Showing posts with label kinh tế. Show all posts
Showing posts with label kinh tế. Show all posts

Sunday, August 11, 2013

Bộ KH&ĐT nắm quyền phối hợp điều hành kinh tế vĩ mô

Bộ KH&ĐT nắm quyền phối hợp điều hành kinh tế vĩ mô
Chúc mừng Bộ KH&ĐT. Chỉ có điều không biết Bộ này có thực hiện được mơ ước của bác Dũng khi ban hành quyết định dưới đây không. Kinh nghiệm quá khứ cho thấy: Ngay khi còn là Ủy ban Kế hoạch Nhà nước với Chủ nhiệm Ủy ban là các bác Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải đều là Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng CP, mà Ủy ban còn khó điều hành được các Bộ, mà giờ đây Bộ KH&ĐT chỉ còn vai trò một bộ tương đương với các Bộ khác, thậm chí xếp trong Chính phủ còn đứng sau một loạt Bộ, thì chẳng hiểu Bộ KH&ĐT sẽ làm được gì nếu các Bộ mạnh cứ báo cáo và vận động trực tiếp Thủ tướng CP những chính sách có lợi cho mình. 
Đặc biệt nếu nhìn lại lịch sử thì thấy rõ vai trò của Bộ này ngày càng giảm: Từ vị trí một Ủy ban lớn nhất nước tụt xuống thành một siêu Bộ (thời bác Trần Xuân Giá làm Bộ trưởng), rồi thành một Bộ tầm thường, nhiều lần bị đe dọa giải tán, sát nhập vào Bộ khác (thời bác Võ Hồng Phúc làm Bộ trưởng) và nay đứng thứ 13 trong số 22 Bộ...

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ông Bùi Quang Vinh.
Xem chi tiết "5 nội dung phối hợp quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô" càng thấy hoảng vì Bộ này vừa không có đủ thông tin, vừa không có đủ kiến thức chuyên môn về quá nhiều vấn đề được giao chủ trì phối hợp, như tài khóa, tiền tệ, tín dụng, thương mại, giá cả, các thị trường: vốn, chứng khoán, bất động sản, lao động, khoa học - công nghệ... 

Thực tế hàng chục năm qua cho thấy có mấy khi Bộ này dám có ý kiến phản đối các phân tích, đánh giá tình hình và chính sách vĩ mô do các Bộ khác đề xuất đâu. Khi mà cái đầu mình không hơn được đầu người ta, thông tin số liệu toàn đi xin người ta... thì khó mà đảm đương được trọng trách "Chủ trì phối hợp xây dựng, ban hành, triển khai thực hiện, đánh giá và điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là giữa các chính sách: tài khóa, tiền tệ, tín dụng, đầu tư, thương mại, giá cả..." hay "Hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, cơ quan liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô và chế độ thông tin, báo cáo về phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô".

***************************************
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
--------
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
----------------
Số: 1317/QĐ-TTg
Hà Nội, ngày 06 tháng 08 năm 2013
QUYẾT ĐỊNH
PHÊ DUYỆT ĐỀ ÁN CẢI CÁCH CƠ CHẾ PHỐI HỢP TRONG QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH KINH TẾ VĨ MÔ
THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Đề án cải cách cơ chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô với những nội dung chủ yếu sau:
I. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU
1. Quan điểm
a) Đổi mới tư duy phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô theo hướng kiến tạo, hỗ trợ phát triển, vì lợi ích chung của đất nước; bám sát tư tưởng, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa gắn với quá trình tái cấu trúc nền kinh tế để góp phần bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, hướng đến phát triển bền vững.
b) Đảm bảo phối hợp nhịp nhàng, hiệu quả, thống nhất, thường xuyên, liên tục và có hệ thống giữa các Bộ, cơ quan liên quan trong toàn bộ quá trình xây dựng, ban hành, triển khai thực hiện và đánh giá các cơ chế, chính sách, giải pháp, biện pháp quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô, nhất là các chính sách tài khóa, tiền tệ, tín dụng, đầu tư, thương mại, giá cả và các chính sách khác liên quan.
c) Phân định rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn của các Bộ, cơ quan liên quan trong công tác phối hợp quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô.
d) Huy động hiệu quả sự tham gia của các nhà khoa học, các nhà quản lý, các chuyên gia trong và ngoài nước trong quá trình quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ, các Bộ, cơ quan liên quan.
2. Mục tiêu
a) Bảo đảm quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô chủ động, linh hoạt, ứng phó kịp thời, hiệu quả với các biến động kinh tế - xã hội trong và ngoài nước.
b) Từng bước tạo lập môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, thuận lợi, có khả năng dự báo trước trong trung và dài hạn để góp phần tăng cường thu hút đầu tư, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững.
c) Góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; khẳng định và nâng cao vai trò quản lý vĩ mô của Nhà nước trong nền kinh tế; thúc đẩy và nâng cao hiệu quả cải cách thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
1. Nội dung phối hợp quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô
a) Phối hợp trong xây dựng, ban hành, triển khai thực hiện, đánh giá và điều chỉnh các chính sách kinh tế vĩ mô, đặc biệt là giữa các chính sách: tài khóa, tiền tệ, tín dụng, đầu tư, thương mại, giá cả; bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và môi trường kinh tế vĩ mô ổn định, bền vững.
b) Phối hợp trong việc đảm bảo đồng bộ các yếu tố thị trường và phát triển đồng bộ các loại thị trường trong nền kinh tế; trong việc tạo dựng và phát triển các thị trường: vốn, chứng khoán, bất động sản, lao động, khoa học - công nghệ,...; trong việc đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường và trong các vấn đề về kinh tế đối ngoại.
c) Phối hợp trong toàn bộ chu trình xây dựng và điều hành chính sách kinh tế vĩ mô, bao gồm: xác định các mục tiêu của chính sách; đánh giá tác động và đưa ra các giải pháp, công cụ thực hiện mục tiêu chính sách; triển khai thực hiện, kiểm tra, giám sát thực hiện chính sách và đánh giá, điều chỉnh chính sách.
d) Phối hợp trong việc xây dựng các phương án, giải pháp đối với các biến động kinh tế - xã hội trong và ngoài nước ảnh hưởng đến môi trường kinh tế vĩ mô, nhất là những biến động bất thường về kinh tế, chính trị, xã hội thế giới và khu vực.
đ) Phối hợp trong việc xây dựng hệ thống thông tin, bao gồm: tạo lập hành lang pháp lý cho việc xây dựng cơ sở thông tin thống nhất cho hoạt động dự báo và tăng cường, nâng cao chất lượng công tác dự báo; xác định rõ các nội dung dự báo vĩ mô chủ yếu của Bộ, cơ quan liên quan gắn với yêu cầu thông tin dự báo phục vụ công tác hoạch định chính sách kinh tế vĩ mô và chỉ đạo điều hành của Chính phủ, của các Bộ, cơ quan, địa phương.
2. Các giải pháp chủ yếu thực hiện cải cách phối hợp
a) Đổi mới tư duy và nâng cao nhận thức về phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô theo hướng:
- Chú trọng tạo lập môi trường vĩ mô ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh, phát triển doanh nghiệp.
- Có tầm nhìn dài hạn, đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu, bảo đảm huy động và phân bổ hợp lý các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội.
- Bảo đảm tính tổng thể, hệ thống, phối hợp đồng bộ trong toàn bộ quá trình từ xây dựng, ban hành đến thực thi và kiểm tra, đánh giá các cơ chế, chính sách quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô.
- Khắc phục tư duy và tình trạng hình thức trong công tác phối hợp quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô; quy định rõ trách nhiệm và quyền hạn của các Bộ, cơ quan, đơn vị liên quan và trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác phối hợp.
b) Rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản pháp lý quy định về phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô giữa các Bộ, cơ quan, địa phương theo hướng:
- Khắc phục tình trạng chia nhỏ lĩnh vực quản lý cho nhiều Bộ, cơ quan liên quan. Mỗi lĩnh vực quản lý chỉ giao cho một Bộ, cơ quan chịu trách nhiệm chính; tăng cường trách nhiệm của Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, nhất là trong chỉ đạo thực hiện công tác phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát triển khai thực hiện công tác phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô giữa các Bộ, cơ quan liên quan.
- Đảm bảo tuân thủ các quy định pháp lý liên quan và phù hợp với cam kết quốc tế mà Việt Nam tham gia.
c) Tăng cường phối hợp trong quá trình xây dựng, ban hành, triển khai thực hiện và đánh giá các cơ chế, chính sách kinh tế vĩ mô theo hướng:
- Xác định rõ quan điểm, mục tiêu của chính sách, các công cụ, giải pháp và lộ trình triển khai thực hiện;
- Tăng cường phối hợp trong chỉ đạo triển khai thực hiện, đánh giá và điều chỉnh chính sách giữa các Bộ, cơ quan liên quan;
- Nâng cao vai trò của các nhà khoa học, các tổ chức, cá nhân, của cộng đồng doanh nghiệp và của nhân dân trong quá trình xây dựng và phản biện chính sách theo quy định.
d) Xây dựng bộ công cụ và phương pháp giám sát, đánh giá tác động, các chế tài xử lý vi phạm trong công tác phối hợp quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô; đảm bảo yêu cầu định lượng được các tác động, ảnh hưởng chính sách đến nền kinh tế, từng ngành, lĩnh vực chủ yếu và cảnh báo sớm để các Bộ, cơ quan liên quan chủ động phối hợp, điều chỉnh kịp thời.
đ) Xây dựng cơ sở dữ liệu thông tin cập nhật, đầy đủ, chính xác, bảo đảm đáp ứng yêu cầu quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ, các Bộ, cơ quan liên quan; tăng cường chia sẻ, trao đổi thông tin giữa các Bộ, cơ quan, địa phương; nâng cao năng lực của công tác thống kê, phân tích, dự báo kinh tế vĩ mô.
e) Kiện toàn và tăng cường năng lực cho các đơn vị làm công tác dự báo tại các Bộ, cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô. Tăng cường đào tạo và bồi dưỡng kiến thức, bảo đảm đáp ứng yêu cầu công việc đối với đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô tại các Bộ, cơ quan liên quan.
g) Các Bộ, cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô bố trí kinh phí trong dự toán ngân sách nhà nước và ưu tiên bố trí kinh phí nghiên cứu khoa học được giao cho từng Bộ, cơ quan để đáp ứng yêu cầu triển khai thực hiện nhiệm vụ tăng cường phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô.
III. TRÁCH NHIỆM, QUYỀN HẠN CỦA CÁC BỘ, CƠ QUAN, ĐỊA PHƯƠNG
1. Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan tham mưu, tổng hợp cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về cơ chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan:
a) Xây dựng, ban hành, kế hoạch phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô với lộ trình phù hợp, trong đó xác định rõ phạm vi, lĩnh vực, nội dung, các nhiệm vụ cần triển khai thực hiện của từng Bộ, cơ quan liên quan.
b) Hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các Bộ, cơ quan liên quan trong việc thực hiện nhiệm vụ phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô và chế độ thông tin, báo cáo về phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô.
c) Tổng hợp, đánh giá tình hình triển khai thực hiện cơ chế phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô của các Bộ, cơ quan liên quan và các đề xuất, kiến nghị (nếu có), định kỳ hàng quý báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
2. Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Công Thương và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện ngay trong năm 2013 Quy chế phối hợp trong quản lý và điều hành trong các lĩnh vực: tài khóa, tiền tệ, tín dụng, đầu tư, thương mại, giá cả; trong đó thể hiện rõ phạm vi, nội dung, phương thức phối hợp, trách nhiệm, quyền hạn của Bộ, cơ quan chủ trì và các cơ quan, tổ chức phối hợp có liên quan trong tổ chức thực hiện.
3. Các Bộ, cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô theo lĩnh vực công việc được phân công:
a) Có quyền yêu cầu các Bộ, cơ quan khác cung cấp số liệu, tài liệu, tham gia ý kiến về các chương trình, đề án, cơ chế, chính sách và phối hợp trong công tác quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô trong phạm vi lĩnh vực công việc được phân công.
b) Có trách nhiệm cung cấp số liệu, tài liệu, tham gia ý kiến với các Bộ, cơ quan liên quan về các chương trình, đề án, cơ chế, chính sách và phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô.
c) Định kỳ hàng quý, báo cáo tình hình phối hợp và các kiến nghị, đề xuất (nếu có), gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ.
4. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan liên quan tăng cường chỉ đạo các cơ quan, đơn vị trực thuộc chủ động phối hợp với các Bộ, cơ quan, địa phương thúc đẩy công tác phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô, bảo đảm tính thường xuyên, liên tục và hiệu quả; đồng thời chịu trách nhiệm trực tiếp trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về tình hình và kết quả triển khai thực hiện nhiệm vụ phối hợp trong quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô liên quan thuộc phạm vi, lĩnh vực được giao cho Bộ, cơ quan mình.
5. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chủ động triển khai thực hiện hiệu quả các cơ chế, chính sách, giải pháp về quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô, nhất là về tài khóa, tiền tệ, tín dụng, đầu tư, thương mại, giá cả trên địa bàn; tăng cường phối hợp với các Bộ, cơ quan liên quan trong công tác quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô, báo cáo kịp thời các khó khăn, vướng mắc phát sinh trên địa bàn và đề xuất biện pháp xử lý với các Bộ, cơ quan liên quan để xem xét, xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Điều 2. Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành.
Điều 3. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

Nơi nhận:- Ban Bí thư Trung ương Đảng;
- Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
- HĐND, UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW;
- Văn phòng Trung ương và các Ban của Đảng;
- Văn phòng Tổng Bí thư;
- Văn phòng Chủ tịch nước;
- Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội;
- Văn phòng Quốc hội;
- Tòa án nhân dân tối cao;
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Kiểm toán Nhà nước;
- Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia;
- Ngân hàng Chính sách xã hội;
- Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
- UBTW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
- Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
- VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTgCP, Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
- Lưu: Văn thư, KTTH (3b).

THỦ TƯỚNG


đã ký

Nguyễn Tấn Dũng

Tuesday, August 6, 2013

Thời điểm trả giá cho các thị trường đầu cơ

Thời điểm trả giá cho các thị trường đầu cơ
Đã bước vào quý 3/2013, nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn chưa nhìn thấy một cái đáy nào rõ rệt. Khung cảnh vẫn nhuộm một gam màu u ám, bất chấp hàng loạt báo cáo của giới chức sắc chính phủ và phát ngôn của giới chuyên gia cận thần về triển vọng kinh tế đang tốt lên.
Mới đây, nguyên thống đốc Ngân hàng nhà nước và hiện là Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam là ông Cao Sỹ Kiêm đã mô tả bức tranh thực trạng: vẫn còn rất nhiều vấn đề vẫn chưa giải quyết được. Cụ thể, sản xuất vẫn đang bị thu hẹp, phá sản, đình trệ vẫn cao, khó khăn của nhiều doanh nghiệp về vốn, về đầu ra, tồn kho vẫn chồng chất và có xu hướng tăng lên… Đến nay theo thống kê đã có một nửa số doanh nghiệp nhỏ và vừa ra đi, không đủ sức để chờ đợi được hưởng chính sách này. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đã chán nản, buông xuôi…Ông Kiêm cũng đưa ra dự báo: với tình hình như thế này thì số doanh nghiệp tạm ngừng sản xuất, giải thể phá sản chắc chắn còn tăng lên nữa.
Những nguồn cơn nào đã dẫn đến hiện trạng cay đắng như thế?

Không thể hoài nghi, các thị trường đầu cơ đã đóng góp một phần không nhỏ cho thế tuột dốc không phanh của nền kinh tế quốc gia.

Parabol rơi xuống

Nhìn tổng quan và lấy mốc từ năm 2005 – khi giai đoạn trì đọng của kinh tế Việt Nam còn đi ngang, thì cho đến năm 2013, nền kinh tế Việt Nam đã tạo nên hai đỉnh. Đỉnh thứ nhất có thế năng lớn nhất, được lập vào năm 2007; còn đỉnh thứ hai vào năm 2009. Hai đỉnh này đã được xem là kết thúc cho biểu đồ tăng trưởng liên tục của nền kinh tế Việt Nam từ năm 1991 – thời điểm mở cửa kinh tế - cho đến nay.

2007 là thời gian mà đầu tư công và các nguồn đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước ngoài tăng rất đáng kể. Đó cũng là thời kỳ tương tự như nhận định của một số chuyên gia kinh tế nước ngoài về nền kinh tế Trung Quốc “đầu tư nhiều nhất trong thời gian ngắn nhất”. Tiền được đổ ra và kích thích các thị trường, nhưng cũng kéo theo lạm phát và mặt bằng giá cả hàng tiêu dùng làm cho sinh hoạt của người dân trở nên khốn khó hơn.

Nếu xem xét vận hành của nền kinh tế theo quan điểm thị trường chứng khoán là kẻ đi tiên phong và báo hiệu thì trong thời gian từ cuối năm 2006 đến đầu năm 2007, thị trường chứng khoán đã có một bước nhảy vọt gấp 3 lần. Nhiều đánh giá cho thấy một nguồn lực khổng lồ từ nước ngoài đã đổ vào cổ phiếu, khiến cho mặt bằng giá cổ phiếu tăng vô tội vạ. Đó cũng là minh họa sống động về nền kinh tế đã bị đầu tư quá nóng. Trong khi nền kinh tế và biểu đồ tăng trưởng của nó còn khá từ tốn thì đồ thị của chứng khoán đã làm nên một cuộc “đại nhảy vọt”, hệt như cuộc cách mạng thời năm 1960 ở Trung Quốc. Và logic tiếp nối là những gì ảo ảnh và nhảy vọt đều có thể để lại hậu quả “dưới đáy” khủng khiếp.

Nhưng cơn sốt kinh hoàng và để lại dư chấn ghê gớm nhất không phải là chứng khoán mà chính là bất động sản – điều xảy ra tương tự với thị trường Trung Quốc trong cùng giai đoạn 2007 – 2012.

Một điểm rất tương đồng giữa nền kinh tế, thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản ở Việt Nam là sau khi cùng lập đỉnh vào năm 2007, đến đầu năm sau, tất cả lại cùng lao dốc. Những gì tăng sớm nhất và mạnh nhất lại bắt buộc phải hạ cánh cứng nhanh nhất.

Chứng khoán là minh họa khốn khổ như thế. Trong khi thị trường này lao dốc, bất động sản - tuy chưa chịu xuống giá - nhưng lập tức rơi vào tình cảnh đóng băng. Đó cũng là một đặc trưng của thị trường địa ốc ở Việt Nam, khi có đến 70% người tham gia thị trường này với động cơ đầu cơ, để khi tăng thì mọi người cùng đổ xô mua đuổi giá cao, còn lúc xuống thì không mấy ai dám “bắt dao rơi” – như một thuật ngữ trong thị trường chứng khoán.

Đồ thị lao dốc của chứng khoán lại dắt dây đến đường biểu diễn suy giảm của bất động sản. Từ năm 2007 đến nay, bất chấp chu kỳ hồi phục ngắn vào năm 2009, giá chứng khoán ở Việt Nam đã giảm đến 70-80%, còn giá bất động sản giảm ít nhất 30-40%, cao hơn hẳn mức 25-30% của chỉ số suy thoái của bất động sản S&P/Case-Shiller của Mỹ trong thời kỳ 2007- 2011.

Chứng khoán và bất động sản lại kéo theo đà suy thoái không thể cưỡng được của nền kinh tế. Tuy không đến nỗi lao dốc như bất động sản, nhưng hiển nhiên nền kinh tế Việt Nam đã làm thành một vệt parabol lõm từ năm 2009 đến nay.

Kích cầu nhóm lợi ích
Vào năm 2009, chính phủ Việt Nam đã bơm ra một gói kích cầu có giá trị 143.000 tỷ đồng, tương đương với 8 tỷ USD theo tỷ giá ngoại hối khi đó, để kích thích nền kinh tế và các thị trường.

Tuy nhiên, điều đáng buồn là trong khi gói kích cầu năm 2009 vẫn chưa được làm rõ về tính hiệu quả thực sự của nó, thì lại có quá nhiều dư luận cho rằng phần lớn nguồn tiền này đã bị đầu tư sai mục đích, tức phần lớn đã chảy vào thị trường chứng khoán và bất động sản để “đánh” hai thị trường này lên, cũng là giúp cho các nhóm đầu cơ trục lợi và “thoát hàng”.

Trong năm 2009 – 2010, nếu mặt bằng giá cổ phiếu phục hồi gấp đôi thì mặt bằng giá nhà đất ở Hà Nội lại tăng gần gấp ba, tạo thành một cơn sốt mới và lập đỉnh mới. Kết quả là sau hơn 20 năm kể từ mốc mở cửa, giá nhà đất ở Việt Nam đã tăng gấp 100 lần, và hiện thời đang cao gấp 25 lần so với mặt bằng thu nhập bình quân của người tiêu dùng, trong khi chuẩn của Liên hiệp quốc chỉ dưới 5 lần.

Trong khi đó, giá vàng cũng đã tăng gấp gần 4 lần từ năm 1997 đến năm 2011, và tăng gấp 10 lần nếu tính từ thời điểm năm 2000. Giá vàng tăng dẫn đến lạm phát phi mã. Riêng năm 2011 lạm phát đã gần 20%.

Tất cả những tiêu chí lợi nhuận được tính bằng số lần ở Việt Nam đã khiến cho bất cứ một nhà tư bản nước ngoài nào cũng phải thèm khát. Điều lạ lùng luôn khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài kinh ngạc là trong một thị trường Việt Nam quá thiếu minh bạch về thông tin và yếu kém về quản lý, người ta lại có thể kiếm tiền rất dễ dàng – hiện tượng mà chỉ có Trung Quốc mới so sánh được.

Quả thế, thị trường bất động sản vẫn được xem là một tâm điểm của tình trạng thiếu minh bạch trong nền kinh tế Việt Nam. “Nền văn hóa kinh doanh rỉ tai”, hay những gì tương tự, đã khiến cho thị trường này phải đứng áp chót trong bảng xếp hạng 15 nước thuộc khối châu Á – Thái Bình Dương, và cũng đội sổ trong số 56 nước được chọn xếp hạng về độ minh bạch của thị trường bất động sản trên thế giới.

Tuy nhiên, dần dần các nhà đầu tư và nghiên cứu nước ngoài cũng hiểu ra một bí quyết tối quan trọng: thị trường càng thiếu minh bạch thì lại càng dễ đầu cơ. Mà đầu cơ lại là gốc rễ của tư bản, của siêu lợi nhuận. Phần lớn các thị trường mang tính đại chúng ở Việt Nam, trừ thị trường ngoại tệ thường dao động ngang và một số thị trường hàng hóa đặc thù, đã luôn đạt đến điểm mơ ước về siêu lợi nhuận trong đầu cơ như thế.

Trả giá!

Người dân Việt Nam có thể tự đặt câu hỏi: hơn 20 năm qua có ý nghĩa như thế nào đối với một thời lượng của sự phát triển? Sau phát triển, hay theo quy luật vận hành của nền kinh tế, thường là giai đoạn suy thoái. Vậy Việt Nam có tương đồng với trường hợp nước Mỹ, với chu kỳ 20 năm liên tục tăng trưởng GDP, đạt đến thời kỳ mà người ta vẫn dùng từ “Thịnh vượng” để miêu tả, để rồi sau đó rơi vào một chu kỳ điều chỉnh giảm bắt buộc?

Thế nhưng cũng không khác gì quy luật tăng trưởng – suy thoái trong đầu cơ quốc tế, sự vận hành của nền kinh tế đầu cơ ở Việt Nam cũng mang tính chu kỳ với hệ quả tất yếu phải xảy ra. Hơn 20 năm qua có lẽ đã đủ cho một chu kỳ tăng trưởng, đủ để hoạt động đầu cơ ở Việt Nam phải gánh chịu những hậu quả do chính nó gây ra.

Hậu quả mà nền kinh tế Việt Nam phải nhận lãnh sau những cơn sốt tất nhiên là một sự thoái hóa chưa có hồi kết. Người ta có thể chứng kiến nhan nhản nhiều tập đoàn kinh tế lớn của nhà nước như dầu khí, điện lực, xăng dầu, các tổng công ty kinh doanh bất động sản bị chìm ngập trong núi tài sản bị chôn trong cổ phiếu và bất động sản.

Tuy nhiên, khủng khiếp nhất vẫn là bất động sản với con số nợ xấu đang lên đến ít nhất 200.000 tỷ đồng đến thời điểm hiện nay. Còn nợ xấu trong hệ thống ngân hàng dĩ nhiên còn khủng khiếp hơn: ít nhất 250.000 tỷ đồng theo báo cáo chính thức của Ngân hàng nhà nước, và gấp đôi con số này theo ước tính của giới chuyên gia phản biện độc lập.

Cùng với bất động sản và chứng khoán, nhiều lĩnh vực khác như xây dựng, sắt thép, xi măng, thủy sản, nông sản…cũng chịu cảnh đổ dốc và ngưng trệ sản suất. Đặc biệt từ năm 2011 đến nay, nền kinh tế rơi vào tình trạng thảm thương khó có lối thoát, với gia tốc suy giảm tăng dần và biểu đồ suy thoái ngày càng chúc xuống với độ dốc lớn hơn.

Một khi chủ nghĩa đầu cơ cũng phải quy hàng thì có thể hiểu là nền kinh tế đang thiếu hẳn động lực để lấy lại những gì đã mất. Thậm chí nếu không được cải tổ mạnh mẽ, nền kinh tế Việt Nam còn có thể mất hết những gì vừa có lại.

Do vậy, khó có thể quan niệm những năm 2009-2010 như giai đoạn phục hồi mạnh sau khủng hoảng, mà chỉ nên xem đó là thời kỳ quá độ của những khó khăn trên đà tiếp diễn. Có nghĩa là chữ L đã được hình thành cơ bản, đang kéo dài cạnh đáy của nó một cách không bằng phẳng, thậm chí cạnh đáy này còn có thể chúc xuống nếu như nền kinh tế thế giới rơi vào suy thoái kép trong những năm tới.

Vẫn luôn có một lối đối sánh không quá ẩn dụ đối với bối cảnh hiện thời: “Thị trường bất động sản đang biến toàn bộ nền kinh tế và người dân thành con tin của nó”. Rõ như ban ngày, sau thị trường chứng khoán, khối tài sản khổng lồ treo giá cao ngất nhưng không bán được của đa số các doanh nghiệp nhà đất đang trở nên một ổ dung nham khủng khiếp, tiềm ẩn trong núi lửa có thể phun trào xuống khu vực đồng bằng của nền kinh tế và đời sống dân sinh.

Các thị trường đầu cơ đã lao nhanh đến thời điểm phải trả giá, trả giá cho mặt bằng giá hoàn toàn không tương xứng với thu nhập bình quân của người dân. Và đến lượt mình, nền kinh tế cũng phải trả giá với tư cách một nạn nhân của các thị trường đầu cơ – một hệ quả mà thay vì phục hồi theo chữ V thì nền kinh tế vẫn còn ì ạch ở cạnh đáy của chữ L cho tới giờ này.

Sự trả giá trên là quy luật tất yếu và phải diễn ra, chỉ là sớm hay muộn mà thôi.

Phạm Chí Dũng
(VOA)

Monday, August 5, 2013

Giới trung lưu không điều tiết nổi cuộc sống của mình?

Giới trung lưu không điều tiết nổi cuộc sống của mình?
Trong muôn vàn khó khăn của thời kinh tế suy thoái, "chiếc áo trung lưu" làm nhiều người ngạt thở vì bị mắc kẹt trong thói quen tiêu xài, sĩ diện.
Gần trung tâm thành phố có cái quán cà phê, giá cả tầm 80 ngàn đồng cho một người giải quyết bữa sáng, bao gồm một phần thức ăn và một ly cà phê hay nước trái cây.
Là cà phê sân vườn, nhà rường, cây cối xanh mượt, nhân viên mặc đồng phục áo bà ba. Quán đông khách bởi cái thế đắc địa vừa nói. Và nhìn vào quán ấy, nhìn lượng người vào ra mấy năm nay thì có thể đo được "sức khỏe" của nền kinh tế, hay nói cụ thể hơn là đo túi tiền của giới trung lưu, tầng lớp được các nhà nghiên cứu vinh danh là "xương sống" của xã hội, và họ luôn hoan hỷ, chân thành vì được đóng thuế, đồng nghĩa với họ có thu nhập và đời sống ổn định.
Thời gian gần đây, khách cũ đến nơi này đã giảm nhiều, thay thế bằng dân du lịch.
Trong số "khách ruột" của quán, có cô tâm sự, chi phí sinh hoạt bây giờ tăng khủng khiếp quá, đến đi cà phê, ăn sáng cũng phải cân nhắc cho vừa túi tiền. Vừa nói cô ấy vừa lấy ra khỏi túi chiếc Samsung Galaxy S4 trắng sáng đang réo chuông.
Hóa ra tầng lớp trung lưu lại là tầng lớp "nóng lạnh, hắt hơi sổ mũi" nhanh nhất với nhiệt độ của nền kinh tế. Đang đi làm, thu nhập ổn định, đóng thuế ngon lành, bỗng dần dần thấy mình đang sống trong cơn ác mộng của túi tiền ngày càng eo hẹp, mà nhu cầu thì phình lên, chẳng khác nào bong bóng.

Tiền giảm xuống, chẳng phải vì lương ít đi, mà do giá cả tăng vụt, và cũng vì như bao năm trước họ vẫn ngụp lặn trong lối sống thoải mái của người có thu nhập ổn định. Một người trong hoàn cảnh này dí dỏm pha trò về cảnh ngộ của mình là "mắc kẹt trong chiếc áo trung lưu".

Anh ta nợ ngập đầu dù vẫn xài đủ bộ, gồm: laptop "trái táo cắn dở", iPad và iPhone 5. Không xài vậy ra cà phê ngồi làm việc kỳ lắm. Mà những sản phẩm ấy tuyệt vời vậy thì sao không ham được.

Anh ấy còn kể, mỗi tối phải đi ngủ với những nỗi lo: Nào con đã lớn, muốn đi du học, không đi được 4 - 5 năm thì cũng phải vào đại học liên kết quốc tế, cho con ra nước ngoài 1 - 2 năm cho yên tâm; nào vừa rồi đi công tác Hà Nội, gặp bạn bè ai cũng hỏi anh đã mua ô tô chưa, làm anh thấy "nhột nhạt" quá!
Anh đành tính toán tài chính cho kế hoạch mua một chiếc ô tô "second-hand" giá tầm 400 triệu đồng vậy. Dù sao thì cả gia đình vẫn ao ước có chiếc xe hơi lâu rồi. Có ai đó nhắc về giá xăng vừa tăng, phí đường bộ dành cho ô tô cũng bắt đầu thu, anh giật mình rồi chặc lưỡi: "Chả lẽ mua con trâu rồi còn so đo chuyện cho nó ăn cỏ”!
Trong muôn vàn khó khăn của thời kinh tế suy thoái, "chiếc áo trung lưu" làm nhiều người ngạt thở vì bị mắc kẹt trong thói quen tiêu xài, sĩ diện. Những chuyến du lịch thường niên bị đình lại làm cho cuộc sống tinh thần trong gia đình như bị khủng hoảng.
Điện thoại, tivi, tủ lạnh thông minh và muôn vàn đồ chơi công nghệ đời mới hơn, tính năng vượt trội hơn như dòng thác bủa vây túi tiền và nhu cầu liên tục đổi mới của từng thành viên khiến các gia đình lao đao vì kế hoạch cắt giảm chi tiêu luôn đổ bể. Thời suy thoái kinh tế, tầng lớp trung lưu gặp khó khăn?
Đã có các chương trình khuyến mãi, trả góp hỗ trợ các bạn. Các nhà sản xuất nói thế! Nhiều gia đình trung lưu nhìn các quảng cáo về ưu đãi của thẻ tín dụng, mua sắm trả góp tại các siêu thị điện máy như nhìn... nguy cơ tiềm ẩn nhiều rủi ro làm họ phá sản vì thói quen tiêu xài, mua sắm vượt quá khả năng.
Một người lên Facebook than thở: "Vừa mới sắm một chiếc tivi LED 42inch mất 14 triệu đồng, giờ thấy choáng người vì tiếc khi một hãng điện tử tiếp tục tung ra tivi có kết nối Wi-Fi. Làm sao chống cự đây khi nhà sản xuất hiểu rõ người tiêu dùng đến tận răng như thế?".


Không như ở phương Tây, nơi các lớp học tư vấn tiêu dùng thông minh mở liên tục mỗi khi nền kinh tế biến động, hoặc các chính sách mới của chính phủ có ảnh hưởng đến đời sống của một bộ phận dân chúng.
Chuyên gia thu bộn tiền vì người học rất đông, họ cần không chỉ những lời khuyên, mà là cả một quy trình chặt chẽ để điều tiết cuộc sống vốn muôn vàn phức tạp. Trong bối cảnh khó khăn vì lạm phát kéo dài, dĩ nhiên người lao động thu nhập thấp là tầng lớp đang phải đối mặt nhiều nhất với đời sống bấp bênh.

Nhưng ngay tầng lớp trung lưu cũng đang chịu rất nhiều áp lực khi chất lượng sống bị suy giảm rõ rệt, thu nhập không tương xứng với sức lao động, thói quen tiêu dùng phải thay đổi cũng là một áp lực lớn về tinh thần. Những người thông minh, thức thời phải tự cứu mình, khôn ngoan nhanh chóng cởi bỏ chiếc áo sĩ diện "trung lưu" để có lối sống thông minh, tinh thần thoải mái mà đối diện với thời cuộc thay đổi.
(Doanh nhân Sài gòn)

Friday, August 2, 2013

Bài viết tuyệt hay: Có nên tin vào các nhà kinh tế học?

Công việc của các nhà kinh tế học: Họ xây dựng các mô hình, sử dụng các công cụ toán học để miêu tả quá trình vận hành của nền kinh tế. Vấn đề nằm ở chỗ các mô hình không thể phản ánh chính xác những gì diễn ra trong toàn bộ nền kinh tế.
Có nên tin vào các nhà kinh tế học?
Nếu các nhà kinh tế học phát triển thành công các mô hình hiệu quả hơn, họ đã có thể dõng dạc trả lời những câu hỏi gây nhiều tranh cãi. 
Tuy nhiên, cho đến nay, những gì chúng ta nhận được chỉ là kiến nghị và các ý tưởng.
Hãy thử tưởng tượng bạn đang sống ở thế kỷ 14 và là một vị quan ngự y. Hoàng tử bị bệnh và bạn có nhiệm vụ chữa trị. Bạn có thể tham khảo ý kiến của hai chuyên gia. Người thứ nhất cho rằng nên sử dụng những con đỉa để hút bỏ thứ dịch gây bệnh. Người thứ hai lại bác bỏ điều này, cho rằng phải mổ.
Họ bắt đầu tranh luận và công kích nhau. “Anh ta làm gián điệp bí mật cho Pháp!”, người thứ hai nói. Đáp lại, người thứ nhất cho rằng người còn lại muốn hoàng tử chết bởi hoàng tử là người đề xuất mức thuế cao hơn đánh vào tầng lớp quý tộc.
Vậy thì, bạn nên nghe lời bên nào? 
Trong một thế giới lý tưởng, bạn nên đi tìm 999 bệnh nhân đang mắc phải bệnh tình tương tự hoàng tử và đưa cho họ những hợp chất khác nhau. Sau đó, bạn cẩn thận ghi lại diễn biến để từ đó phát hiện ra chất nào có thể chữa khỏi bệnh. Như vậy, bạn đã tìm ra penicillin.

Tuy nhiên, đáng buồn là bạn sẽ không làm như vậy. Thứ nhất, nếu đề xuất điều này, bạn dễ dàng bị tống vào ngục. Thứ hai, đó là thế kỷ 14 – khi khái niệm phương pháp nghiên cứu khoa học vẫn chưa xuất hiện. Thứ ba, bạn không có đầy đủ các dụng cụ để tiến hành thí nghiệm. Do đó, chỉ có hai lựa chọn: Bạn suy đoán, chọn ra một phương án và… cầu trời phương án đó là đúng.

Hoàn cảnh của chúng ta ngày nay có một số điểm tương tự với ví dụ ở trên. Tất cả mọi người đều biết rằng thế giới đang ở trong tình trạng tồi tệ khi các nhà máy han gỉ và công nhân chơi dài vì không có việc làm. Trong khi đó, các nhà kinh tế học không ngừng tranh cãi.

Kết quả khảo sát cho thấy hiện nay công chúng có rất ít niềm tin vào dự đoán của các chuyên gia kinh tế. Họ tranh cãi quyết liệt và dường như không thể nhất trí cả về những vấn đề cơ bản nhất. Sự kiện công trình nghiên cứu của hai giáo sư Harvard Carmen Reinhart và Kenneth Rogoff (về quan hệ tỷ lệ nợ công với tốc độ tăng trưởng) khiến giới kinh tế nổi sóng thời gian vừa qua càng khiến tình hình trở nên tồi tệ hơn.

Đầu tiên, chúng ta cần nói qua về công việc của các nhà kinh tế học. Họ xây dựng các mô hình, sử dụng các công cụ toán học để miêu tả quá trình vận hành của nền kinh tế. Vấn đề nằm ở chỗ các mô hình không thể phản ánh chính xác những gì diễn ra trong toàn bộ nền kinh tế.

Rất nhiều người có trí tuệ xuất chúng đã dành nhiều thời gian xây dựng các công cụ được cho là ưu việt. Tuy nhiên, tính đến thời điểm này, các mô hình vẫn thất bại trong việc dự đoán diễn biến của nền kinh tế.

Hơn nữa, các mô hình còn ẩn chứa quá nhiều kết luận không chính xác. Ví dụ, rất nhiều mô hình giả định rằng các công ty chỉ có thể thay đổi giá cả ở những thời điểm ngẫu nhiên. Các nhà kinh tế học cũng thêm thắt một vài điều kiện sao cho mô hình dễ sử dụng hơn. Họ hy vọng rằng những giả định này gần giống với những gì diễn ra trong thế giới thực.

Lý thuyết không phải là vấn đề duy nhất. Các chuyên gia kinh tế thực sự không có đủ dữ liệu để hiểu nền kinh tế hoạt động như thế nào. Với ngành hóa học và sinh học, bạn có thể đặt mọi thứ ở trong phòng thí nghiệm và tiến hành thí nghiệm.

Bạn có thể làm điều tương tự với kinh tế học vi mô. Tuy nhiên, điều này là không thể đối với kinh tế học vĩ mô: không thể bê tất cả các nền kinh tế trên thế giới vào phòng thí nghiệm. Các nhà kinh tế học chỉ có thể ngồi một chỗ và quan sát lịch sử, rút ra một số xu hướng. Và, thông thường thì các xu hướng này biến mất trước khi bạn kịp phát hiện ra.

Kinh tế học vĩ mô cũng có văn hóa khác với hóa học hoặc sinh học. Đối với khoa học tự nhiên, các mô hình thường được xây dựng để giải thích số liệu. Đó là mục đích duy nhất của các mô hình. Còn trong kinh tế học, mô hình thường được sử dụng để giải thích cho giả thiết.

Những nhà kinh tế học xuất sắc nhất đã nhận thức được điều này. Trong bài phát biểu mới đây tại Đại học Princeton, Chủ tịch Fed Ben Bernanke đã nói đùa rằng, kinh tế học là lĩnh vực phức tạp bao gồm các ý tưởng xuất sắc trong việc giải thích chính xác tại sao những lựa chọn trong quá khứ lại sai. Còn đối với tương lai, mọi thứ không chính xác.

Trong khi đó, năm 2011, Greg Mankiw – một trong những nhà kinh tế học vĩ mô nổi tiếng nhất thế giới – đã từng viết trên tờ New York Times: “Sau hơn 1/4 thế kỷ là nhà kinh tế học, tôi phải thú nhận rằng có rất nhiều điều tôi không biết về nền kinh tế. Thực chất, kinh tế học – lĩnh vực mà tôi đã dành trọn đời để cống hiến – là nơi mà tôi không thể tìm ra câu trả lời rõ ràng cho nhiều câu hỏi quan trọng”.

Điều này có nghĩa là khi các nhà kinh tế học dựa vào giả thiết hoặc mô hình để rút ra kết luận, bạn nên hoài nghi về điều đó. Mô hình càng phức tạp, bạn càng nên nghi ngờ nhiều hơn.

Ví dụ, trong một bài báo mới được đăng trên tờ Wall Street Journal, John Taylor – nhà kinh tế học đến từ Stanford – kêu gọi thực hiện thắt chặt ngân sách và củng cố quan điểm bằng “một mô hình kinh tế học vĩ mô”. Tuy nhiên, có rất nhiều quan điểm trái chiều xoay quanh mô hình này.

Nếu các nhà kinh tế học thành công trong việc phát triển các mô hình có hiệu quả tốt hơn, họ đã có thể dõng dạc trả lời những câu hỏi gây nhiều tranh cãi. Tuy nhiên, cho đến nay, những gì chúng ta nhận được chỉ là kiến nghị và các ý tưởng.

Bởi vậy, khi lắng nghe các nhà kinh tế học, điểm mấu chốt là hãy cố gắng hiểu tại sao họ lại nghĩ như vậy.

Ví dụ, Paul Krugman cho rằng chính sách tiền tệ không thể hiệu quả trong thời kỳ suy thoái, bởi lãi suất danh nghĩa không thể ở mức dưới 0 và bởi không phải lúc nào Fed cũng có thể thuyết phục công chúng.

Trong khi đó, Robert Barro tin rằng chính sách tài khóa không hiệu quả, bởi mọi người dự đoán thuế tăng lên trong tương lai và do đó giảm tiêu dùng để tiết kiệm. Hầu hết mọi người có thể hiểu được những ý tưởng căn bản này, và họ tự quyết định đâu mới là ý kiến đúng đắn.

Các nhà kinh tế học cũng có một ưu điểm khác: giỏi chỉ ra lỗi của người khác. Họ là những người rất thông minh và sâu sắc. Tuy nhiên, họ dễ dàng bị bắt bẻ bởi các nhà kinh tế học khác! Do đó, bạn nên lắng nghe từ nhiều trường phái.

Cho dù bạn có đặt nhiều kỳ vọng vào các nhà kinh tế học, họ không phải là những chuyên gia biết rõ thế giới vận hành ra sao và làm cách nào để sửa chữa hỏng hóc. Tuy nhiên, họ có thể giúp bạn đánh giá lại quan điểm của bản thân về nền kinh tế cũng như phát hiện những lỗi sai.

“Sau hơn 1/4 thế kỷ là nhà kinh tế học, tôi phải thú nhận rằng có rất nhiều điều tôi không biết về nền kinh tế”.

Theo GiaVang.net

Sunday, July 28, 2013

(5) Quy trình kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân

Bài giảng cũ của tôi:
Quy trình kế hoạch hóa nền kinh tế quốc dân
III- Các nội dung cơ bản  của việc xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm:
   Vừa qua, các ngành, các vùng kinh tế và các địa phương đã xây dựng kế hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010 cho ngành mình, vùng mình và địa phương mình. Hiện nay, chúng ta cũng đang tiến hành nghiên cứu xây dựng chiến lược và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020, tầm nhìn 2030. Chiến lược và quy hoạch này sẽ là cơ sở và là nội dung định hướng của kế hoạch trung hạn 5 năm 2011-2015.
   Theo tinh thần chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về triển khai xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010, cần tổ chức triển khai những nội dung sau trong quá trình xây dựng kế hoạch 5 năm:
   I- Một số vấn đề cần lưu ý trong xây dựng kế hoạch phát triển 5 năm
a) Kế hoạch hoá phát triển 5 năm phải hướng vào việc chuẩn bị thật tốt các thông tin dự báo những khả năng phát triển kinh tế - xã hội, những xu thế phát triển trong và ngoài nước và những mối quan hệ tương tác lẫn nhau.
b) Kế hoạch hoá phát triển 5 năm phải xuất phát từ chiến lược và quy hoạch; vì vậy, trước khi xây dựng kế hoạch 5 năm, phải xây dựng chiến lược và quy hoạch phát triển tổng thể nền kinh tế quốc dân tầm 10 năm trở lên, quy hoạch phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, quy hoạch phát triển các ngành, lãnh thổ; xây dựng các chương trình mục tiêu và các dự án phát triển...

c) Hệ thống kế hoạch bao gồm kế hoạch dài hạn, trung hạn và hàng năm, nhưng dần dần chuyển sang kế hoạch hoá phát triển kinh tế xã hội 5 năm là chính, có chia theo từng năm, giữa kế hoạch 5 năm có xem xét điều chỉnh.
d) Kế hoạch 5 năm phải bao quát toàn bộ hoạt động của nền kinh tế, trong đó nội dung cơ bản là xác định hệ thống các mục tiêu kinh tế vĩ mô, các nhân tố tăng trưởng kinh tế, các cơ cấu của nền kinh tế, các mối quan hệ hợp lý giữa tích luỹ và tiêu dùng, giữa nguồn lực trong nước và nước ngoài..., đồng thời tính toán, xác định một số cân đối lớn về tài chính, tiền tệ, ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản, trong đó có tổng hợp tất cả các nguồn vốn.
Trong kế hoạch, cần nêu rõ các giải pháp lớn về cơ chế chính sách, đảm bảo khai thác mọi nguồn lực, nhằm dẫn dắt nền kinh tế phát triển theo định hướng của kế hoạch.
e) Kế hoạch 5 năm phải hướng vào việc xây dựng hệ thống pháp luật, trước hết là các luật kinh tế, các chính sách đòn bẩy kinh tế, các định chế quản lý kinh tế xã hội thích hợp, nhằm tạo ra môi trường kinh tế vĩ mô có tác dụng kích thích mọi thành phần kinh tế cùng tham gia vào phát triển đất nước, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và ổn định.
f) Kế hoạch 5 năm nhất thiết phải có sự tham gia rộng rãi của mọi đối tượng, tầng lớp dân cư trong xã hội nhằm thu thập được càng nhiều càng tốt các thông tin để bổ sung, hoàn thiện kế hoạch để đảm bảo kế hoạch phản ánh được yêu cầu phát triển của xã hội và tiềm lực của đất nước. Qua tham vấn cộng đồng dân cư và chính quyền các cấp, sẽ tăng cường được nhận thức của họ về vai trò và trách nhiệm của họ trong công tác xây dựng và thực hiện kế hoạch 5 năm.
Về tổ chức thực hiện:Các bộ, ngành trung ương với chức năng quản lý nhà nước của mình, có nhiệm vụ xây dựng quy hoạch và kế hoạch phát triển toàn ngành, tổng hợp, xử lý và tối ưu hoá các phương án kế hoạch từ các Tổng công ty, các công ty, các đơn vị sản xuất kinh doanh khác. Các Tổng công ty và Tập đoàn kinh tế, phải cụ thể hoá các quy hoạch và kế hoạch phát triển toàn ngành, lĩnh vực trong phạm vi hoạt động của mình.
Ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Ủy ban nhân dân đứng đầu là chủ tịch tỉnh, thành phố, có nhiệm vụ tổ chức nghiên cứu quy hoạch và kế hoạch phát triển của địa phương. Sở Kế hoạch và Đầu tư có nhiệm vụ tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố về kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm của địa phương mình. Các sở, ban ngành chuyên môn khác của tỉnh, thành phố với chức năng của mình trên địa phương, sẽ tham gia xây dựng kế hoạch chi tiết cho lĩnh vực chuyên môn của mình, có tham khảo ý kiến của các bộ, ngành dọc ở trung ương. Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, thành phố được tổng hợp từ các phương án kế hoạch của các sở, ban, ngành và các quận, huyện xây dựng lên. Kế hoạch tổng hợp chung sau đó được gửi lên Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Tài chính.
II) Các nội dung cơ bản  của xây dựng kế hoạch 5 năm:
1) Những nội dung chính trong xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm:
(1) Tổng kết quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm trước :
Nội dung này bao gồm đánh giá tình hình thực hiện các mục tiêu và các chỉ tiêu của kế hoạch 5 năm trước, nêu bật những việc đã làm được và những việc chưa làm được, tìm ra những nguyên nhân thành công và thất bại, tổng hợp thành các bài học... Ở tầm kinh tế vĩ mô, cần phải phân tích các mối quan hệ liên ngành, liên lĩnh vực để phân tích tích ra những nguyên nhân sâu xa, cơ bản, và là nguồn gốc chủ yếu của thành công và thất bại. Ở các ngành, các địa phương, cần đánh giá kỹ những thành tựu đã đạt được, nhất là những cơ sở vật chất kỹ thuật tăng thêm do thực hiện các chương trình đầu tư, trong đó chú trọng xem xét đánh giá kết quả và hiệu quả của các chương trình đầu tư công cộng. Đánh giá không chỉ khoanh trong các nội dung kinh tế mà phải bao gồm cả các nội dung xã hội, môi trường...
(2) Dự báo các khả năng phát triển, các nhân tố tăng trưởng và các nguồn lực phát triển có thể huy động vào sử dụng trong kỳ kế hoạch:
Nội dung này bao gồm đánh giá các nguồn lực phát triển có thể khai thác đưa vào sử dụng trong kỳ kế hoạch như nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, lao động, cơ sở vật chất kỹ thuật sẵn có, vốn tài chính, vốn công nghệ,...; dự báo khả năng thị trường trong nước và thế giới, tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực, tiến trình đổi mới trong các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế sang kinh tế thị trường, vấn đề an ninh, quốc phòng, khả năng phát triển của 5 đối tác chính là khối Liên minh Châu âu, Bắc Mỹ, khối ASEAN, Trung quốc, và Nhật bản và Hàn quốc; phân tích các mối quan hệ giữa các yếu tố trong và ngoài nước, những thuận lợi và khó khăn... đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội thời kỳ kế hoạch.
Từ tất cả những phân tích trên, tiến hành dự báo các khả năng phát triển kinh tế xã hội của đất nước, của từng địa phương trong thời kỳ kế hoạch, theo nhiều phương án khác nhau.
(3) Chọn các phương án phát triển phù hợp nhất  
Quá trình dự báo trong bước 2 sẽ đưa ra nhiều phương án khác nhau, có phương án xấu nhất và phương án lạc quan nhất. Trên cơ sở các phương án này, sẽ tiến hành phân tích từng phương án để chọn 1, 2 hoặc 3 phương án làm phương án kế hoạch. Thông thường, phải có một phương án thuận, tức là phương án dựa trên dự báo có khả năng vượt được các khó khăn, điều kiện trong nước và quốc tế thuận lợi, và một phương án không thuận, tức là phương án dựa trên dự báo sẽ gặp nhiều khó khăn khách quan và chủ quan...
Việc lập các phương án thuận và không thuận có ý nghĩa rất lớn để có thể chủ động trong điều hành kế hoạch, phục vụ mục tiêu phát triển dài hạn. Nhờ những phương án có sẵn này, khi tình hình không thuận, sẽ dễ dàng, nhanh chóng điều chỉnh được kế hoạch phát triển theo phương án thấp hơn, không để nền kinh tế rơi vào bị động, mất cân đối trong quá trình điều chỉnh trước biến động không thuận của môi trường. Trong xây dựng kế hoạch 5 năm, phương pháp cuốn chiếu là một phương pháp rất tốt đang được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Nội dung cơ bản của phương pháp này là điều chỉnh lại kế hoạch hàng năm trong quá trình thực hiện kế hoạch 5 năm và chiến lược 10 năm.
(4) Xây dựng hệ thống các quan điểm phát triển phù hợp nhất cho chặng đường 5 năm của kế hoạch:           
Hệ thống các quan điểm phát triển được xây dựng căn cứ vào chiến lược phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, quy hoạch phát triển dài hạn và việc phân kỳ chúng thành các giai đoạn phát triển nối tiếp nhau.  Nội dung chính của quá trình xây dựng hệ thống các quan điểm phát triển là thiết lập các quan điểm sau làm tư tưởng chỉ đạo xây dựng kế hoạch:
   - Quan điểm kết hợp tăng trưởng với ổn định và bền vững, và chuẩn bị tiền đề cho các giai đoạn phát triển sau;
   - Quan điểm về kết hợp hài hoà phát triển kinh tế và phát triển xã hội;
   - Quan điểm về phát triển điểm và diện;
   - Quan điểm về kết hợp nguồn lực trong nước với nguồn lực bên ngoài;
   - Quan điểm phát triển thành phần kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh, doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài;
(5) Xác định các mục tiêu và các chỉ tiêu phát triển trong kỳ kế hoạch           
Đây là vấn đề rất phức tạp. Ở cấp tổng thể nền kinh tế quốc dân cũng như ở các ngành, các lĩnh vực và từng địa phương, phải xác định thật rõ và chính xác hệ thống các mục tiêu kinh tế xã hội phải đạt trong kỳ kế hoạch, trong đó có mục tiêu cơ bản, mang tính bao trùm và sẽ được coi như khẩu hiệu hành động. Mục tiêu cơ bản của kế hoạch 5 năm 1991-1995 là ổn định kinh tế. Mục tiêu cơ bản của kế hoạch 5 năm 1996-2000 là tăng tốc thông qua thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Mục tiêu cơ bản của kế hoạch 5 năm 2001-2005 là tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững (nhưng chưa chú ý đến yếu tố môi trường).
Còn mục tiêu cơ bản của kế hoạch 5 năm 2006-2010 là gì ? Một số ý kiến cho rằng mục tiêu cơ bản của kế hoạch tới là việc làm, vì đây đang là vấn đề kinh tế xã hội bức xúc nhất. Giải quyết được việc làm vừa tạo ra thu nhập cho người dân và phát triển kinh tế, vừa chống được hàng loạt các tệ nạn xã hội sinh ra do thiếu việc. Đại hội Đảng lần thứ X đã chỉ rõ mục tiêu cơ bản của kế hoạch 5 năm 2006-2010 là “Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, đạt được chuyển biến quan trọng về nâng cao hiệu quả và tính bền vững của sự phát triển, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển”.
Hệ thống các mục tiêu và chỉ tiêu phát triển phải kết hợp giữa định tính và định lượng. Các chỉ tiêu để đánh giá, so sánh phải được tính theo giá cố định. Các chỉ tiêu cơ cấu kinh tế, thu chi ngân sách, tích luỹ, đầu tư... phải được tính theo giá hiện hành vì chỉ tính theo giá hiện hành mới phản ánh đúng thực trạng kinh tế. Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ dự báo chỉ số giá và thông báo cho các địa phương, các ngành để các địa phương, ngành tính toán các chỉ tiêu của mình theo giá hiện hành. Có 5 nhóm mục tiêu cơ bản sau đây:
   - Tăng trưởng kinh tế, mà mục tiêu tổng quát là tốc độ tăng trưởng GDP, trong đó có cụ thể hoá cho tốc độ tăng trưởng sản xuất ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ.
   - Ổn định nền tài chính quốc gia, gồm hệ thống tài chính và hệ thống ngân hàng. Nội dung cơ bản là phát triển tiềm lực tài chính, tăng khả năng thu ngân sách và chi ngân sách cho đầu tư phát triển, xử lý hài hoà quan hệ tích luỹ - tiêu dùng, huy động mọi nguồn vốn vào đầu tư phát triển, lành mạnh hoá hoạt động của hệ thống ngân hàng...
   - Kiểm soát tỷ lệ lạm phátở mức chấp nhận được, ổn định giá trị đối ngoại của đồng tiền (tỷ giá) phù hợp với tình hình thị trường và duy trì sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu; cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, đặc biệt là cán cân thanh toán vãng lai.
   - Giảm tỷ lệ thất nghiệp, giải quyết tốt công ăn việc làm, phát triển dân trí, cải thiện điều kiện sống của dân cư và phát triển mọi mặt đời sống xã hội.
Các ngành, các địa phương căn cứ vào quy hoạch tổng thể phát triển của ngành, địa phương mình sẽ xây dựng hệ thống các mục tiêu nhằm cụ thể hoá hệ thống mục tiêu vĩ mô của đất nước, đưa ngành, địa phương mình phát triển hài hoà với xu hướng chung của toàn nền kinh tế.
(6) Xây dựng hệ thống các cân đối vĩ mô chủ yếu
Nội dung này bao gồm tính toán và xác định các cân đối lớn như tích luỹ - tiêu dùng; cân đối ngân sách nhà nước; cân đối tiền tệ; cân đối vốn cho đầu tư phát triển kinh tế xã hội trong đó có tính đến huy động mọi nguồn lực vào phát triển; cân đối xuất nhập khẩu; cân đối cán cân thanh toán quốc tế; cân đối năng lực sản xuất và nhu cầu các sản phẩm chủ yếu trong nền kinh tế...
Ở các ngành, các địa phương, cần tính toán thật đầy đủ khả năng huy động các nguồn lực phát triển, từ đó cụ thể hoá các cân đối vĩ mô về hiện vật và giá trị, để trên cơ sở các cân đối này, sẽ thiết lập được hệ thống điều hành đủ nhanh, nhạy phục vụ công tác thực hiện kế hoạch ở ngành, cấp mình.
(7) Xây dựng các chương trình phát triển (chương trình mục tiêu quốc gia)
Xây dựng các chương trình phát triển là nội dung cốt lõi của xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm. Nội dung của nó bao gồm chuẩn bị các công trình, dự án nhằm hoàn thành thắng lợi mục tiêu kế hoạch nhà nước. Quá trình xây dựng các chương trình phát triển bao gồm các bước sau:
   - Xác định mục tiêu của từng chương trình và một số chỉ tiêu then chốt;
   - Phân tích vai trò, phạm vi tác động của từng chương trình đến khả năng hoàn thành các mục tiêu chung của toàn nền kinh tế, của từng ngành, vùng và địa phương.
   - Xác định các điều kiện vật chất, kỹ thuật, tài chính... cần thiết để thực hiện chương trình, bao gồm cả các giải pháp và các cơ chế chính sách nhằm huy động các nguồn lực;
   - Xây dựng cơ chế điều hành chương trình.
(8) Xây dựng chương trình đầu tư phát triển toàn xã hội:
Mục đích của xây dựng các chương trình đầu tư phát triển toàn xã hội là bảo đảm thực hiện được các mục tiêu kinh tế vĩ mô. Trong số các chương trình này, các chương trình đầu tư công cộng đóng vai trò quyết định. Nội dung công việc là xác định danh mục các dự án đầu tư trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng vùng và từng địa phương, có thời gian khởi công và hoàn thành rõ ràng, có tính đến huy động các nguồn vốn đưa vào thực hiện. 5 nguồn vốn phải tính đến là:
   - Nguồn vốn thuộc Ngân sách Nhà nước, gồm một phần vốn ODA;
   - Nguồn vốn thuộc Tín dụng Nhà nước, bao gồm một phần vốn OAD chuyển sang hệ thống ngân hàng để cho vay lại;
   - Nguồn vốn thuộc khu vực doanh nghiệp nhà nước đầu tư;
   - Nguồn vốn thuộc các tầng lớp nhân dân đầu tư;
   - Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
(9) Xây dựng hệ thống các giải pháp, cơ chế chính sách để điều hành nền kinh tế, bảo đảm thực hiện mục tiêu
Nội dung của bước này là đề ra được một hệ thống các giải pháp mang tính hiện thực và đồng bộ, càng chi tiết cụ thể càng tốt để thực hiện các mục tiêu kế hoạch. Đặc biệt phải làm rõ thứ tự ưu tiên và lịch trình thực hiện từng giải pháp để tháo gỡ những khó khăn, thực hiện tốt từng nội dung và tiến độ đề ra trong kế hoạch. Các giải pháp được hợp thành 4 nhóm vấn đề lớn sau:
a) Nhóm các chủ trương kinh tế và các chính sách kinh tế nhằm tiếp tục ổn định kinh tế vĩ mô
   - Xây dựng, đổi mới hệ thống pháp luật, tạo động lực phát triển cho 5 năm tới.
   - Xây dựng các chính sách để huy động mọi tiềm năng vào phát triển.
   - Cải cách hành chính, nâng cao năng lực điều hành của chính quyền các cấp.
b) Nhóm các chủ trương kinh tế và các chính sách kinh tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hội nhập, cạnh tranh và phát triển.
   - Chủ trương và chính sách phát triển kinh tế đối ngoại.
   - Chính sách hội nhập.
   - Chính sách mơ rộng thị trường...
   - Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài, vốn ODA...
c) Nhóm các chủ trương, chính sách phát triển xã hội: Nguồn nhân lực, lao động, khoa học kỹ thuật, xóa đói giảm nghèo, văn hóa y tế, giáo dục...
d) Nhóm các chính sách phát triển vùng và lãnh thổ; hỗ trợ các vùng nghèo...
....

2)  Tổ chức thực hiện:
a) Hình thành các nhóm nghiên cứu:
Khi nghiên cứu xây dựng kế hoạch 5 năm, Bộ KH-ĐT là cơ quan giúp chính phủ tổ chức và thu hút mọi nguồn cán bộ vào hình thành các nhóm nghiên cứu xây dựng kế hoạch. Những nhóm nghiên cứu chủ yếu là:
- Nhóm nghiên cứu xá định các mục tiêu của kế hoạch và xây dựng các cân đối vĩ mô: Nhóm này tập hợp các nhà nghiên cứu và điều hành kế hoạch công tác tại các Vụ, Viện mang tính tổng hợp của các Bộ tổng hợp, như Bộ KH-ĐT, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước, Bộ Thương mại, Ban Vật giá Chính phủ..., và cán bộ của một số trường đại học, viện nghiên cứu của các ngành, các Bộ khác.
Nhiệm vụ của nhóm là:
+ Nghiên cứu, hình thành các mục tiêu của kế hoạch 5 năm;
+ Nghiên cứu, đánh giá kỹ lưỡng các nguồn lực có khả năng huy động vào phát triển kinh tế xã hội trong thời kỳ kế hoạch;
+ Xác định các cân đối vĩ mô để sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực đó;
+ Cân đối các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội với các nguồn lực, hình thành các phương án và dự kiến phân kỳ thực hiện kế hoạch 5 năm thành các kế hoạch hàng năm.
- Nhóm xây dựng các phân tích, dự báo khả năng phát triển: Nhóm này tập hợp các nhà nghiên cứu kinh tế, các chuyên gia đầu ngành về khoa học, kỹ thuật, công nghệ, các nhà xã hội học, giáo dục học, các nhà nghiên cứu về kinh tế môi trường,...công tác tại các viện nghiên cứu của các Bộ, ngành, trường đại học...
Nhiệm vụ của nhóm là tập trung phân tích và dự báo bối cảnh kinh tế xã hội, các mối quan hệ ràng buộc và tác động lẫn nhau giữa nhiều hiện tượng kinh tế xã hội trong suốt thời kỳ phát triển, trên tất cả các lĩnh vực, cả trong nước và quốc tế. Qua những phân tích và dự báo trên cơ sở thực trạng đất nước sau thời kỳ kế hoạch trước, sẽ luận giải và xác định các khả năng và tình huống phát triển đất nước, xác định những khó khăn và thuận lợi của nền kinh tế trong kỳ kế hoạch mới.
Có thể nói đây đang là lĩnh vực yếu kém nhất trong công tác kế hoạch hoá ở nước ta mặc dù đó là lĩnh vực cực kỳ quan trọng, đóng vai trò then chốt trong xây dựng kế hoạch. Trên thực tế, chúng ta thường coi nhẹ giai đoạn này. Chính xuất phát từ những dự  sai lệch, đã dẫn đến bố trí cơ cấu kinh tế sai, tiếp đó bố trí cơ cấu đầu tư sai, và hệ thống các chính sách thực hiện không phù hợp với diễn biến tương lai của nền kinh tế. Khi bố trí cơ cấu kinh tế sai thì càng tăng trưởng nhanh, sẽ càng sớm đi tới khủng hoảng. Thiệt hại do khủng hoảng cơ cấu thường rất lớn, phải hàng thập kỷ mới xử lý được. Ví dụ như chọn cây cao su làm cây chiến lược chẳng hạn.
Một lý do quan trọng dẫn đến những yếu kém trong công tác phân tích, dự báo chính là sự yếu kém của hệ thống thông tin kinh tế xã hội.
- Nhóm chuyên về phát triển các ngành, lĩnh vực và địa phương: Đây là nhóm tập hợp rất đông các nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế trong nhiều ngành chuyên sâu tại tất cả các bộ, ngành, địa phương, từ sản xuất kinh doanh tới văn hoá, y tế, giao dục... Nhiệm vụ của nhóm này là nghiên cứu xây dựng kế hoạch phát triển các ngành kinh tế quốc dân, các ngành thuộc lĩnh vực xã hội, môi trường..., trong đó phải xác định được hệ thống các mục tiêu và chỉ tiêu phát triển ngành, hình thành các chương trình đầu tư, thứ tự ưu tiên của các chương trình đầu tư, phân bổ các nguồn lực, kể cả vốn tài chính cho phát triển ngành. Đây là lĩnh vực đã được làm tương đối kỹ trong công tác kế hoạch hoá hiện nay của nước ta.
- Nhóm nghiên cứu đề xuất các giải pháp phát triển, cơ chế chính sách cần áp dụng: Nhóm này tập hợp các nhà nghiên cứu xây dựng và soạn thảo các Luật kinh tế, luật xã hội, các nhà hoạch định chính sách phát triển và các cơ chế quản lý kinh tế ở tầm vĩ mô, một số nhà quản lý doanh nghiệp giỏi ở nhiều ngành, nhiều vùng... Số cơ quantham gia vào nhóm này rất lớn. Nhiệm vụ của nhóm là nghiên cứu xây dựng các cơ chế, chính sách, luật kinh tế xã hội, tạo dựng môi trường vĩ mô ổn định và thuận lợi cho quá trình phát triển.
Trong toàn bộ quy trình xây dựng kế hoạch 5 năm, Bộ KH-ĐT là trung tâm liên kết các nhóm trên, phối hợp để cùng nhau hình thành bản kế hoạch phát triển toàn diện mọi lĩnh vực kinh tế xã hội. Để hoàn thành nhiệm vụ của mình, Bộ KH-ĐT ...
b) Tiến độ xây dựng kế hoạch 5 năm:
Thời gian nghiên cứu xây dựng kế hoạch 5 năm thường được phân bổ như sau:
- Bước 1: Trước hai năm của thời kỳ kế hoạch, sẽ xây dựng và thông qua đề cương nghiên cứu kế hoạch 5 năm tới. Ví dụ khi xây dựng kế hoạch 2006-2010, giai đoạn này được thực hiện vào năm 2003.
- Bước 2: Trước 1 năm của thời kỳ kế hoạch, phải tiến hành xong các bước: đánh giá tình hình, dự báo và xác định các cân đối vĩ mô. Ví dụ khi xây dựng kế hoạch 2006-2010, giai đoạn này được thực hiện vào năm 2004.
+ Đánh giá tình hình 5 năm trước (Vụ Tổng hợp KTQD)
+ Dự báo tình hình trong nước và khu vực (Viện CLPT, Vụ Tổng hợp, Viên QLKT, Vụ KTĐN, Vụ ĐTNN)
+ Dự báo các khả năng phát triển (Vụ Tổng hợp, Viện CLPT, Viện QLKT, Vụ Tài chính - Tiền tệ),
+ Dự báo phát triển các ngành, lĩnh vực (các Vụ chuyên ngành)
+ Dự báo thay đổi cơ chế, chính sách (Viện QLKT, Vụ Tổng hợp, Viện CLPT)
+ Hình thành khung kế hoạch 5 năm và thông báo cho các cấp cơ sở.
Trong bước này, Bộ KH-ĐT tổ chức hội nghị toàn ngành kế hoạch để hướng dẫn các Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu làm kế hoạch, chậm nhất là vào 31/5/2004 đối với kê hoạch 2006-2010; trong đó:
+ Thông tin về khung kế hoạch
+ Thống nhất một số phương pháp luận về dự báo, tính toán các chỉ tiêu phát triển.
+ Gợi ý một số mục tiêu phát triển cho từng ngành, vùng lãnh thổ để các Bộ, ngành, địa phương nghiên cứu xây dựng kế hoạch
Ở cấp các bộ, ngành, địa phương, căn cứ vào khung kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm và dựa trên chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm, 20 năm của đất nước, các ngành, các cấp sẽ xây dựng kế hoạch cho ngành, cấp mình (bổ xung sau...         Các địa phương xây dựng khung kế hoạch của mình trong vòng 3 tháng (1/6 đến 30/8/2004). Bộ KH- ĐT giúp đõ các địa phương xây dựng.
Nội dung cụ thể của kế hoạch 5 năm ở cấp tỉnh ?

Bộ KH-ĐT tổng hợp khung kế hoạch của các Bộ, ngành, địa phương.
- Bước 3 (năm còn lại trước kỳ kế hoạch): Các cấp trung ương, địa phương đều tập trung vào xác định cụ thể các mục tiêu, các chỉ tiêu phát triển, định hướng phát triển các ngành, các lĩnh vực, các chương trình phát triển, danh mục các dự án, các công trình phát triển và định hướng các cơ chế chính sách. Ví dụ khi xây dựng kế hoạch 2006-2010, giai đoạn này được thực hiện vào năm 2005.
Các Bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch chi tiết.
Bộ KH-ĐT tổng hợp kế hoạch của các Bộ, ngành, địa phương. Tập trung vào các mặt:
+ Dự báo tiến bộ KHKT và ứng dụng
+ Kế hoạch phát triển nông nghiệp và nông thôn.
+ Kế hoạch phát triển công nghiệp và nông thôn.
+ Kế hoạch phát triển kinh tế đối ngoại
+ Kế hoạch phát triển cơ sở hạ tầng và dịch vụ.
+ Kế hoạch phát triển văn hoá xã hội.
+ Kế hoạch phát triển một số vùng, lãnh thổ.
- Bước 4: Hội thảo lấy ý kiến, tu chỉnh, sửa chữa, báo cáo cấp trên xin ý kiến. Sửa lại lần cuối và báo cáo chính thức.
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng kế hoạch, các bước sẽ được thực hiện xen kẽ nhau thành nhiều vòng để hỗ trợ cho nhau và chính xác, cân đối dần các nội dung của kế hoạch 5 năm tới. Đặc biệt, trong các bước đều có giai đoạn tham vấn ý kiến cộng đồng.
CHƯƠNG 4
QUY TRÌNH THỰC HIỆN NHỮNG CÂN ĐỐI LỚN TRONG LẬP KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI 5 NĂM VÀ HÀNG NĂM


   Trong các báo cáo KH PT KTQD, bên cạnh trình bày các chỉ tiêu về kết quả PT kinh tế gồm tốc độ tăng trưởng GDP của CN, NN, DV và toàn nền KT, tăng trưởng xuất khẩu, nhập khẩu, đầu tư và các thành phần của chúng, tăng thu chi ngân sách nhà nước... thường có phần trình bày những cân đối lớn của thời kỳ kế hoach, thường là 5 năm.