì hầu hết các chỉ tiêu đều trong giới hạn chấp nhận được hoặc an toàn mặc dù tốc độ tăng trưởng GDP không đạt mục tiêu do Quốc hội đề ra và có thể sẽ thấp hơn một chút so với năm 2004.
          2.2) Về khả năng phát triển từ năm 2006 đến năm 2010 theo phương án cơ bản:
Do tính chất phát triển theo tiềm năng của các nền kinh tế trong giai đoạn trung hạn, trong các báo cáo kinh tế, thông thường người ta không nêu dự báo cụ thể cho từng năm mà chỉ nêu dự báo trung bình cho cả 5 năm và dự báo cho năm cuối. Do vậy, dưới đây, xin trình bày kết quả dự báo khả năng phát triển cơ bản của nền kinh tế nước ta từ năm 2006 đến năm 2010 theo cách làm phổ biến trên.
a) Về dân số và lao động:
Kết quả tính toán từ mô hình cho thấy trong kế hoạch 5 năm tới, dân số nước ta sẽ tăng trưởng với tốc độ 1,23%/năm; đến năm 2010 quy mô dân số sẽ đạt 88,3 triệu người.
Do tốc độ tăng trưởng dân số những năm 80 của thế kỷ trước còn khá cao nên số người đến tuổi lao động trong kế hoạch 5 năm tới cũng khá lớn. Nguồn cung lao động dự báo sẽ tăng khoảng 2,08%/năm. Đến năm 2010, nước ta sẽ có 55,6 triệu người trong độ tuổi lao động.
Nhờ các chính sách tạo việc làm của Chính phủ và sự phát triển khá nhanh của nền kinh tế trong 5 năm tới, tốc độ thu hút lao động vào làm việc trong nền kinh tế sẽ tăng nhanh, dự báo khoảng 3,75%/năm, trong đó lao động trong khu vực dịch vụ tăng nhanh nhất, khoảng 8,7%/năm, tiếp đến là lao động trong khu vực công nghiệp, khoảng 4,7%, cuối cùng là lao động trong khu vực nông nghiệp, khoảng 1,25%. Đến năm 2010, lao động nông nghiệp chỉ còn chiếm 53,4% trong tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế (năm 2005 là 60,3%), lao động công nghiệp chiếm 16,6% (năm 2005 là 15,9%), lao động dịch vụ chiếm 30% (năm 2005 là 23,8%).
Nhờ thu hút được nhiều lao động vào làm việc trong nền kinh tế, số người trong độ tuổi lao động nhưng chưa giải quyết được việc làm đã giảm từ 6,03 triệu người năm 2005 xuống còn 2,6 triệu người năm 2010. Tỷ lệ số người trong độ tuổi lao động nhưng chưa giải quyết được việc làm trên tổng số người trong độ tuổi lao động tương ứng giảm từ 13% xuống còn 4,6%. Như vậy, với tốc độ tăng trưởng kinh tế dự báo tăng khá nhanh đồng thời tốc độ tăng trưởng nguồn nhân lực chậm lại, số người và tỷ lệ người trong độ tuổi lao động chưa có việc làm đều giảm khá mạnh.
b) Về sản xuất và đầu tư:
Theo dự báo rút ra từ mô hình, tốc độ tăng trưởng GDP trong năm 2006-2010 trung bình khoảng 8-8,1%/năm, tức là tương đương với tốc độ tăng trưởng ở mức cao dự kiến trong khung kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006-2010 do Bộ Kế hoạch và Đầu tư soạn thảo trình Chính phủ (7,5-8%), đồng thời cao hơn đáng kể so với kết quả thực hiện trong kế hoạch 5 năm 2001-2005 (7,4-7,5%). Việc tốc độ tăng trưởng GDP trong 5 năm tới tăng khá so với tốc độ tăng trưởng GDP của 5 năm trước là phù hợp với dự báo chung của các nền kinh tế trên thế giới và phù hợp với giai đoạn phát triển mới của Việt Nam, giai đoạn đẩy mạnh hơn nữa tốc độ công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong bối cảnh có nhiều thuận lợi mới do hội nhập quốc tế đem lại.
Kết quả dự báo cơ bản cũng cho thấy tốc độ tăng trưởng GDP có xu hướng tăng dần qua các năm nhưng tốc độ tăng không quá nhanh, năm 2006 là 7,7%, năm 2007 là 7,8%, năm 2008 là 8,05%, năm 2009 là 8,3% và năm 2010 là 8,5%; đến năm 2010 tốc độ tăng trưởng GDP vẫn chưa lên đến mức cao nhất đã đạt  được trong những năm giữa thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Mặt khác, khác với những giai đoạn trước trong đó tốc độ tăng trưởng GDP thường không ổn định (tăng lên quá nhanh hoặc giảm xuống quá nhanh), tốc độ tăng trưởng GDP trong 5 năm tới sẽ tương đối ổn định, phù hợp với dự báo xu thế chung của thế giới và phù hợp với tình hình đã diễn ra trong nền kinh tế nước ta 5 năm 2001-2005 (khi đó tốc độ tăng trưởng GDP cũng liên tục tăng lên, nhưng chỉ tăng từ từ).
          Về tốc độ tăng trưởng của các khu vực kinh tế (công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ), dự báo qua mô hình cho thấy tốc độ tăng trưởng trong 5 năm tới của khu vực nông nghiệp trung bình đạt 3,8%/năm, của khu vực công nghiệp đạt 10,4%, của khu vực dịch vụ đạt 7,6%. Như vậy tăng trưởng của nền kinh tế nước ta trong 5 năm tới theo phương án cơ bản sẽ dựa chủ yếu vào phát triển khu vực công nghiệp và khu vực dịch vụ trong khi khu vực nông nghiệp sẽ tăng trưởng chậm lại. Đặc biệt, đóng góp của khu vực dịch vụ vào tăng trưởng chung toàn nền kinh tế sẽ tăng mạnh trong kế hoạch 5 năm tới vì so với thực hiện kế hoạch 5 năm 2001-2005, đây là ngành duy nhất có tốc độ tăng trưởng tăng, đồng thời mức độ tăng cũng khá lớn, từ 6,9%/năm lên 7,6%/năm.
Tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm 2006-2010 dự báo đạt 2400 nghìn tỷ đồng, tăng 21,7%/ năm. Đáng chú ý là trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng nguồn vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước sẽ tăng trưởng chậm lại, trong khi nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ tăng lên rất nhanh.
c) Về ngân sách chính phủ
Tổng thu ngân sách trong 5 năm 2006-2010 dự báo theo mô hình sẽ đạt 1697 nghìn tỷ đồng, tăng 21,1%/năm, trong đó thu nội địa đạt 1087 nghìn tỷ đồng, tăng 26,6%/năm, thu từ thuế xuất nhập khẩu đạt 295 nghìn tỷ đồng, tăng 10,3%/năm, thu từ dầu mỏ đạt 305 nghìn tỷ đồng, tăng 14,6%/năm. Tỷ lệ thu ngân sách trên GDP đạt 20,8%.
Tổng chi ngân sách trong 5 năm 2006-2010 theo dự báo của mô hình sẽ đạt 2142 nghìn tỷ đồng, tăng 21,9%/năm, trong đó chi thường xuyên đạt 1048 nghìn tỷ đồng, tăng 19,5%/năm, chi đầu tư phát triển đạt 714 nghìn tỷ đồng, tăng 27,7%. Tỷ lệ chi ngân sách trên GDP đạt 26,3%.
Tỷ lệ thâm hụt ngân sách theo mô hình là 5,45% GDP trong khi theo cách tính của Bộ Tài chính là 4,9%.
d) Về tiền tệ, giá cả
Về giá cả, tỷ lệ lạm phát trong  5 năm 2006-2010 sẽ tiếp tục xu hướng tăng lên đã hình thành trong những năm gần đây. Nếu như theo dự báo của mô hình, tỷ lệ lạm phát năm 2005 chỉ là 7,5% thì dự báo năm 2006 sẽ tăng lên 8,5%, năm 2007 lên 9,7%, năm 2008 lên 11%, năm 2009 lên 12,2% và năm 2010 lên 13,5%. Tính chung, tỷ lệ lạm phát trung bình 5 năm 2006-2010 đạt xấp xỉ 11%/năm.
Như vậy, tỷ lệ lạm phát trong kế hoạch 5 năm tới có thể sẽ vượt khỏi tầm kiểm soát, nhất là trong các năm từ 2008 trở đi. Nguyên nhân chính là do quán tính gia tăng tỷ lệ lạm phát đã hình thành trong những năm gần đây; ngoài ra còn do tốc độ tăng trưởng GDP tăng lên khá mạnh, kéo theo tốc độ tăng trưởng tiền tệ tăng lên khá cao so với trình độ phát triển và trình độ tiền tệ hoá của nền kinh tế trong 5 năm tới. Dự báo tốc độ tăng trưởng tiền tệ sẽ tăng dần từ khoảng 20% năm 2005 lên khoảng 24% năm 2010; đây là những tốc độ tăng trưởng tiền tệ rất cao so với thế giới và không phù hợp với nước ta trong 5 năm tới. Về lý thuyết, nếu tốc độ tăng trưởng tiền tệ đạt khoảng 23%/năm trong khi tốc độ tăng trưởng GDP chỉ 8%/năm thì tỷ lệ lạm phát sẽ khoảng 14%/năm; nếu tính đến lượng tiền phụ thêm để tiếp tục tiền tệ hoá nền kinh tế nước ta trong những năm tới thì tốc độ tăng trưởng tiền tệ nêu trên hoàn toàn phù hợp với dự báo tỷ lệ lạm phát 12,6%/năm dự báo ở trên.
Dự báo đến năm 2010 cho thấy nền kinh tế không những sẽ hoàn toàn ra khỏi tình trạng thiểu phát kéo dài trong nhiều năm trước đây mà còn có thể tăng trưởng nóng, kéo theo tăng tỷ lệ lạm phát. Mặt khác, nếu chính sách tiền tệ không thận trọng, hoàn chạy theo nhu cầu tín dụng và đầu tư của nền kinh tế mà không chú ý đến nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, thì tốc độ tăng trưởng tiền tệ sẽ vẫn rất cao, kéo theo sự tăng nhanh của tỷ lệ lạm phát.
e) Về hoạt động ngoại thương
Hoạt động ngoại thương trong 5 năm tới tiếp tục phát triển mạnh. Dự báo xuất khẩu năm 2010 sẽ đạt xấp xỉ 58 tỷ USD; tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm sẽ đạt 232 tỷ USD, tăng xấp xỉ 14%/năm, trong đó xuất khẩu hàng nông sản đạt khoảng 52,8 tỷ USD, tăng 11,3%/năm, xuất khẩu hàng công nghiệp nặng và khoáng sản đạt khoảng 79,6 tỷ USD, tăng 17%/năm, xuất khẩu hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp khoảng 100 tỷ USD, tăng 13%/năm.
Nhập khẩu năm 2010 dự báo qua mô hình sẽ đạt xấp xỉ 77 tỷ USD. Tính chung 5 năm, kim ngạch nhập khẩu đạt 283 tỷ USD, tăng 18%/năm. Nguyên nhân của nhập khẩu tăng cao là đồng tiền tiếp tục bị đánh giá cao trong khi tốc độ tăng trưởng tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đều tăng khá. Do tốc độ tăng trưởng nhập khẩu cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng xuất khẩu, thâm hụt ngoại thương sẽ tăng mạnh từ khoảng 3,4 tỷ USD năm 2005 lên 3,9 tỷ USD năm 2006, 5,2 tỷ USD năm 2007, 7,7 tỷ USD năm 2008, tiếp đến tăng vọt tới 12 tỷ USD năm 2009 và gần 19 tỷ USD năm 2010. Tỷ lệ thâm hụt ngoại thương trên GDP tương ứng cũng tăng từ 6,6% năm 2005 (tỷ lệ thâm hụt ngoại thương trên GDP thực tế là 11%) lên 13% năm 2010. Tuy vậy, tỷ lệ này vẫn chưa phải là cao so với một số năm trước đây.
Như vậy, cũng như đối với lạm phát, những vấn đề phát sinh cần tập trung xử lý chủ yếu sẽ xảy ra vào cuối kỳ kế hoạch 5 năm, tức là khi các phi cân bằng trong nền kinh tế phát triển lên tới mức giới hạn, tạo ra những biến động lớn để cơ cấu tự phát lại nền kinh tế.
Tóm lại, nhìn chung phương án dự báo cơ bản các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô giai đoạn 2006-2010 cho thấy tình hình phát triển kinh tế 5 năm tới sẽ khá khả quan vì hầu hết các chỉ tiêu đều trong giới hạn chấp nhận được hoặc an toàn, tốc độ tăng trưởng GDP khá cao... Tuy nhiên, cần lưu ý vấn đề kiểm soát tỷ giá và cán cân ngoại thương vì nếu không, tình hình vào những năm cuối kỳ kế hoạch có thể xấu đi rất nhanh.
          3) Phương án dự báo phát triển trung hạn lạc quan:
3.1) Các giả định cơ bản của phương án dự báo lạc quan:
Phương án dự báo lạc quan được xây dựng dựa trên những mặt thuận đặc biệt có thể diễn ra trong và ngòai nước trong kế hoạch 5 năm tới. Cụ thể một số thay đổi chính so với phương án dự báo cơ bản là:
a) Về môi trường phát triển thuận lợi hơn:
Môi trường phát triển khách quan gồm cả các nhân tố trong nước lẫn các nhân tố mang tính quốc tế. Đối với môi trường khách quan ngòai nước, trong phương án dự báo lạc quan cho giai đoạn 2006-2010, dự kiến sẽ có một số thay đổi như sau so với phương án dự báo cơ bản:
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) của các đối tác kinh tế, thương mại của nước ta tăng thêm 1%. Trong phương án dự báo cơ bản, chúng ta đã sử dụng số liệu dự báo của các Tổ chức kinh tế và tài chính quốc tế về tốc độ tăng trưởng kinh tế của các nước đối tác chủ yếu; tính trung bình theo trọng số là tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa nước ta sang các nước đối tác chính, thì thu được tốc độ tăng trưởng của nhóm tất cả các nước đối tác chính là 3,76%/năm, thấp đáng kể so với mức 5,13% năm 2004. Để dự báo phương án lạc quan, chúng tôi giả định tốc độ tăng trưởng kinh tế của tất cả các nước đối tác chính đều tăng thêm 1%, tính ra tốc độ tăng trưởng của nhóm tất cả các nước đối tác chính là 4,76%/năm, cao hơn kết quả đạt được trong giai đoạn 2001-2005 nhưng vẫn thấp so với mức 5,13% vào năm 2004.
- Giá nhập khẩu hàng hóa tính theo ngoại tệ tăng chậm như trong phương án dự báo cơ bản; tốc độ tăng giá hàng nhập là 1,8%/năm. Ngược lại, giá xuất khẩu hàng hóa tính theo ngoại tệ tăng nhanh gấp đôi so với giả định trong phương án dự báo cơ bản, tức là tăng từ 2% lên 4%/năm. Điều này đã từng diễn ra liên tiếp trong 3 năm 2002-2004, khi đó vào năm 2002, giá xuất tăng 0,7% nhưng giá nhập giảm 0,1%; năm 2003, giá xuất tăng 9,3% nhưng giá nhập chỉ tăng 3,4%; năm 2004, giá xuất tăng khoảng 10% nhưng giá nhập chỉ tăng 8%...
b) Về các chính sách kinh tế:
- Lãi suất huy động tăng thêm 3%/năm: Trong phương án dự báo cơ bản, lãi suất huy động ngắn hạn (kỳ hạn 3 tháng) là 7%/năm, trong phương án cao, để phù hợp với tốc độ tăng trưởng tăng mạnh và tỷ lệ lạm phát khá cao (nền kinh tế tương đối nóng), giả định chính phủ sẽ điều hành hoạt động của các ngân hàng quốc doanh và chính sách tiền tệ để nâng lãi suất huy động tăng thêm 3%/năm nhằm tăng thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế, như vậy, trong phương án cao, lãi suất huy động ngắn hạn sẽ là 10%/năm.
- Lãi suất cho vay tăng thêm 2%/năm: Trong phương án dự báo cơ bản, lãi suất cho vay ngắn hạn (kỳ hạn 3 tháng) là 9,5%/năm; tuy nhiên chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động tới 2,5% theo đánh giá của nhiều chuyên gia là khá cao, tạo ra lợi nhuận rất lớn cho hệ thống ngân hàng. Do đó, trong phương án cao, để phù hợp với việc lãi suất huy động tăng lên, để nâng cao chất lượng tín dụng, giảm chi phí ngân hàng và phù hợp với xu thế chung trên thế giới là các ngân hàng giảm dần lợi nhuận từ hoạt động tín dụng, tăng lợi nhuận từ các loại dịch vụ khác, chúng tôi giả định chính phủ sẽ điều hành hoạt động của các ngân hàng quốc doanh và chính sách tiền tệ để chỉ nâng lãi suất cho vay lên thêm 2%/năm nhằm giảm mức tăng chi phí từ vay vốn ngân hàng, kích thích đầu tư của nền kinh tế. Như vậy, trong phương án cao, lãi suất cho vay ngắn hạn sẽ là 11,5%/năm.
- Tỷ trọng tín dụng dành cho khu vực tư nhân (gồm cả cho khu vực có vốn đầu tư nước ngoài) tăng nhanh: Trong phương án dự báo cơ bản, tỷ trọng tín dụng dành cho khu vực tư nhân tăng dần từ 64,5% năm 2005 lên 73% năm 2010, trong khi , tỷ trọng tín dụng dành cho khu vực nhà nước giảm dần từ 35,5% năm 2005 xuống 27% năm 2010.
Phương án cao giả định tốc độ cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước sẽ tăng lên rất nhanh; các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh cũng sẽ phát triển rất mạnh phù hợp với cơ chế thị trường ngày càng áp đảo và xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh. Khi đó, tỷ trọng tín dụng dành cho khu vực tư nhân tăng lên khá nhanh, đến năm 2010 sẽ đạt 83%; ngược lại, tỷ trọng tín dụng dành cho khu vực kinh tế nhà nước sẽ chỉ còn khoảng 17%.
- Tỷ trọng vốn đầu tư cho khu vực công nghiệp tăng lên mạnh hơn trong khi tỷ trọng vốn đầu tư cho khu vực nông nghiệp giảm mạnh hơn.
Trong phương án dự báo cơ bản, tỷ trọng vốn đầu tư cho khu vực nông nghiệp giảm rất chậm theo xu thế, từ 8,86% năm 2004 xuống còn 7,94% năm 2010, trong khi tỷ trọng vốn đầu tư cho khu vực công nghiệp tăng lên rất chậm, từ 41% năm 2004 lên 44,8% năm 2010. Tỷ trọng vốn đầu tư cho khu vực dịch vụ tăng lên tương đối khá, từ 23,1% năm 2004 lên 32,7% năm 2010, làm cho tốc độ tăng trưởng của khu vực dịch vụ phát triển mạnh hơn hẳn so với các kế hoạch 5 năm trước.
Do vậy, để phù hợp với giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong kế hoạch 5 năm 2006-2010, dự kiến trong phương án tăng trưởng cao, tỷ trọng vốn đầu tư cho khu vực nông nghiệp sẽ giảm nhanh hơn, đến năm 2010 chỉ còn 6%. Toàn bộ số vốn giảm của nông nghiệp sẽ được chuyển sang đầu tư cho công nghiệp; do vậy, tỷ trọng vốn đầu tư cho khu vực công nghiệp tăng lên rất nhanh, đến năm 2010 sẽ đạt 6%.
- Tiêu dùng chính phủ tăng nhanh hơn, khoảng 10%/năm:
Trong phương án dự báo cơ bản, tốc độ tăng trưởng tiêu dùng chính phủ chỉ còn 6%/năm, tương đương với tốc độ tăng trưởng tiêu dùng những năm gần đây. Tuy nhiên, trong phương án tăng trưởng cao, để phù hợp với chính sách tiếp tục nới lỏng tài chính và kích cầu tiêu dùng, chi tiêu dùng của chính phủ sẽ tăng mạnh hơn so với dự kiến trên và tương đương với tốc độ tăng trưởng tiêu dùng những năm tăng trưởng cao 1991-1997, tức là khoảng 10%/năm.
- Tốc độ phá giá tỷ giá đồng VN / USD nhanh hơn
Trong phương án dự báo cơ bản, dự kiến tốc độ phá giá tỷ giá VND / USD khoảng 2%/năm. Trong phương án dự báo này, chúng tôi giả định tốc độ điều chỉnh tỷ giá sẽ nhanh hơn, khoảng 4%/năm; đây là mức cao vào loại nhất kể từ 10 năm qua.
- Chất lượng tăng trưởng sẽ cao hơn so với với giai đoạn vừa qua:
Phương án dự báo cơ bản được xây dựng dựa trên các quan hệ kinh tế trong quá khứ có bổ sung một số chính sách, môi trường đầu tư và kinh doanh tương đối tích cực. Tuy nhiên, về bản chất, phương án này vẫn chưa tính đến khả năng nâng cao rõ rệt hiệu quả sử dụng các nguồn đầu vào, cụ thể là nguồn vốn, lao động và một số nhân tố khác, trong đó chủ yếu là nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư và tài sản cố định hiện có. Để chạy phương án dự báo cao, chung tôi giả định một số hệ số trong mô hình thay đổi theo hướng nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực này thêm khoảng 10% so với phương án dự báo cơ bản.
- Một số biến ngoại sinh khác: Ngoài những thay đổi như trên, hầu như không có thay đổi lớn nào đối với các biến ngoại sinh khác; ví dụ như tỷ lệ thâm hụt ngân sách trên GDP, chi ngân sách trả nợ chính phủ... đều ổn định như trong phương án dự báo cơ bản.