Showing posts with label tỷ giá. Show all posts
Showing posts with label tỷ giá. Show all posts

Wednesday, August 14, 2013

10 đồng tiền rẻ nhất thế giới

Hơi lạ khi vnexpress.net đưa tin này, ngang bằng trát phân vào mặt mấy đời Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong đó có cả đương kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (27 tháng 6, 1998 – 27 tháng 6, 1999). Đau nữa là không thấy kíp Lào hay real Campuchia nằm trong danh sách các đồng tiền đáng xấu hổ này.
10 đồng tiền rẻ nhất thế giới
Bằng cách so sánh giá trị quy đổi của một đồng tiền ra bảng Anh, Telegraph cho rằng tiền Việt có giá thấp nhất khi 33.000 đồng mới đổi được một bảng.
Theo Telegraph, một xu (Anh) ngày nay chẳng mua được gì nhưng vẫn có giá hơn đồng tiền
Việt Nam. Nếu đổi ngang, khoảng 33.000 đồng mới bằng một bảng Anh (1,54 USD).
Xếp sau đó là đồng rupiah của Indonesia. Một bảng Anh đổi được 15.300 rupiah.
Giữ vị trí thứ 3 là tiền Columbia, 2.880 peso cho một bảng.
Tiền của Tazanian thấp hơn một chút so với Columbia. Mỗi bảng Anh có giá 2.500 shilling.
Một bảng Anh tương đương 1.730 won (đơn vị tiền của Hàn Quốc).
Dưới mốc 1.000 là tiền của Chile với 760 peso đổi một bảng.
Có giá trị gần bằng một nửa peso Chile, tiền forint của Hungary được đổi với tỷ giá 350 đồng
cho một bảng.

Rupee của Pakistan có tỷ giá 152 đồng ăn một bảng.


Bạn cần 135 shilling Kenya để đổi lấy một bảng.


Trong danh sách của Telegraph, tiền yen của Nhật là đồng có giá trị nhất so với
bảng Anh, 126 yen tương đương một bảng.

Theo Phương Linh (VnExpress.net)

Sunday, August 11, 2013

Có thể tiếp tục điều chỉnh tỷ giá

Có thể tiếp tục điều chỉnh tỷ giá
(HQ Online)- Trao đổi với phóng viên Báo Hải quan về khả năng hạ lãi suất trong thời gian tới, TS. Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, thành viên Ban tư vấn của Thủ tướng Chính phủ cho biết, có khả năng lãi suất sẽ tiếp tục giảm xuống. Điều này thực hiện được trên cơ sở nhiều khả năng Ngân hàng Nhà nước (NHNN) sẽ điều chỉnh tỷ giá.
Ông Lê Xuân Nghĩa.
Trong thời gian gần đây, ý kiến của nhiều chuyên gia kinh tế cho rằng, còn dư địa để NHNN giảm lãi suất. Xin cho biết quan điểm của ông về vấn đề này?
Theo quy luật, muốn kéo lãi suất xuống, NHNN phải tăng cung tiền, nhưng ngay tập tức tỷ giá sẽ tăng lên. DN đề nghị giảm lãi suất nhưng cũng mong muốn ổn định tỷ giá là điều khó thực hiện.
Trong cuộc họp Ban tư vấn của Thủ tướng Chính phủ mới đây, Ban tư vấn có bàn bạc, trao đổi với nhau rằng, vào thời điểm này, không còn khả năng hạ lãi suất được nữa, nhưng nếu Thủ tướng đồng ý cho phép từ nay đến cuối năm điều chỉnh tỷ giá thêm 1% thì sẽ mở ra cơ hội giảm lãi suất.
Nếu điều chỉnh tỷ giá sẽ ảnh hưởng tới hoạt động của các DN NK?
Giữa XK và NK bao giờ cũng có sự chênh lệch. Ví dụ như để XK 1 tấn cá được 5 nghìn USD, DN phải NK khoảng 3 nghìn USD, như vậy DN vẫn được lợi chênh lệch 2 nghìn USD.

Ông có thể phân tích cụ thể hơn về các điều kiện để điều chỉnh tỷ giá?
Trước đây, khi lãi suất tiền đồng cao, các ngân hàng bán USD chuyển sang tiền đồng để cho vay. Giờ khi lãi suất tiền đồng giảm, các ngân hàng lại mua USD về hoàn trả lại trạng thái ngoại tệ theo quy định của NHNN. Khi ngân hàng bán ngoại tệ lấy tiền đồng cho vay quá trình diễn ra chậm chạp, tạo trạng thái ngoại hối âm 1,2 tỷ USD trong toàn hệ thống ngân hàng nhưng đến khi hoàn lại thì quá trình hoàn khá nhanh. Trong vài ba tuần lễ trạng thái ngoại hối từ âm 1,2 tỷ USD còn âm hơn trên trăm triệu USD, tức là đã mua vào trên 1 tỷ USD. Đây là sự biến động mạnh trên thị trường, thực sự là sự dịch chuyển tài sản chứ không phải là do tác động của yếu tố tâm lý.
Bên cạnh đó, dữ trữ ngoại tệ bắt buộc ở ngân hàng Trung ương cũng tăng. Đầu năm số tiền dự trữ bắt buộc vượt yêu cầu khoảng 350 triệu USD, đến thời điểm tháng 6 đã tăng lên 450 triệu USD. Một hiện tượng khác có thể nhìn thấy là tiền gửi bằng ngoại tệ của các ngân hàng ra nước ngoài khá lớn. Nhìn từ cán cân thanh toán quốc tế, con số này lên tới trên vài tỷ USD và năm nay các ngân hàng gửi ngoại tệ ra nước ngoài nhiều hơn năm ngoái. Từ những yếu tố này có thể thấy, sự dịch chuyển tài sản của các ngân hàng là khá mạnh.
Vậy còn sự dịch chuyển của khu vực dân cư như thế nào, thưa ông?
Dân cư cũng đang có sự dịch chuyển tài sản. Nhiều người dân đã rút tiền đồng ra mua USD rồi lại gửi vào ngân hàng. Sự dịch chuyển này cũng được thể hiện ở số tiền gửi của dân cư bằng ngoại tệ tăng nhanh. Trong 6 tháng đầu năm đã tăng 15-16%. Bên cạnh đó, tiền gửi bằng ngoại tệ của DN cũng tăng. Điều này chứng tỏ cả khu vực DN và dân cư đều đang có sự đề phòng tỷ giá biến động.
Ngoài ra chúng ta cũng thấy một hiện tượng khác. Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng cũng tăng từ 1,2 -1,5% lãi suất qua đêm lên trên 5%. Điều này là do NHNN chủ động điều chỉnh để chênh lệch lãi suất giữa đồng USD và tiền đồng trên thị trường liên ngân hàng dãn ra.
Ông dự đoán như thế nào về lãi suất trong thời gian tới?
Từ nay đến cuối năm trong điều kiện điều chỉnh tỷ giá 1% đồng nghĩa có thêm dư địa hạ khoảng 0,5% lãi suất.
Xin cảm ơn ông!
Hồ Huệ (thực hiện)

Tuesday, August 6, 2013

Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ 1990-2002

Bài viết cũ của tôi:
MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ BÁO CÁO: "ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2002"

           Trước hết, tôi chân thành cám ơn ban tổ chức đã tin tưởng giao cho tôi phản biện báo cáo "Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ 1990-2002" của Ngân hàng NN Việt Nam". Đây là một công trình nghiên cứu toàn diện, công phu về một lĩnh vực khó và nhạy cảm của nền kinh tế, do đó việc đánh giá, nhận xét đòi hỏi phải có nhiều thời gian nghiên cứu sâu. Do thời gian nghiên cứu và nguồn thông tin về lĩnh vực này hạn hẹp, tôi chỉ xin đưa ra một số ý kiến dưới đây theo quan điểm cá nhân, không phản ảnh quan điểm của cơ quan công tác.
          Báo cáo gồm 22 trang, chia làm 2 phần lớn. Phần 1 đánh giá những mặt được cơ bản của nền kinh tế, trong đó tác giả xem xét tình hình qua 2 nội dung chính của chính sách tiền tệ là mục tiêu của chính sách tiền tệ và sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ. Trong phần 2, tác giả đề cập đến một số yếu kém, bất cập trong thực thi chính sách tiền tệ hiện nay. Như vậy, bố cục báo cáo đơn giản và phù hợp với lô gíc tự nhiên. Đi sâu vào tìm hiểu chi tiết, tôi cơ bản nhất trí với các nhận định, đánh giá thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của tác giả nêu ra. Vì vậy, dưới đây tôi không nhắc lại những điểm nhất trí mà chỉ tập trung nêu một số vấn đề cần bàn bạc làm rõ hơn.
          1) Về sự phù hợp của mục tiêu của chính sách tiền tệ với tình hình và yêu cầu phát triển kinh tế đất nước
          1.1) Tác giả đã xem xét tiến triển mục tiêu của chính sách tiền tệ (CSTT) qua 3 thời kỳ. Thời kỳ đầu từ năm 1989 đến 1991 được coi là những năm đầu xây dựng cơ sở cho việc hình thành khuôn khổ của chính sách tiền tệ; khi đó, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chưa hình thành mà chỉ đang trong quá trình phôi thai. Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng NHNN đã xác định rõ ràng mục tiêu của CSTT là chống lạm phát và ổn định giá trị đồng tiền, ổn định tỷ giá.
          Tôi hoàn toàn nhất trí với nhận định của tác giả rằng CSTT lúc đó còn phôi thai. Tuy nhiên, tôi cho rằng đó vẫn thực sự là CSTT với mục tiêu, nguyên tắc xử lý để đạt mục tiêu và các công cụ cần được sử dụng... đều rất rõ ràng. Thậm chí, chúng ta còn chủ động thay đổi công cụ điều hành CSTT khi công cụ đang sử dụng không đạt hiệu quả mong muốn. Cụ thể là:

          a) Về mục tiêu: giảm tỷ lệ lạm phát, góp phần ổn định kinh tế.
          Tuy nhiên lúc này không đặt ra vấn đề ổn định tỷ giá mà NHNN đã thực hiện chính sách tự do hoá tỷ giá (cùng với tự do hoá các hoạt động ngân hàng, kinh doanh tiền tệ).

          b) Về nguyên tắc xử lý: đi theo tiếp cận tân cổ điển, cụ thể là thuyết trọng tiền của M. Friedman, F. Hayek và các nhà kinh tế trọng tiền khác, theo đó phải sử dụng chính sách tiền tệ chặt ổn định để chống lạm phát; trong đó điểm then chốt là hạn chế tỷ lệ tăng trưởng tổng cung tiền tệ. Như vậy, tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ là mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ.

          c) Về sử dụng công cụ: Công cụ cơ bản đầu tiên được sử dụng là chính sách lãi suất thực dương và cao để thu hút tiền về hệ thống NH. Tuy nhiên, như mọi người đều thấy, chính sách lãi suất cao trong bối cảnh tự do hoá tài chính quá mạnh lúc đó đã nhanh chóng dẫn đến hiện tượng đầu cơ tiền tệ qui mô lớn, hậu quả là bùng nổ khủng hoảng tiền tệ và tín dụng năm 1990, hoàn toàn phù hợp với lập luận lý thuyết của Mc. Kinnon. Thất bại của chính sách lãi suất cao cũng vạch ra một trong những điểm yếu cơ bản của chính sách tiền tệ lúc đó: Lạm dụng công cụ của chính sách tiền tệ Keynes trong bối cảnh tự do hoá tài chính quá mạnh và lạm phát do nguyên nhân tiền tệ.

          - Vì hiệu quả của chính sách lãi suất cao giảm rõ rệt trong khi tác hại của nó ngày càng cao, nên nó được thay thế bằng công cụ thứ hai: Kiểm soát chặt chẽ cung tiền tệ M2. Tỷ lệ tăng trưởng cung tiền tệ M2 năm 1990 chỉ còn 53,1% so với 188,8% năm 1989.

          - Từ năm 1990-91, chính sách tiền tệ Việt nam dựa hoàn toàn vào học thuyết trọng tiền. Ngân hàng trung ương chấp nhận lãi suất thực âm, chỉ tập trung vào kiểm soát cung tiền tệ. Hậu quả là tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ giảm tiếp từ 53,1% năm 1990 xuống còn 33,7% năm 1992, 27,2% năm 1993. Ngược lại, lãi suất thực tụt xuống dưới 0, âm trong hầu hết các tháng của hai năm 1990-91 và trong nhiều tháng của những năm tiếp theo.

            d) Về phương thức kiểm soát cung tiền tệ lúc đó dựa vào 2 điểm chính:
+ Xác định khối lượng tiền tệ cần bổ sung hàng năm, theo nguyên tắc đồng thời thoả mãn đủ nhu cầu phương tiện thanh toán của nền kinh tế và kìm hãm lạm phát dưới một tỷ lệ mong muốn. Tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ được xác định theo công thức sau:
                             m  = p*  +  g  -  v
trong đó hai chỉ tiêu tỷ lệ tăng trưởng kinh tế g và tỷ lệ lạm phát dự kiến p* đã được Quốc hội quyết định, Ngân hàng trung ương phải dự báo tốc độ thay đổi vòng quay tiền tệ v để tính toán ra m và sau đó thực hiện quá trình phát hành tiền vào lưu thông.

+ Khối lượng tiền tệ tăng thêm này sẽ được sử dụng vào ba mục đích: Tăng tổng tín dụng cho nền kinh tế, cho ngân sách nhà nước vay và mua ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng trung ương.
Phần tiền tệ dành cho mục tiêu mua ngoại tệ phụ thuộc vào biến động hàng quý của cán cân thanh toán quốc tế. Vì Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tỷ giá thả nổi nên về nguyên tắc, có thể dễ dàng kiểm soát phần cung tiền tệ vì mục tiêu này. Tuy nhiên, trong thực tế, Ngân hàng Nhà nước đã tỏ ra hoàn toàn bị động và chạy theo xu hướng đầu cơ ngoại tệ trên thị trường, nên khi tỷ giá thị trường bị giới đầu cơ đẩy lên quá cao, mặc dù không phản ánh đúng bản chất của nền kinh tế và cân bằng cung cầu ngoại tệ, nhưng NHNN vẫn cung tiền rộng rãi để đáp ứng, dẫn tới đồng tiền Việt Nam vừa bị mất giá ngày càng nhanh so với ngoại tệ, vừa thừa nội tệ trong lưu thông và gây lạm phát cao trở lại trong 2 năm 1990-1991 (khoảng 67,5%/năm).
Mục đích thứ hai là để thực hiện điều 29 của Pháp lệnh Ngân hàng nhà nước năm 1990, theo đó Nhà nước có quyền vay Ngân hàng trung ương. Cuối cùng, về mục đích tín dụng, Ngân hàng trung ương căn cứ vào tỷ lệ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát dự kiến để tính toán tổng tín dụng cần thiết cho nền kinh tế và tổng lượng tiền cần cấp cho các ngân hàng thương mại cung như qui định hạn ngạch tín dụng cho từng loại ngân hàng thương mại.

          1.2) Thời kỳ thứ 2 từ năm 1992 đến 1995. Tác giả coi đây là giai đoạn CSTT bắt đầu được hình thành với mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ, mục tiêu trung gian là kiềm chế khối lượng tiền tệ tăng thêm. Bên cạnh mục tiêu riêng đó, CSTT đã có thêm mục tiêu góp phần đảm bảo tỷ lệ tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch Quốc hội thông qua.
          Tôi nhất trí với đánh giá trên của tác giả. Nhờ theo đuổi một chính sách tiền tệ khá chặt nên đã đem lại những kết quả mong đợi: Kết thúc lạm phát nguồn gốc tiền tệ, hệ thống kinh tế trở nên trong sạch và khoẻ mạnh, dự báo chính xác hơn và quyết định hợp lý hơn, và cuối cùng phục hồi được sản xuất, tăng việc làm với lạm phát ổn định trung bình khoảng 13% từ 1992 đên 1995. Chính trên cơ sở những thành tích này mà Ngân hàng Trung ương đã quyết định tiếp tục chính sách tiền tệ chặt cho giai đoạn sau năm 1995.

          Tuy nhiên tôi cho rằng nếu xem xét sự phù hợp của mục tiêu của chính sách tiền tệ với tình hình và yêu cầu phát triển kinh tế đất nước như tác giả đặt vấn đề thì có thể nói CSTT trong giai đoạn này đã không theo kịp tình hình nên dần dần trở nên quá chặt, chưa thực sự phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế đất nước, kìm hãm tốc độ tăng trưởng đầu tư, tăng trưởng tổng cầu và tăng trưởng kinh tế so với tiềm năng, đồng thời gây ra hiện tượng đô la hoá quá nhanh nền kinh tế và đẩy nềnkinh tế từ phát triển hướng ngoại sang hướng nội. Cũng do duy trì CSTT chặt quá dài, tỷ lệ lạm phát năm 1996 tụt xuống còn 4,5% năm 1996, 3,6% năm 1997...[2] trong khi nền kinh tế thiếu nghiêm trọng tín dụng nội địa phục vụ phát triển. Chúng ta đều thấy hiện tượng phi cân bằng tiền tệ này đã diễn ra khắp nơi trong nền kinh tế những năm 1992-93, nổi bật là những khan hiếm tiền tệ cho thanh toán giao dịch và cho tích luỹ vốn. Ngân hàng Nhà nước khi đó đã phải phát hành ngân phiếu để sử dụng thay tiền nhưng không phải là tiền[3].

Tình hình phi cân bằng tiền tệ nêu trên đã dẫn đến hai khả năng: Hoặc nhu cầu tích luỹ vốn của dân cư và tỷ lệ đầu tư, tăng trưởng kinh tế bị chặn lại, hoặc NHNN phải nới lỏng chính sách tiền tệ chặt, nghĩa là phải lựa chọn giữa tăng trưởng kinh tế nhanh (tăng cung tiền tệ để tăng tích luỹ và đầu tư) và ổn định trì trệ (chính sách tiền tệ chặt). Do tâm lý lo ngại không kiểm soát được tình hình nếu thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng nên NHNN cố tình duy trì CSTT chặt.

Tuy nhiên, dù lựa chọn mục tiêu gì, thì đến giữa năm 1994, NHNN cũng đã phải thừa nhận chính sách tiền tệ chặt đã làm cho những phi cân bằng tiền tệ ngày càng trở nên rất trầm trọng, do đó đã phải nới lỏng chính sách tiền tệ chặt. Tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ năm 1994 tăng lên gấp đôi so với năm 1993; tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với một số loại tiền gửi được điều chỉnh giảm xuống, đồng thời khung lãi suất cũng được mở rộng...

Tiếc thay, ngay từ giữa năm 1995, khi tình hình căng thẳng tiền tệ vừa giảm và trước một vài biến động  không lớn của giá cả, Ngân hàng Nhà nước đã vội vàng quay ngay trở lại chính sách tiền tệ chặt chính thống thông qua hàng loạt biện pháp mạnh như giảm tỷ lệ tăng trưởng cung tiền tệ, hạn chế tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại (hạn ngạch), tăng cường chính sách tín dụng tuyển chọn và buộc các ngân hàng thương mại cổ phần phải mua trái phiếu với lãi suất thấp (0,7%/tháng) để giảm tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của khu vực tư nhân... Các biện pháp này đã làm giảm hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại (vì nhiều ngân hàng phải giữ trong két hàng tỷ đồng không cho vay trong khi vẫn phải trả lãi cho người gửi, các ngân hàng vẫn không được phép từ chối không nhận tiền gửi) và làm tăng lãi suất cho vay của cả khu vực ngân hàng nhà nước lẫn khu vực ngân hàng tư nhân để bù đắp. Hậu quả là lãi suất cho vay đã tăng lên rất nhanh, thậm chí cao hơn nhiều so với lãi suất trần được qui định trong quyết định 184 QĐ/NH của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt nam tháng 9/1993. Đặc biệt, lãi suất cho vay trong khu vực tư nhân có lúc lên tới 50-80%/năm hoặc hơn.

Trong bối cảnh thiếu nghiêm trọng tín dụng nội địa, từ năm 1992, các nhà đầu tư nội địa đã phải xoay xở tìm kiếm con đường khác để huy động vốn cần thiết, trong đó họ rất chú trọng tới nguồn vốn từ nước ngoài, trước tiên là huy động tiền của bà con, anh em ở nước ngoài (việt kiều). Tiếp đó, sự tăng lên rất nhanh của xuất khẩu dầu thô và vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp, sự trở lại của nguồn vốn viện trợ ODA và nhất là chấm dứt cấm vận tài chính của Mỹ đối với Việt nam đã làm tăng rất mạnh khối lượng ngoại tệ trên thị trường Việt nam. Để đối phó với tình trạng thiếu hụt nội tệ do CSTT chặt gây ra, người ta đã sử dụng trực tiếp ngoại tệ trong hoạt động giao dịch, thanh toán, điều này kéo theo một cách tự phát và không thể tránh khỏi hiện tượng gia tăng tích luỹ và đô la hoá rất cao trong nền kinh tế Việt nam, thể hiện bằng tỷ lệ tăng trưởng cung ngoại tệ cao hơn nhiều so với tỷ lệ tăng trưởng cung nội tệ. Và vì cố tình duy trì một CSTT chặt nên NHNN đã phải nhắm mắt làm ngơ trước hiện tượng đô la hoá nền kinh tế bùng phát mặc dù đã có quy định cấm mua bán ngoại tệ và cấm sử dụng ngoại tệ trong giao dịch, thanh toán.

Ngân hàng Nhà nước đã hy vọng rằng luồng vốn nhập khẩu từ nước ngoài sẽ cho phép nâng cao tỷ lệ đầu tư nội địa và đồng thời ổn định được tỷ giá, chiếc neo mà Ngân hàng Nhà nước cố gắng duy trì để đẩy lùi lạm phát. Ý tưởng này rất đúng nếu như lượng nội tệ cung ứng đáp ứng đủ nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ thành nội tệ để đầu tư (tức là CSTT phải được nới lỏng) và luồng vốn đầu tư nước ngoài phải được sử dụng để nhập khẩu công nghệ mới, các máy móc thiết bị tiên tiến và các vật tư cần thiết phục vụ cho chiến lược phát triển hướng về xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng nội địa và khai thác các tiềm năng phát triển phong phú của đất nước.

Tuy nhiên, lý thuyết và thực tế đã không diễn ra như vậy. Như nhiều lý thuyết kinh tế và nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra, chiến lược phát triển dựa vào vốn nước ngoài có nguy cơ dẫn đến khủng hoảng mới vì hai lý do: Một là, đầu tư nước ngoài có xu hướng làm giảm tỷ lệ tích luỹ và đầu tư nội địa và làm tăng tiêu dùng nội địa ngoài tầm kiểm soát, tức là có sự thay thế giữa hai dạng vốn trong và ngoài nước. Hai là, vốn đầu tư nước ngoài thường dẫn đến đánh giá cao nội tệ, làm cho hàng hoá sản xuất trong nước trở nên kém cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Bản thân NHNN lúc đó đã theo đuổi CSTT chặt nên không cung cấp đủ lượng tiền tương ứng với sự tăng lên của tiết kiệm, đầu tư và tăng trưởng kinh tế; do đó đã trực tiếp cản trở quá trình chuyển ngoại tệ thành nguồn vốn đầu tư tăng trưởng.

Hai hiện tượng trên đã diễn ra trong nền kinh tế Việt nam trong thời kỳ bùng nổ kinh tế 1992-96. Tỷ trọng đầu tư bằng nguồn vốn nội địa giảm nhanh trong khi tỷ trọng vốn nước ngoài tăng lên rất mạnh. Tiêu dùng nội địa cũng tăng lên rất mạnh. Đặc biệt, nội tệ đã bị đánh giá cao so với ngoại tệ và ngày càng ảnh hưởng bất lợi tới quá trình tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế vì một mặt làm giảm lợi thế so sánh quốc tế của khu vực hàng thương mại quốc tế được (tradable sector), mặt khác mở ra những khó khăn ngày càng gay go cho sự phát triển của các ngành công nghiệp quan trọng sống còn của đất nước bởi vì chúng luôn luôn phải chịu đựng sự cạnh tranh rất mạnh của hàng hoá nhập khẩu, nhất là hàng nhập khẩu bất hợp pháp.

Hậu quả của CSTT chặt và đánh giá cao nội tệ đã đi xa hơn. Dưới áp lực cạnh tranh rất mạnh và bất bình đẳng của hàng nhập khẩu do chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá gây ra, các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đã chuyển vốn của mình từ khu vực làm hàng thương mại quốc tế được sang khu vực làm hàng không thương mại quốc tế được (non tradable sector), như bất động sản (tạo ra giai đoạn bùng nổ xây dựng), thương mại, dịch vụ và du  lịch... Xu hướng này đã kéo theo sự tăng lên rất nhanh của giá đất đai, dịch vụ, bất động sản, tiền lương so với giá cả các sản phẩm khác như chúng ta đã chứng kiến. Rõ ràng một quá trình di chuyển vốn, vật tư, lao động và các nguồn lực khác như vậy đã làm sai lệch phương hướng phát triển dài hạn của nền kinh tế quốc gia, vừa tạo ra một cơ cấu kinh tế ngày càng hướng nội, vừa làm giảm sút khả năng cạnh trạnh quốc tế, làm tăng thất nghiệp, và như chúng ta đều thấy, làm giảm dần tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đã giảm sút ngay từ năm 1996, trước khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực châu á xảy ra và 1 năm sau khi thắt chặt tiền tệ trở lại.

Như vậy, thất bại của cuộc tự do hoá hệ thống tài chính quá nhanh năm 1989-90 đã làm cho NHNN Việt Nam đến tận hôm nay vẫn tỏ ra rất thận trọng trong mỗi bước thực hiện CSTT và tự hoa hoá tài chính, trong đó có tự do hoá các hoạt động ngân hàng và tín dụng. Vì vậy, tiến trình cải cách hệ thống tài chính từ năm 1991 đã diễn ra rất chậm và bị cuốn theo sự phát triển của hệ thống thể chế, tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế, đồng thời ảnh hưởng rất tiêu cực tới quá trình tăng trưởng tự nhiên và định hướng chuyển dịch cơ cấu dài hạn của nền kinh tế.

Có thể nói trong hơn 10 năm đổi mới, trong khi tất cả các ngành kinh tế, xã hội đều phải không ngừng tự đổi mới, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, đồng thời tăng cường mở cửa để tham gia cạnh tranh quốc tế thì riêng ngành ngân hàng hầu không có tiến bộ đáng kể mặc dù có sự ưu đãi to lớn của nhà nước. Bao cấp trong toàn hệ thống ngân hàng đến nay vẫn rất nặng nề; bao cấp không chỉ đối với các NHTM quốc doanh mà còn cả với các NHTM cổ phần. Hiệu quả tín dụng ngày càng thấp kém. Ngoài ra còn phải kể đến những yếu kém của CSTT và sử dụng các công cụ của CSTT như sẽ được phân tích dưới đây.

          1.3) Thời kỳ thứ 3 từ năm 1996 đến nay. Tác giả chia thời kỳ này làm 2 giai đoạn nhỏ, gồm giai đoạn tiếp tục chính sách tiền tệ chặt (1996 đến giữa 1999) và giai đoạn thực hiện CSTT nới lỏng thận trọng (từ giữa năm 1999 đến nay). Tôi đồng ý với tác giả về nhận định thời điểm chuyển đổi giữa 2 CSTT là vào giữa năm 1999 (quý II).
          Việc chuyển từ CSTT chặt sang CSTT nới lỏng đã đem lại kết quả rất tích cực. Cung và cầu nội địa đều tăng nhanh, nhất là cung và cầu đầu tư; nhờ đó đã góp phần quyết định làm cho tỷ lệ tăng trưởng GDP tăng mạnh, từ 4,8% năm 1999 lên 6,8% năm 2000 và tiếp tục tăng lên trong những năm gần đây.
          Như vậy, CSTT nới lỏng đã tỏ ra có hiệu quả rất rõ rệt; tiếc rằng nó được thực hiện quá muộn nên nhiều cơ hội phát triển đã trôi qua trong khi hậu quả để lại rất nặng nề cần nhiều thời gian mới sửa chữa được. Trong giai đoạn hiện nay, tôi tán thành với nhận định của tác giả cho rằng cần tiếp tục thực hiện CSTT mở rộng thận trọng, chủ yếu vì tôi cho rằng chất lượng, hiệu quả của hoạt động tín dụng đã tụt đến mức rất thấp[4]...
Với các phân tích trên, tôi cho rằng chỉ nên chia quá trình phát triển CSTT nước ta làm 2 giai đoạn chính: giai đoạn thực hiện CSTT chặt 1989-1998 và giai đoạn thực hiện CSTT nới lỏng thận trọng 1999-2003.

2) Về sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ
          Do mục tiêu của CSTT trong hơn một thập kỷ qua chủ yếu là kiểm soát lạm phát bằng CSTT chặt, ngay cả khi nới lỏng cũng rất thận trọng nên việc sử dụng các công cụ cũng theo xu hướng trên.

          2.1) Công cụ lãi suất:
          Tôi nhất trí với những đánh giá của tác giả về tiến trình kiểm soát lãi suất ở nước ta trong thời kỳ từ năm 1990 đến nay; đặc biệt là các đoạn đánh giá một số nhược điểm của chính sách lãi suất, gây ra những làn sóng chuyển dịch luồng tiền gửi từ VNĐ sang USD rồi lại từ USD sang VNĐ, hoặc cơ chế lãi suất trần kéo dài đã làm méo mó sự phân bổ nguồn vốn và hạn chế sự luân chuyển vốn trong xã hội, hạn chế sự cạnh tranh của các tổ chức tín dụng, hạn chế sự phát triển của các công cụ khác của CSTT, thậm chí cản trở huy động nguồn vốn đầu tư nước ngoài hoặc kích thích các tổ chức tín dụng chuyển nguồn vốn trong nước ra nước ngoài...
          Tuy nhiên, tôi cho rằng sẽ là thành công hơn nếu tác giả đi sâu phân tích tiến triển của lãi suất thực và chênh lệch giữa lãi suất cho vay thực và lãi suất huy động thực của nền kinh tế, thay vì chỉ xem xét tiến triển của lãi suất danh nghĩa. Thực tế, lãi suất thực mới phản ánh đúng tình trạng căng thẳng trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Đáng tiếc là trong thực thi CSTT, NHNN chỉ chú ý đến các lãi suất danh nghĩa chứ ít khi chú ý tới các lãi suất thực (xem các báo cáo của NHNN), do đó đã liên tục xảy ra những căng thẳng (nóng hoặc lạnh) trên thị trường tiền tệ. Một số đặc điểm về tiến triển của lãi suất thực trong hơn 10 năm qua như sau:
          Trong giai đoạn đầu (1990-1991), lãi suất huy động thực và cho vay đều âm rất lớn (trừ lãi suất huy động thực năm 1990), đồng thời lãi suất huy động thực cao hơn lãi suất cho vay thực, trong khi năm 1989, cả hai lãi suất thực này đều dương rất lớn (khoảng 150% và 95%). Điều này phản ánh sự méo mó của cơ chế lãi suất, đồng thời cũng cho thấy chính sách tiền tệ dựa vào kiểm soát tiền tệ chứ không phải kiểm soát lãi suất.
          Trong giai đoạn thứ hai (1992-1998), các lãi suất thực đều dương và lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động, đồng thời lãi suất thực có xu hướng giảm dần do tốc độ giảm lãi suất danh nghĩa nhanh hơn tốc độ giảm tỷ lệ lạm phát. Như vậy, chính sách lãi suất giai đoạn này phù hợp hơn, đã tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế.
          Trong giai đoạn thứ ba (1999-2001), các lãi suất thực lại tăng lên do tỷ lệ lạm phát giảm mạnh đột ngột trong khi lãi suất danh nghĩa giảm chậm. Chúng ta đều thấy trong giai đoạn này, tỷ lệ tiết kiệm, đầu tư không tăng hoặc tăng chậm, làm cho tỷ lệ tăng trưởng kinh tế tụt xuống mức thấp nhất trong giai đoạn kể từ năm 1990 đến nay.
          Trong giai đoạn thứ tư (2002-2003), các lãi suất thực lại có xu hướng giảm do lãi suất danh nghĩa giảm, đồng thời tỷ lệ lạm phát tăng lên (khoảng 4%/năm). Quá trình này cũng đi liền với sự tăng lên của tỷ lệ đầu tư và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, mọi người đều biết, lãi suất thực hiện nay vẫn còn cao so với tỷ suất lợi nhuận của nền kinh tế.
          Như vậy, do chỉ chú trọng đến ổn định lãi suất danh nghĩa (mà thực ra là không cần thiết) trong khi không dự báo đúng tỷ lệ lạm phát nên lãi suất thực rất biến động, làm cho môi trường đầu tư không ổn định, ảnh hưởng bất lợi tới đầu tư dài hạn và tăng trưởng kinh tế.

          2.2) Công cụ dữ trữ bắt buộc
          Dự trữ bắt buộc là một trong những công cụ rất mạnh để điều tiết tổng cung tiền tệ trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta; tuy nhiên việc sử dụng công cụ này trong giai đoạn đầu rất kém vì chúng ta quá lạm dụng các công cụ trực tiếp của CSTT như hạn ngạch tín dụng, lãi suất, hệ thống NHTMQD... Chỉ đến những năm gần đây, khi quá trình tự do hoá kinh tế đã tiến được những bước khá dài và dưới sức ép của hội nhập quốc tế, NHNN mới buộc phải chuyển sang sử dụng các công cụ điều tiết gián tiếp, và khi đó vai trò của công cụ dự trữ bắt buộc mới thực sự được phát huy. Tôi hoàn toàn nhất trí với đánh giá của tác giả là đến nay dự trữ bắt buộc đã trở thành một trong những công cụ chủ yếu của CSTT.
          Tuy nhiên, tôi không đề cao vai trò của công cụ này trong giai đoạn hiện nay vì thực chất đây là một loại thuế đánh vào các hoạt động ngân hàng, do vậy, làm tăng chi phí hoạt động của chúng, làm tăng lãi suất cho vay và ảnh hưởng bất lợi tới đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Hiện nay đa số các nước công nghiệp và nhiều nước đang phát triển đã không còn sử dụng công cụ này trong điều hành CSTT.

          2.3) Nghiệp vụ chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở
          Có thể nói đến nay việc sử dụng 2 nghiệp vụ này còn rất yếu, hầu như không có vai trò gì đối với thực thi CSTT, trong khi ở các nước khác, chính đây mới là những công cụ mạnh nhất, quan trọng nhất.

Kết luận chung về chính sách tiền tệ:
Tóm lại, tôi nhất trí với tác giả là lãi suất là công cụ cơ bản để điều hành CSTT trong hơn 10 năm qua, trong khi vai trò của các công cụ điều tiết gián tiếp rất yếu. Tuy nhiên, bên cạnh công cụ lãi suất, cần phải kể đến nhiều công cụ quản lý trực tiếp khác có vai trò quan trọng không kém công cụ lãi suất, đáng kể nhất là hạn ngạch tín dụng, chính sách tín dụng lựa chọn, phát hành ngân phiếu, kỳ phiếu và đặc biệt là can thiệp thông qua chỉ đạo hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh. Chỉ đến khi những công cụ này không còn được phép sử dụng rộng rãi nữa thì NHNN mới tìm cách chuyển sang sử dụng các công cụ điều tiết gián tiếp.

Tiếc rằng do không có sự chuẩn bị chủ động từ trước nên đến nay NHNN vẫn tỏ ra rất bị động trước các biến động tiền tệ như các Báo cáo của NHNN cho thấy và như tác giả đã phân tích trong 10 trang cuối bản báo cáo. Điển hình là chưa xác định được cơ chế truyền tải của các chính sách của NHNN tới thị trường tiền tệ, thị trường vốn (trang 14), chưa xác định được độ trễ của các công cụ của CSTT (trang 16), sự yếu kém quá mức của bản thân thị trường tiền tệ và thị trường vốn (trang 21)... Khi mà cả cơ chế truyền tải và độ trễ còn chưa xác định được đồng thời đối tượng để áp dụng (thị trường tiền tệ, thị trường mở) còn rất yếu kém, phôi thai... thì CSTT bị động và kém hiệu quả là đương nhiên. Trong bối cảnh đó, việc kéo dài thắt chặt tiền tệ hoặc chỉ dám nới lỏng thận trọng khi sức ép của nền kinh tế đã quá lớn cũng là giải pháp tự nhiên; nhất là với một đội ngũ cán bộ ngân hàng luôn luôn lo sợ do đã trải qua nhiều đợt khủng hoảng tiền tệ trong những năm 1985-1990. Cũng do vậy, và do bị mất công cụ điều tiết trực tiếp nên khi lạm phát quá thấp hoặc khi lãi suất thực trở lên quá cao như đã xảy ra trong những năm gần đây, NHNN đã tỏ ra rất khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu lạm phát 5% do Quốc hội đề ra[5] hoặc cắt giảm lãi suất thực.

Rất may là tình hình đáng lo ngại này mới chỉ diễn ra trong những năm từ 1998-1999 đến nay, khi mà nền kinh tế nước ta đang tăng trưởng thấp, cung lớn hơn cầu, tỷ lệ lạm phát quá thấp... nên chưa phát sinh hậu quả lớn. Tuy nhiên, để phòng ngừa tình trạng nguy hiểm bùng phát khi tăng trưởng kinh tế trở lên nóng hơn, NHNN cần đẩy nhanh tốc độ xây dựng các công cụ điều tiết trong chính sách tiền tệ của mình, đáp ứng yêu cầu thực thị một chính sách tiền tệ tích cực, chủ động, vì mục tiêu động viên đầu tư, tăng trưởng và ổn định lạm phát (tôi đặt vai trò của mục tiêu đầu tư, tăng trưởng lên trên vai trò của mục tiêu ổn định lạm phát). Đây mới là nhiệm vụ trung tâm của chính sách tiền tệ hiện nay chứ không phải là yêu cầu đòi sự độc lập của NHNN đối với Chính phủ. Một khi mà NHNN thực thi CSTT còn quá yếu kém như hiện nay thì càng trao cho NHNN sự độc lập thì NHNN càng không dám hành động vì lo sợ phải gánh chịu toàn bộ hậu quả do CSTT của mình gây ra.

          3) Về chính sách tỷ giá:
          Tôi xin nói thêm một chút về chính sách tỷ giá. Tại các nước phát triển, tỷ giá không phải là một công cụ của CSTT mà chỉ là một trong những chỉ tiêu (hay mục tiêu) mà chính sách tiền tệ phải chú ý đến, giống như tăng trưởng kinh tế hay cân bằng cán cân thanh toán quốc tế... vì trong các nước đó người ta chỉ sử dụng nội tệ để giao dịch, thanh toán. Đồng tiền ở các nước đó cũng đã được tự do chuyển đổi. Chỉ có ở một số ít nước như nước ta, do tỷ lệ đô la hoá nền kinh tế quá cao và ngoại tệ đã được sử dụng trực tiếp làm phương tiện thanh toán như nội tệ thì tỷ giá mới được xem là một công cụ (hoặc mục tiêu) của CSTT.

          Ở nước ta, việc sử dụng công cụ tỷ giá có quá nhiều vấn đề cần nghiên cứu sâu sắc và toàn diện. Tỷ giá danh nghĩa ở nước ta đã trải qua giai đoạn được thả nổi hoàn toàn (1989-1991) dẫn tới nội tệ bị mất giá nghiêm trọng (cuối năm 1991 đạt 14.500 đồng/ USD, và phải 10 năm sau mới quay lại mức này), đến chỗ bị kiểm soát quá chặt (1992-1997) và rồi được nới lỏng trong giai đoạn từ sau khủng hoảng tiền châu á, rồi lại được quản lý chặt trong vài năm gần đây... Hậu quả là nội tệ bị đánh giá cao như tác giả đã đánh giá, ảnh hưởng bất lợi tới tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tiếc rằng báo cáo viết về tỷ giá quá sơ sài và tôi không có thời gian nên không thể trình bày dài ở đây.

          Đáng tiếc là cũng như trong trường hợp lãi suất, NHNN trong điều hành chính sách tỷ giá chỉ chú trọng tới tỷ giá danh nghĩa mà hầu như không xét tới tỷ giá thực trong khi tỷ giá thực mới là công cụ để duy trì và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, đảm bảo sự cân đối dài hạn giữa giá cả hàng hoá trên thị trường trong nước và giá cả hàng hoá đó trên thị trường quốc tế[6].

Mặt khác, phương thức xử lý mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá ở nước ta còn rất bất cập và đã kéo dài trong suốt một thập kỷ qua: Do tham vọng muốn kiểm soát đồng thời tỷ giá và tổng cung tiền tệ (qua đó thực hiện mục tiêu cuối cùng là ổn định lạm phát), NHNN đã tự mình làm méo mó CSTT và khó có thể có được cơ chế truyền tải CSTT đúng đắn và ổn định vì lý thuyết cán cân thanh toán quốc tế cũng như lý thuyết tiền tệ đã chỉ rõ muốn kiểm soát tỷ giá thì phải tự do hoá cung tiền tệ, hoặc ngược lại muốn kiểm soát cung tiền tệ thì phải tự do hoá tỷ giá; tức là không thể để hai biến này cùng ngoại sinh hoặc cùng nội sinh nhưng với 2 mục tiêu tính toán hoàn toàn độc lập nhau như NHNN mong muốn.




[1] TS. Lê Vit Đức, V Tng hp KTQD, B Kế hoch và Đầu tư, 18/11/2003.

[2] Tôi cho rng có nhiu nguyên nhân làm cho t l lm phát nước ta có th cao hơn so với trung bình của các nước có điều kiện tương tự. Đó là vì:
Mt là, nhà nước còn tiếp tc phi tăng giá các sn phm ca khu vc kinh tế nhà nước theo chương trình chuyn đổi sang kinh tế th trường để tăng thu ngân sách và gim bù l cho các doanh nghip đang sn xut các sn phm cơ bn phc v dân sinh như đin, nước nên giá c chung phi tăng. 
Hai là, do tính thi v ca ca mt s loi hàng hoá, nht là hàng lương thc thc phm, s còn xy ra nhng mt cân đối cung và cu thi v, làm cho mt bng giá b đẩy lên. 
Ba là, nh hưởng ca tăng giá trên th trường quc tế ti mt bng giá ni địa trong quá trình hi nhp và m ca ngày càng mnh. 
Bn là, cht lượng hàng hoá tăng lên khá nhanh trong nhng năm ci cách, ít nht cũng 5-7% mi năm vì khong 40-50% t l tăng trưởng ca nước ta có ngun gc t vn nhp khu t nước ngoài trong khi cht lượng sn phm ca khu vc này tăng lên rt nhanh do bi cnh cnh tranh ngày càng khc lit. Để tăng cht lượng sn phm, rõ ràng các doanh nghip trong nước phi tăng chi phí sn xut và đầu tư nên vic giá c tăng thêm 5-7% là hoàn toàn hp lý. 
Năm là, cn phi có mt t l lm phát nht định để kích thích tiêu dùng... Theo kinh nghim quc tế, t l này khong 2-3% hàng năm là hp lý.
T các phân tích trên, mt t l tăng giá 7-8% trong giai đon phát trin bình thường và khong 10% trong giai đon tăng trưởng cao là hp lý cho trường hp nước ta. Trên thc tế, trong giai đon kinh tế phát trin n định 1992-1998, t l lm phát trung bình ca ta là 9,6%/năm. Chúng ta còn thy trong nhng năm t l lm phát quá cao hoc quá thp, nn kinh tế đều có nhng biu hin không bình thường (tăng trưởng quá nóng hoc tăng trưởng quá chm). Chính vì vy, t l lm ch 3-4% là quá thp, gây nh hưởng rt tiêu cc ti tăng trưởng kinh tế.

[3] T gia năm 1993, NHNN đã đưa vào lưu thông các loi ngân phiếu vi mnh giá 5 triu, 1 triu và 500.000 đồng; thc cht đây là tin mt có mnh giá cao. Tuy nhiên, loi tin này có nhược đim ln là giá tr lưu hành ngn (3 tháng) và chi phí phát hành cao, nên có nhiu ý kiến đề ngh sm chm dt s dng loi tin này. Đáng tiếc là công c này đã được s dng kéo dài đến tn tháng 4 năm 2002 mi chm dt. Sau khi b ngân phiếu, NHNN yêu cu mi thanh toán các khon ln đều phi được thc hin qua tài khon; nhưng trong thc tế đã không làm được nhiu. Trước nhu cu khách quan ca cuc sng và sc ép ca hot động kinh tế, t 17/12/2003, NHNN đã đưa vào lưu thông loi tin có giá tr cao nht t trước đến nay là 500.000 đồng.

[4] Thc ra, đây chính là giai đon cn tiếp tc m rng chính sách ni lng tin t. Nhưng do cách điu hành méo mó hin nay ca NHNN làm cho phân b tín dng rt bt hp lý như hin nay, ví d như không cp tín dng cho nhng nơi s dng có hiu qu như doanh nghip tư nhân, nông nghip và nông thôn, mà ch chú trng cp tín dng cho các doanh nghip nhà nước; hoc tiếp tc cho các DNNN thua l vay để nuôi con n; hoc c tình cho vay không tính đến hiu qu kinh tế để thu li cá nhân..., thì thà không m rng CSTT còn hơn càng m rng, càng kém hiu qu và càng có nguy cơ dn ti khng hong toàn din h thng ngân hàng.

[5] Ch s giá tiêu dùng 2 năm 2002-2003 tăng lên ch yếu do tăng giá nông sn thế gii và chiến tranh I Rc; đây là nhng nguyên nhân bên ngoài.

[6] Vì t giá là công c để chuyn h thng giá trong nước thành giá quc tế và ngược li.

Ngân hàng Việt Nam gửi 2.5 tỉ đôla “ế” ra nước ngoài

Ngân hàng Việt Nam gửi 2.5 tỉ đôla “ế” ra nước ngoài
Tính đến đầu tháng 7, các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đã gửi 2.5 tỉ đô la vào các ngân hàng nước ngoài vì không tìm được nơi để cho vay.
Nhân viên một ngân hàng thương mại ở Hà Nội đếm các tờ 100 đô la Mỹ. Các ngân hàng không thể cho vay số tiền đang ôm, nên đã phải mua đô la rồi đem gửi ở ngân hàng nước ngoài kiếm lời, phản ảnh tình trạng kinh tế bế tắc của Việt Nam hiện nay. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)
Đó là thông tin mới nhất liên quan tới tình hình kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam, gián tiếp minh họa nền kinh tế không có gì sáng sủa. Thông tin này do ông Lê Xuân Nghĩa, cựu Phó chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia công bố trong một hội thảo diễn ra tuần trước.
Tháng trước, Tổng cục Thống kê của Việt Nam công bố hàng loạt chỉ số thống kê của sáu tháng đầu năm để cả quyết, tình hình kinh tế vĩ mô đang được cải thiện. Tuy nhiên, phần lớn chuyên gia kinh tế và báo giới lại cùng cho rằng, niềm tin vào sự hồi phục kinh tế cả trong doanh giới lẫn công chúng Việt Nam đang tiếp tục suy giảm.

Cũng tháng 7, Ngân hàng HSBC công bố, trong hai tháng 5 và 6, chỉ số mua hàng của giới quản trị (PMI), sụt giảm đáng ngại, điều đó cho thấy doanh giới cũng vẫn hạn chế đầu tư.

Chuyện các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đem 2.5 tỉ đô la đi gửi các ngân hàng nước ngoài vì không tìm được nơi để cho vay được xem là một bằng chứng minh họa cho sự phản bác tuyên bố của Tổng cục Thống kê về “tình hình kinh tế vĩ mô đang được cải thiện”.

Theo một số chuyên gia kinh tế, ngoài việc ngần ngại đầu tư, khu vực xuất khẩu vốn được phép vay ngoại tệ và vẫn được xem là “đầu kéo tổng cầu của nền kinh tế” cũng càng lúc càng bi đát nên không có nhu cầu vay vốn khiến các ngân hàng thừa mứa ngoại tệ.

Khác với Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê Sài Gòn nhận định, lĩnh vực tín dụng không có chuyển biến đáng kể. Cơ quan này cho rằng các doanh nghiệp không muốn vay vốn vì lượng hàng tồn kho cao do “đầu ra” khó khăn. Cá nhân cũng hạn chế vay tiền do việc làm thu hẹp, thu nhập giảm.

Tiền “ế” nên các ngân hàng thương mại dùng tiền đồng mua ngoại tệ để gửi cho các ngân hàng nước ngoài. Ngân hàng Nhà nước nhận định, đây chính là nguyên nhân khiến giá đô la tại Việt Nam tăng trong hai tháng 6 và 7.

Một số lãnh đạo ngân hàng thương mại than rằng, dẫu lãi suất cho vay đã giảm từ 18%/năm – 19%/năm xuống còn 9%/năm – 10%/năm, thậm chí giảm xuống chỉ còn 7%/năm nếu vay để sản xuất hàng xuất khẩu nhưng “tăng trưởng tín dụng” của họ vẫn âm. Nhiều “khách hàng tốt” vẫn lắc đầu bởi… không có nhu cầu!

Chẳng riêng doanh nghiệp mà hệ thống ngân hàng thương mại cũng đang bế tắc vì kinh tế suy thoái. Trước đây, nếu tiền bị ứ, những ngân hàng này có thể gửi vốn cho thị trường liên ngân hàng để hưởng lãi suất 4%/năm – 5%/năm nhưng hiện nay, lối thoát này coi như đã tắc vì lãi suất tụt giảm chỉ còn từ 1%/năm – 1.5%/năm.

Tờ Sài Gòn Tiếp thị kể rằng, do doanh nghiệp chê vốn, gần đây, tuần nào các ngân hàng cũng giới thiệu những “gói cho vay tiêu dùng” kiểu mới, với đủ hình thức ưu đãi nhưng việc cho vay tiêu dùng vẫn không khả quan. Viên Tổng giám đốc Ngân hàng Nam Á than rằng, dù lãi suất cho vay mua nhà đã giảm hơn một nửa so với năm trước nhưng vẫn khó “khơi thông dòng chảy”, khách hàng vẫn chưa muốn vay tiền mua nhà.

Cũng theo mô tả của Sài Gòn Tiếp Thị, đã xuất hiện tình trạng các ngân hành tranh nhau giảm lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay của một số ngân hàng hiện chỉ còn 5%/năm – 6%/năm.

(Người Việt)

Monday, August 5, 2013

Kinh tế chính trị của quan hệ tiền tệ quốc tế

Nguồn: J. Lawrence Broz & Jeffry A. Frieden (2001). “The Political Economy of International Monetary Relations”, Annual Review of Political Science 2001, No.4, pp. 317–343. >>PDF
Biên dịch: Phan Thị Ngọc Mai | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Download: KTCT cua quan he tien te quoc te.pdf
Tóm tắt: Cấu trúc của quan hệ tiền tệ quốc tế đã trở thành vấn đề nổi bật trong suốt hai thập kỉ qua. Cả chính sách tỷ giá hối đoái trong nước và đặc tính của hệ thống tiền tệ quốc tế đều cần được giải thích. Ở cấp độ quốc gia, lựa chọn chế độ tỷ giá và mức độ kì vọng của tỷ giá hối đoái đều liên quan đến sự đánh đổi về phân phối lợi ích. Vì thế, áp lực từ các nhóm lợi ích và các đảng phái, cấu trúc của các thể chế chính trị, và động cơ tranh cử của các chính trị gia đều ảnh hưởng đến quyết định chọn chế độ tỷ giá và mức tỷ giá. Ở cấp độ quốc tế, tính chất của hệ thống tiền tệ quốc tế phụ thuộc vào sự tương tác chiến lược giữa các chính phủ, điều này vốn chịu tác động từ lợi ích quốc gia và bị ràng buộc bởi môi trường quốc tế. Đặc biệt, chế độ tiền tệ cố định quy mô toàn cầu hay khu vực đều đòi hỏi ít nhất có sự phối hợp và hợp tác rõ ràng giữa chính phủ các quốc gia.
Giới thiệu
Nghiên cứu về quan hệ tiền tệ quốc tế từ lâu đã được coi là thuộc phạm vi của các nhà kinh tế và một số ít các nhà khoa học về chính trị. Người ta thường cho rằng, không giống như quan hệ thương mại quốc tế, các khoản nợ, hay đầu tư nước ngoài, tỷ giá hối đoái hay các chính sách tiền tệ đối ngoại có liên quan đều quá chuyên môn hoặc xa vời so với mối quan tâm của công chúng và các nhóm lợi ích đặc biệt, vì thế ít thu hút sự quan tâm trực tiếp của các nhà kinh tế chính trị (Gowa 1988). Điều này không thực sự chính xác theo như minh họa từ lịch sử về khía cạnh chính trị đầy bất ổn của chế độ bản vị vàng và gần đây hơn là mối quan tâm đến chính sách tiền tệ của các quốc gia nhỏ có nền kinh tế mở như ở Bắc Âu và các nước đang phát triển. Tuy nhiên, đúng là việc giá trị tiền tệ dễ dự đoán tới mức tẻ nhạt dưới thời kì hệ thống Bretton Woods đã khiến nhiều học giả thờ ơ không để ý tới lĩnh vực này (ngoại trừ Cooper 1968, Kindleberger 1970, Strange 1971, Cohen 1977, Odell 1982 và Gowa 1983)

Sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods đã khiến các nhà khoa học chính trị quan tâm nhiều hơn đến vấn đề này, và trong những năm 1980, vấn đề tiền tệ quốc tế đã thu hút sự quan tâm của giới chính trị trong nước và quốc tế cũng như giới học thuật. Đồng đôla tăng giá 50% cùng với các quan ngại bùng nổ trong nước và quốc tế do nó gây ra, sự sụp đổ hệ thống tiền tệ ở các quốc gia đang phát triển mắc nợ nhiều, cùng những nỗ lực gây nhiều tranh cãi xung quanh việc cố định tỷ giá hối đoái Châu Âu, tất cả đều khiến các nhà nghiên cứu quan tâm hơn đến vấn đề này.
Từ năm 1990, quan hệ tiền tệ quốc tế trở nên nổi bật hơn trong thực tiễn, và nghiên cứu về khía cạnh kinh tế chính trị của nó cũng vì thế mà gia tăng tầm quan trọng. Chính sách tỷ giá trở thành trọng tâm của cả hai sự kiện có thể nói là đáng chú ý nhất trong nền kinh tế quốc tế gần đây: đó là việc thiết lập đồng tiền chung châu Âu và làn sóng các cuộc khủng hoảng tiền tệ lây lan qua các nước Châu Á, Mỹ Latinh và Nga trong giai đoạn từ năm 1994 đến năm 1999.
Mặc dù phần lớn các nghiên cứu về khía cạnh kinh tế chính trị của quan hệ tiền tệ quốc tế chủ yếu là trong thời gian gần đây nhưng nó đã đem đến những cách tiếp cận thú vị và quan trọng về mặt lý thuyết, các tranh luận mang tính phân tích và các kết luận thực nghiệm. Chúng tôi tóm tắt các nghiên cứu này nhưng không thể bao quát thấu đáo hết các văn liệu phức tạp với số lượng ngày một tăng lên. Trong mục này, chúng tôi phác thảo vấn đề phân tích, vạch ra phạm vi các kết quả cần được giải thích. Phần tiếp theo tập trung vào một nhóm các vấn đề cần giải thích, các lựa chọn chính sách của chính phủ các quốc gia, các nghiên cứu điều tra về khía cạnh kinh tế chính trị trong nước đối với lựa chọn về tỷ giá hối đoái. Phần thứ ba xem xét nhóm các vấn đề thứ hai cần được giải thích, sự hình thành và quá trình phát triển của các thể chế tỷ giá khu vực và toàn cầu.
Hai nhóm có liên quan với nhau trong các hiện tượng tiền tệ quốc tế đều cần được giải thích. Nhóm đầu tiên ở phạm vi quốc gia: chính sách của từng chính phủ cụ thể đối với tỷ giá hối đoái. Nhóm thứ hai ở phạm vi quốc tế: đặc tính của hệ thống tiền tệ quốc tế. Cả hai có tương tác với nhau theo các hướng quan trọng. Lựa chọn chính sách trong nước, đặc biệt là các nước lớn, có tác động mạnh mẽ đến bản chất của hệ thống tiền tệ quốc tế. Vương quốc Anh và Hoa Kì theo thứ tự là các nhà tạo lập nên hệ thống bản vị vàng cổ điển và trật tự tiền tệ Bretton Woods, và việc hai nước trên quyết định rút ra khỏi các hệ thống này đã đặt dấu chấm hết cho chúng. Tương tự như vậy, chế độ tiền tệ quốc tế cũng có tác động mạnh mẽ đến lựa chọn chính sách của các quốc gia. Một nước nhỏ như Bỉ hoặc Costa Rica sẽ dễ có khả năng cố định tỷ giá theo vàng trước năm 1914, theo đôla hoặc một loại tiền tệ khác kể từ năm 1945, khi phần lớn các nước láng giềng cũng làm như vậy. Hai nhóm vấn đề quốc gia và quốc tế tương tác với nhau rất phức tạp, nhưng để dễ dàng phân tích chúng ta sẽ quan sát hai biến phụ thuộc tách biệt: các lựa chọn chính sách quốc gia của các chính phủ và đặc tính của hệ thống tiền tệ quốc tế.
Chính sách tỷ giá hối đoái quốc gia
Chính phủ mỗi quốc gia phải quyết định xem nên cố định đồng tiền vào đôla, vào một đồng tiền khác, hoặc vào vàng (trong những giai đoạn trước đó) hay thả nổi. Nếu quốc gia đó chọn cách thả nổi đồng tiền, nó phải quyết định xem có nên để thị trường tự do định giá đồng tiền hay nên nhắm đến một phạm vi tỷ giá cụ thể. Nếu là phương án thứ hai thì chính phủ phải quyết định mức giá mong muốn, nói khái quát là nên để tỷ giá hối đoái “mạnh” (tương đối tăng giá) hay “yếu” (tương đối giảm giá). Trong những trường hợp cụ thể, chính phủ phải quyết định ngay lập tức xem sẽ bảo vệ hay phá giá đồng tiền khi bị tấn công. Nhìn chung là có hai loại quyết định phải được đưa ra. Một là chế độ tỷ giá (ví dụ, cố định hay thả nổi) và hai là mức giá của đồng tiền (mạnh hay yếu).
Các lựa chọn này đều có tác động quan trọng về kinh tế và chính trị, và cũng không có một quan điểm kinh tế áp đảo nào về thế nào là một chính sách tỷ giá quốc gia tối ưu. Về điểm này, chính sách tiền tệ quốc tế khác với chính sách thương mại. Có nhiều quan điểm kinh tế thuyết phục xoay quanh lợi thế về của cải được tạo ra nhờ tự do thương mại, và tự do thương mại có thể được coi là đường cơ sở mà chính sách các quốc gia xoay quanh, và khoảng cách từ chính sách quốc gia tới tự do thương mại là điều cần được lý giải. Đối với chính sách tiền tệ, không có một lập luận rõ ràng nào về hiệu quả kinh tế để ủng hộ hay phản đối một mức độ cụ thể nào đó của tỷ giá hối đoái thực tế. Một loại tiền tệ mạnh (tăng giá) có giá trị tương đối so với các loại tiền tệ khác, vì thế mà các cư dân của quốc gia đó có sức mua cao hơn. Tuy nhiên, một đồng tiền mạnh sẽ khiến các nhà sản xuất trong nước các mặt hàng (hàng hóa và dịch vụ) có thể buôn bán trên thế giới vấp phải cạnh tranh nhiều hơn từ nước ngoài vì đồng tiền mạnh làm cho giá cả hàng hóa nước ngoài rẻ hơn một cách tương đối. Mặc dù các chính trị gia chắc chắn quan tâm đến các hiệu ứng này – cân nhắc mặt tích cực của việc thu nhập chung tăng lên so với hiệu ứng tiêu cực do cạnh tranh với nước ngoài tăng lên- cũng không có một lý do kinh tế thuần khiết nào là thắng thế hoàn toàn về việc chọn một chính sách nào đó. Trong văn liệu về một số khu vực tiền tệ tối ưu tồn tại một cách tiếp cận kinh tế chiếm ưu thế đối với vấn đề liên minh tiền tệ (và vì vậy, đối với tỉ giá hối đoái cố định). Nhưng văn liệu này không mang tính bao quát toàn diện, do đó chỉ có ít yếu tố thuần kinh tế có thể giải thích các chính sách của chính phủ các quốc gia.
Điều này có nghĩa là chính sách tỷ giá hối đoái của các quốc gia cần được cân nhắc cùng với các hệ quả chính trị của nó, vì sự đánh đổi mà các chính phủ phải cân nhắc là giữa các giá trị có tầm quan trọng khác nhau đối với các chủ thể chính trị – xã hội khác nhau. Chính phủ phải cân nhắc tầm quan trọng tương đối của sức mua của người tiêu dùng, sức cạnh tranh của nhà sản xuất các mặt hàng có thể buôn bán quốc tế, và tính ổn định của các biến kinh tế vĩ mô danh nghĩa. Sau đây chúng tôi khảo sát các cân nhắc chính trị tác động đến chính sách, nhưng trước tiên là miêu tả cấp độ quốc tế của việc phân tích các vấn đề tiền tệ quốc tế.
Các hệ thống tiền tệ quốc tế
Có hai loại chế độ tiền tệ quốc tế lý tưởng, và hệ thống tiền tệ hiện nay có xu hướng đi theo một trong hai loại này. Một là hệ thống tỷ giá cố định, theo đó đồng nội tệ được neo vào một đồng tiền khác tại một tỷ suất ngang bằng được công bố chính thức (và được thiết lập rõ ràng về mặt pháp lý). Một số hệ thống tỷ giá cố định có đồng tiền neo vào một loại hàng hóa như là vàng hay bạc, một số khác lại được neo vào một đồng tiền khác như đồng đôla Mỹ. Một chế độ tiền tệ điển hình mang tính lý tưởng khác là thả nổi hoàn toàn, theo đó giá trị của đồng tiền thay đổi theo điều kiện của thị trường và các chính sách kinh tế vĩ mô của quốc gia. Có thể có nhiều cấp độ khác nhau nằm giữa hai thái cực này.
Trong vòng 150 năm qua, thế giới đã trải qua ba trật tự tiền tệ quốc tế được biết đến rộng rãi. Trong khoảng 50 năm trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, và sau đó lặp lại trong một dạng thức được cải tổ đáng kể vào những năm 1920, phần lớn các quốc gia chủ chốt trên thế giới sử dụng chế độ bản vị vàng, một hệ thống tỷ giá cố định điển hình. Dưới chế độ bản vị vàng, chính phủ các quốc gia tuyên bố một giá trị tương đương vàng cố định cho đồng tiền của họ và cam kết sẽ trao đổi tiền với vàng theo tỷ lệ này. Từ cuối những năm 1940 đến đầu những năm 1970, thế giới tư bản đã được hệ thống theo trật tự tiền tệ Bretton Woods, một hệ thống tỷ giá cố định đã được sửa đổi. Dưới trật tự Bretton Woods, đồng nội tệ được cố định theo đồng đôla và đồng đôla được cố định theo vàng. Tuy nhiên, chính phủ các quốc gia có thể và thực tế đã thay đổi tỷ giá hối đoái trong những trường hợp đặc biệt, vì thế tỉ giá không cố định hoàn toàn như dưới chế độ bản vị vàng cổ điển. Từ năm 1973 đến nay, và trong khoảng thời gian ngắn vào những năm 1930, đã có một trật tự thống trị khác trong đó các quốc gia lớn nhất không ít thì nhiều đã thả nổi hoàn toàn đồng nội tệ và không có một cột neo danh nghĩa nào, trong khi các nước nhỏ hơn lại có xu hướng cố định theo một trong những đồng tiền mạnh hoặc để đồng tiền thả nổi với các mức độ khác nhau dưới sự quản lý của chính phủ.
Chế độ tiền tệ có thể mang tính khu vực hoặc quốc tế. Dưới chế độ tỉ giá hối đoái tự do (thả nổi) quốc tế phổ biến từ những năm 1973, một số hệ thống tỷ giá cố định mang tính khu vực vẫn đã xuất hiện hoặc được đưa ra xem xét. Một số hệ thống đơn giản là cố định đồng tiền của các nước nhỏ vào đồng tiền một nước lớn hơn, ví dụ, khu vực đồng frăng CFA (Cộng đồng tài chính châu Phi) đã neo tỷ giá 12 nước châu Phi với nhau và với đồng frăng của Pháp (hiện nay là đồng Euro). Một số nước khu vực Mỹ Latinh và vùng Ca-ri-bê tương tự đã neo đồng tiền của mình vào đồng đôla Mỹ và một số nước khác cũng đang cân nhắc điều này. Một loại khác của chế độ tỷ giá cố định trong khu vực là liên kết một số đồng tiền khu vực với nhau, thường là một bước đi hướng tới áp dụng một đồng tiền chung. Đó là trường hợp của đồng tiền chung châu Âu, vốn ban đầu dựa trên một thỏa thuận khu vực hạn chế, sau đó phát triển thành một kiểu liên kết với đồng Mác Đức, và cuối cùng trở thành một liên minh tiền tệ với một đồng tiền chung và một ngân hàng chung châu Âu. Các nước khu vực Đông Ca-ri-bê và Nam Phi cũng đã phát triển các liên minh tiền tệ.
Vì vậy, các biến phụ thuộc của chúng ta là, (a) chính sách tỷ giá của một số chính phủ quốc gia cụ thể, đặc biệt là lựa chọn mức và chế độ tiền tệ; và  (b) chế độ tiền tệ quốc tế, đặc biệt là mức độ mà các đồng tiền được cố định với nhau.  Sự thực là hai biến phụ thuộc này có liên quan với nhau. Chính sách tiền tệ quốc gia phụ thuộc vào đặc tính hệ thống tiền tệ quốc tế, và sự phát triển của các mối quan hệ tiền tệ quốc tế bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi quyết định của các quốc gia chính về thương mại và đầu tư. Tương tự như vậy, các mối quan hệ tiền tệ quốc tế cũng tương tác với các chính sách kinh tế khác. Các biện pháp định giá tiền tệ sai lệch thường dẫn tới áp lực bảo hộ nền công nghiệp trong nước và thậm chí là chiến tranh thương mại, tương tự như khi sự phát triển của quan hệ thương mại ảnh hưởng lại quyết định chọn chính sách tỷ giá hối đoái. Các chính sách đối với dòng tiền tài chính và đầu tư quốc tế đều bị ảnh hưởng bởi và tác động đến sự vận động của tỷ giá hối đoái. Hiệu ứng tương tác phức tạp này rất quan trọng, nhưng chúng ta không biết cần phải suy nghĩ về chúng như thế nào cho thống nhất và có hệ thống. Bài viết này tập trung vào khía cạnh kinh tế chính trị của bản thân chính sách tiền tệ quốc tế, nhấn mạnh vào các câu trả lời tiềm năng đối với hai câu hỏi mang tính giải thích được định nghĩa hẹp của chúng tôi.
Các tài liệu cùng nguồn gốc về khía cạnh kinh tế chính trị của các chính sách kinh tế quốc tế quan trọng khác cũng rất hữu ích cho việc phân tích chính sách tiền tệ quốc tế. Các phân tích chính sách thương mại và đầu tư quốc tế bắt đầu bằng một nhận thức cho trước về lợi ích phân phối bị ảnh hưởng, như các lợi ích theo ngành, theo lĩnh vực, và theo từng công ty cụ thể, vốn bắt nguồn từ lý thuyết hoặc các điều tra thực nghiệm. Sau đó các phân tích này tìm hiểu xem các lợi ích này được tập hợp lại và được dàn xếp như thế nào bởi các thể chế chính trị xã hội như công đoàn và các hiệp hội kinh doanh, các đảng phái chính trị, hệ thống bầu cử, cơ quan lập pháp và bộ máy hành chính. Cuối cùng, các phân tích này sẽ tìm hiểu mối tương quan giữa các chính sách bắt nguồn từ quốc gia và các chính sách bắt nguồn từ các nước khác, đặc biệt trong các tình huống tương tác chiến lược giữa các quốc gia có thể đóng vai trò quan trọng, như khi chính sách của một chính phủ này phụ thuộc vào phản ứng của các chính phủ khác. Cấu trúc đang hình thành về việc phân tích và giải thích khía cạnh chính trị của tiền tệ và tài chính quốc tế đều tuân theo mẫu hình này. Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ tóm tắt lại cấp độ phân tích trong nước, đặc biệt là cách thức mà các nhóm lợi ích và các thể chế tương tác với nhau trong quá trình thiết lập chính sách quốc gia.
Khía cạnh kinh tế chính trị trong nước của chính sách tỷ giá hối đoái
Các nhà hoạch định chính sách trong nước quyết định về chế độ tỷ giá hối đoái và mức kì vọng của tiền tệ. Quyết định về chế độ tiền tệ là liệu có nên để tiền tệ tự do thả nổi hoặc cố định nó theo một đồng tiền khác hay không. Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn hoặc cố định bất biến chỉ là hai trong số nhiều lựa chọn có thể mà thôi. Có ít nhất là chín loại chế độ tỷ giá đang tồn tại, từ thả nổi hoàn toàn tới liên minh tiền tệ, thái cực cao nhất của hệ thống tỷ giá cố định (Frankel 1999). Với tất cả những chế độ tồn tại giữa hai thái cực này, các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt với các lựa chọn liên quan đến mức giá của tỷ giá hối đoái. Quyết định mức giá bao gồm những chính sách ảnh hưởng đến giá trị của đồng nội tệ được định giá so với đồng ngoại tệ. Tỷ giá hối đoái này bản thân nó có thể là mục tiêu hướng đến của chính sách, với một tỷ giá cụ thể được xác định sẵn hoặc được tính theo một công thức rõ ràng nào đó. Lựa chọn khác là chính sách tỷ giá có thể được quản lý chủ động kết hợp với các thành phần khác trong chính sách tiền tệ. Một số chính phủ công bố một biên độ mà theo đó đồng tiền được phép vận động, hoặc họ hành động mà không tuyên bố chính thức nhằm giới hạn dao động của tỷ giá hối đoái trong phạm vi biên độ đó. Dù cơ chế là như thế nào, quyết định mức giá cũng nằm trong phạm vi giữa một đồng tiền được định giá cao hay thấp hơn. Mặc dù quyết định về chế độ tỷ giá và mức giá có liên quan đến nhau, chúng tôi sẽ phân tích riêng biệt để dễ tìm hiểu rõ ràng hơn. Chúng tôi cố gắng phác họa các yếu tố kinh tế chính trị trong nước có ảnh hưởng đến quyết định của chính phủ trong cả hai khía cạnh của vấn đề này.
Giống như các lĩnh vực khác của chính sách kinh tế, quyết định về tỷ giá hối đoái cũng bao gồm sự đánh đổi giữa các mục tiêu mong muốn. Một lượng văn liệu kinh tế hiện hữu đã nghiên cứu chi phí và lợi ích của các chính sách tiền tệ khác nhau từ góc độ của một nhà hoạch định xã hội “nhân từ”, vốn có thể coi là một điểm khởi đầu hữu ích để đánh giá mức độ hấp dẫn của chính sách trên phương diện phúc lợi quốc gia. Tuy nhiên, các nghiên cứu về kinh tế chính trị trong thời gian gần đây có xét đến vai trò của áp lực đến từ các nhóm lợi ích và các phe phái, các thể chế chính trị và các động cơ liên quan đến bầu cử của các chính trị gia. Một chủ đề quan trọng là các chính sách tiền tệ có tác động phân phối lại lợi ích trong nước và tạo thành môi trường chính trị xã hội mà trong đó các nhà hoạch định chính sách có thể đánh giá chi phí và lợi ích. Một chủ đề thứ hai là các thể chế bầu cử, lập pháp và hành chính trong nước ảnh hưởng đến động cơ của các chính trị gia khi họ phải đối mặt với những sự đánh đổi trong chính sách tiền tệ. Chúng tôi phát triển các chủ đề đó ở phần dưới đây, nhấn mạnh rằng các đánh đổi về kinh tế được định hình bởi các yếu tố chính trị và thể chế.
Cố định hay thả nổi
Cuộc tranh luận của chúng ta về lựa chọn chế độ [tỉ giá] tập trung vào hai thái cực: thả nổi hoàn toàn và cố định hoàn toàn – vì việc phân tích các trường hợp nằm giữa đều xuất phát từ việc phân tích hai thái cực này. Sự đánh đổi mà chúng tôi miêu tả cũng áp dụng đối với các lựa chọn nằm ở giữa – như khu vực mục tiêu (target zone), neo tỉ giá có điều chỉnh và neo tỉ giá với biên độ điều chỉnh (crawling peg and bands), v.v…,  mặc dù các đánh đổi này không nổi bật rõ như ở hai thái cực (Frankel 1999). Cách xử lý về kinh tế đối với lựa chọn chế độ tỉ giá đến từ hai góc nhìn chính (a) các cách tiếp cận vĩ mô của nền kinh tế mở, bao gồm việc xem xét các tiêu chí khu vực tiền tệ tối ưu; và (b) xử lý các kỳ vọng hợp lý đối với vấn đề niềm tin vào chính sách tiền tệ.
Từ góc độ nền kinh tế mở, lợi ích chủ yếu của một chế độ tỉ giá cố định là giảm thiểu rủi ro tỷ giá và chi phí giao dịch vốn có thể ngăn cản thương mại và đầu tư quốc tế (Mundell 1961, Mc Kinnon 1962, Kenen 1969). Tỷ giá không ổn định sẽ tạo sự không chắc chắn trong giao dịch quốc tế, gây thêm chi phí dự trù rủi ro được tính vào giá của hàng hóa và tài sản được buôn bán qua biên giới quốc gia. Mặc dù có thể phòng ngừa rủi ro này trên các thị trường phái sinh, hành động phòng ngừa này cũng luôn bao gồm chi phí, và chi phí này tăng lên tỉ lệ thuận với khoảng thời gian của giao dịch. Và các kinh nghiệm gần đây cho thấy có những sự bất ổn trên thị trường tiền tệ không thể giải thích được, vì thế phòng ngừa rủi ro càng trở nên khó khăn với tiền tệ của các quốc gia nhỏ. Bằng cách ổn định đồng nội tệ, chính phủ có thể giảm thiểu hoặc thậm chí loại bỏ rủi ro tỷ giá, khuyến khích thương mại và đầu tư – một mục tiêu đáng mong ước. Một bước tiếp theo tiến tới liên minh tiền tệ sẽ loại bỏ các chi phí giao dịch còn lại, tạo động lực thúc đẩy mạnh mẽ hơn việc hội nhập kinh tế.
Tuy nhiên việc cố định tỉ giá cũng có chi phí của nó. Để có thể đạt được lợi ích của việc hội nhập kinh tế bằng việc cố định tỷ giá hối đoái, các chính phủ phải hi sinh khả năng vận hành một chính sách tiền tệ độc lập. Nguyên tắc “bộ ba bất khả thi” (impossible trinity) giải thích rằng ở những nơi mà nguồn vốn có thể linh động di chuyển trên phạm vi quốc tế, các quốc gia không thể đạt được sự độc lập về chính sách tiền tệ và chế độ tỷ giá cố định cùng một lúc (Mundell 1962, 1963). Nguyên tắc này chỉ ra rằng một quốc gia phải từ bỏ một trong ba mục tiêu: ổn định tỷ giá, độc lập tiền tệ, và hội nhập thị trường tài chính. Khi nguồn vốn có thể tự do dịch chuyển trên phạm vi quốc tế, lãi suất trong nước không thể khác quá xa so với lãi suất trên thế giới, vì dòng vốn bị hấp dẫn bởi các cơ hội kinh doanh chênh lệch giá sẽ nhanh chóng làm loại bỏ sự khác biệt này. Có nhiều chứng cớ mạnh mẽ ở cả các quốc gia đã phát triển (Marston 1995) và các quốc gia đang phát triển (Edwards 1999) cho thấy hội nhập tài chính đã tiến triển rất nhiều khiến cho sự linh động vốn có thể ít nhiều được coi như điều đương nhiên, khiến cho chỉ còn hai lựa chọn là hi sinh ổn định tỷ giá hoặc từ bỏ độc lập về tiền tệ.[1] Một chế độ tỷ giá cố định cùng với dòng vốn linh hoạt di chuyển quốc tế làm cho chính sách tiền tệ trở nên không hiệu quả, cũng có nghĩa là không còn có thể sử dụng chính sách tiền tệ cho mục đích kiểm soát cầu hoặc điều chỉnh cán cân thanh toán. Điều đó đặt ra sự đánh đổi giữa hai giá trị xung đột lẫn nhau: ổn định và linh hoạt. Đạt được ổn định về tiền tệ là một lợi ích đáng kể cho các quốc gia đã gánh chịu lạm phát cao và biến đổi liên tục cũng như có các sự xáo trộn về tiền tệ trong nước. Nhưng vì đạt được sự ổn định này đồng nghĩa với việc phải từ bỏ sự linh hoạt về tiền tệ, nên đây có thể là một chi phí lớn cho các quốc gia đối mặt với cá cú sốc nặng nề từ bên ngoài mà khi đó [sử dụng] chính sách tiền tệ có thể là một cách ứng phó phù hợp.
Trong khi quan điểm truyền thống về tỷ giá ổn định phụ thuộc vào lợi ích của sự hội nhập, các phân tích gần đây lại có xu hướng nhấn mạnh vào vấn đề niềm tin và vai trò của chế độ tỷ giá cố định trong việc làm bình ổn các kì vọng lạm phát. Xuất phát từ văn liệu về kì vọng hợp lý, công trình này dựa vào các vấn đề mâu thuẫn về thời gian được miêu tả bởi Kydland và Presscott (1977), Barro và Gordon (1983). Vấn đề phát sinh khi chính sách tiền tệ được thiết lập trong điều kiện bảo mật và lương cùng với giá cả không hoàn toàn linh động. Trong các điều kiện như vậy, một nhà hoạch định chính sách có thể tìm cách đánh lừa các chủ thể tư nhân bằng việc tạo ra lạm phát bất ngờ, hi vọng tạo ra một sự tăng trưởng tạm thời về sản lượng. Tuy nhiên các chủ thể tư nhân đã lường trước xu hướng này và đưa nó vào xem xét khi đặt ra kì vọng về lạm phát. Các kì vọng này có thể tạo ra một xu hướng tính trước lạm phát vào việc mặc cả lương và thiết lập giá. Do đó, khi các nhà hoạch định chính sách gây ra lạm phát bất ngờ, kết quả là lạm phát cao hơn chứ không phải sản lượng cao hơn. Mấu chốt trong giải quyết vấn đề mâu thuẫn thời gian này là vấn đề niềm tin. Nếu khu vực tư nhân tin rằng chính sách sắp sửa được công bố là đáng tin cậy, lạm phát kì vọng có thể được kiểm soát mà không ảnh hưởng tới sản lượng.
Cố định tỷ giá hối đoái tạo nên một nguyên tắc tự động cho việc tiến hành các chính sách tiền tệ theo hướng phòng ngừa vấn đề mâu thuẫn thời gian và tăng mức độ đáng tin cậy trong cam kết của chính phủ nhằm giữ lạm phát thấp (Giavazzi và Pagano 1988, Canavan và Tommasi 1997). Trong chế độ tỷ giá cố định, chính sách tiền tệ phụ thuộc vào các yêu cầu để duy trì tỷ giá cố định, do đó loại bỏ quyền tự do quyết định của chính phủ. Các vấn đề trong nước như ổn định giá cả được đề cao hơn mục tiêu đối ngoại như cân bằng cán cân thanh toán và sức cạnh tranh. Trong lịch sử, cam kết của quốc gia đối với chế độ bản vị vàng là mục tiêu bên ngoài quan trọng nhất. Gần đây, nhiều quốc gia đã neo đồng nội tệ vào đồng tiền của một quốc gia lớn có lạm phát thấp (Mishkin 1999).
Mặc dù cố định tỷ giá không phải là cách duy nhất để cam kết chính sách lạm phát thấp – sự độc lập của ngân hàng trung ương với các mục tiêu về giá hoặc lạm phát có thể là phương án thay thế-  tính minh bạch khiến nó trở thành một biện pháp phổ biến trong trường hợp các giải pháp thay thế không thể được công chúng kiểm soát dễ dàng (Herrendorf 1999, Canavan và Tommasi 1997). Khi chính phủ cam kết neo tỉ giá, điều đó trở thành một lời hứa có thể xác thực dễ dàng. Hoặc chính phủ theo đuổi các chính sách kinh tế vĩ mô thống nhất với chế độ tỷ giá cố định, hoặc không, mà trong trường hợp đó chế độ tỷ giá cố định sẽ bị sụp đổ. Trên thực tế không có một lý do kỹ thuật nào khiến cho không thể duy trì được một chế độ tỷ giá cố định, ngay cả trong trường hợp bị tấn công đầu cơ quy mô lớn (Obstfeld và Rogoff 1995). Vì thế, phá giá đồng tiền là một chỉ dấu công khai cho thấy chính phủ không thể thực hiện lời hứa. Tính minh bạch của chế độ tỷ giá cố định làm tăng mức độ tin cậy vào cam kết của chính phủ nhằm giữ lạm phát thấp nhưng cũng có giá của nó, thể hiện ở sự mất đi tính linh động trong chính sách tiền tệ. Sự đánh đổi ở đây là giữa lòng tin và tính linh động.
Vậy liệu các quốc gia chọn chế độ tỷ giá cố định có thực sự chứng kiến sự tăng trưởng trong thương mại và niềm tin hay không? Các nghiên cứu chuỗi thời gian của mối quan hệ giữa sự thay đổi trong tỷ giá và thương mại (hoặc đầu tư) thường nhận thấy các hiệu ứng nhỏ và yếu (Frankel 1995). Tuy nhiên, các hiệu ứng mạnh mẽ hơn lại được tìm thấy trong các phân tích toàn bộ dân số nghiên cứu tại một thời điểm (cross-sectional evaluations). Các quốc gia dùng đồng tiền chung (hoặc có chế độ tỷ giá ổn định lâu dài) buôn bán nhiều gấp ba lần các quốc gia tương đương có đồng tiền riêng biệt (Rose 2000). Về vấn đề niềm tin, chế độ tỷ giá cố định được coi là biện pháp ưa dùng ở các quốc gia đang tìm cách giải quyết nhanh chóng cho vấn đề lạm phát kéo dài (Vegh 1992). Các bằng chứng mang tính hệ thống từ 136 quốc gia trong thời kì hơn 30 năm đã cho thấy rằng chế độ tỷ giá cố định đi kèm với lạm phát thấp nhưng sản lượng biến động nhiều hơn so với dưới chế độ tỷ giá linh hoạt (Ghosh et al 1997).
Lý thuyết và thực tiễn đã cho thầy rằng cố định tỷ giá vào đồng tiền của một quốc gia có tỷ lệ lạm phát thấp sẽ (a) thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế và (b) tạo ra trật tự cho chính sách tiền tệ vì cung cấp một cột neo danh nghĩa có thể quan sát được để định giá đồng nội tệ. Mặt khác, lợi thế của chế độ tỷ giá thả nổi lại cho phép chính phủ độc lập về chính sách tiền tệ. Dưới chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn, cung và cầu nội tệ so với đồng ngoại tệ là cân bằng trên thị trường. Ngân hàng trung ương không có nghĩa vụ hay cần thiết phải can thiệp. Vì thế, tổng lượng tiền nội tệ không bị ảnh hưởng bởi dòng tiền từ bên ngoài, vì thế một chính sách tiền tệ có thể được thực hiện mà không phải để ý nhiều đến chính sách tiền tệ các nước khác. Sự độc lập này là rất quan trọng vì nó cho phép có được sự linh hoạt để ứng phó với các cú sốc trong nước và nước ngoài, bao gồm các thay đổi trong điều kiện trao đổi thương mại bên ngoài và lãi suất. Tổng quát hơn, dưới chế độ thả nổi hoàn toàn, chính sách tiền tệ có thể tự thiết lập cho phù hợp với hoàn cảnh trong nước (ví dụ như mục tiêu ổn định) và tỷ giá hối đoái trở thành phụ thuộc, đi theo bất cứ con đường nào phù hợp với chính sách ổn định đó.
Một lợi thế liên quan khác của chính sách thả nổi là nó cho phép tỷ giá hối đoái có thể được sử dụng như một công cụ chính sách. Sự linh động này là rất đáng giá khi đồng tiền tăng giá thực, gây ra bởi nguyên nhân lạm phát do quán tính (inertial inflation) hoặc dòng vốn chảy vào trong thời gian ngắn, đe dọa ảnh hưởng đến sức cạnh tranh trên trường quốc tế và gây ra khủng hoảng cán cân thanh toán – một biểu hiện thường thấy ở các quốc gia đang phát triển hoặc có nền kinh tế đang chuyển đổi vốn sử dụng chế độ tỷ giá cố định như một chiếc neo danh nghĩa vì mục đích gây dựng niềm tin (Edwards và Savastano 1999).  Khi xuất hiện sự chênh lệch về mức lạm phát giữa quốc gia cố định tỷ giá và quốc gia neo, nó sẽ gây ra một sự tăng giá thật, mà nếu không có sự tăng lên về năng suất bù lại sẽ gây ra các vấn đề về cán cân thanh toán. Một chế độ tỷ giá linh hoạt sẽ cho phép các nhà hoạch định chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái danh nghĩa để đảm bảo tính cạnh tranh của khu vực sản xuất hàng hóa buôn bán được. Tuy nhiên, chế độ tỷ giá càng linh hoạt thì mức độ tin cậy càng hạn chế. Sự đánh đổi giữa niềm tin và sức cạnh tranh là đáng lưu tâm ở các quốc gia nơi mà lạm phát là vấn đề kéo dài (Frieden et al 2001).
Chế độ nào là tốt nhất cho một quốc gia cụ thể một phần dựa vào đặc điểm nền kinh tế của quốc gia đó. Các tài liệu về khu vực tiền tệ tối ưu chỉ ra một số yếu tố chủ yếu, trong đó tiêu biểu là mức độ mở cửa, quy mô nền kinh tế, độ nhạy cảm với các cú sốc, và độ linh hoạt của lao động khi dịch chuyển giữa các khu vực. Nói chung, khi một khu vực có đặc trưng là sự di chuyển dễ dàng của lao động, hoặc khi các quốc gia hội nhập mật thiết với các nước láng giềng đến mức cùng chịu các biến động chung thì lợi ích từ việc duy trì tỷ giá cố định sẽ lớn hơn chi phí do từ bỏ sự độc lập về tiền tệ (Frankel 1995). Các quốc gia dễ chịu ảnh hưởng từ những biến động bên ngoài (như sự thay đổi trong điều kiện mậu dịch) thì sẽ thích hợp hơn với chế độ tỷ giá thả nổi, trong khi các quốc gia lo ngại về cú sốc với đồng nội tệ nên duy trì tỷ giá cố định. Hơn nữa, khi các cú sốc ảnh hưởng tới một quốc gia và các nước lân cận có tính tương quan cao thì không cần thiết duy trì chính sách tiền tệ độc lập vì một chính sách duy nhất sẽ là phù hợp cho toàn bộ khu vực. Ngoài ra, có ít sự đồng thuận nhất trí về tiêu chí phúc lợi trong các sự lựa chọn chế độ tỷ giá (Frankel 1999). Khi mà các điều kiện kinh tế đối với việc chọn chế độ tối ưu là rất đa dạng, thật không có gì đáng ngạc nhiên khi các phát hiện về mặt thực nghiệm thường rất yếu ớt hoặc mâu thuẫn (Tavlas 1994, Edison và Melvin 1990).
Một nhược điểm cơ bản trong cách tiếp cận vấn đề niềm tin và nền kinh tế mở là giả định ngầm rằng các nhà hoạch định chính sách lựa chọn chế độ tiền tệ để tối đa hóa tổng phúc lợi xã hội. Có ít lí do để tin rằng chính sách tiền tệ ít mang yếu tố chính trị hơn các chính sách kinh tế. Trong phần tiếp theo chúng tôi sẽ rời khỏi giả định về nhà hoạch định xã hội “tốt bụng” và khảo sát các công trình nghiên cứu các động cơ chính trị và các ràng buộc có tác động đến quyết định chế độ tiền tệ.
Các nhóm lợi ích và lựa chọn chế độ tiền tệ
Một điều tối ưu cho cả một đất nước không có nghĩa là tối ưu cho một vài nhóm cụ thể trong phạm vi nước đó. Ví dụ như chính sách tự do thương mại, mặc dù được cho là tăng phúc lợi cho toàn bộ đất nước, nhưng lại có người được lợi và cả người chịu thiệt vì chính sách đó. Hiệu ứng phân phối này tạo nên nền tảng cho “lý thuyết thuế quan nội sinh”, giải thích cho việc trốn tránh tự do thương mại bằng cách vạch ra các nhóm ủng hộ và phản đối sự bảo hộ và các điều kiện mà theo đó họ có ảnh hưởng nhiều nhất (Milner 1999). Quyết định lựa chọn chế độ tiền tệ, cũng như lựa chọn giữa tự do thương mại và bảo hộ, đều có các hiệu ứng về phân phối ở trong nước.
Chúng tôi bắt đầu bằng việc xem xét các ưu điểm và nhược điểm của nhóm gây áp lực, hay cách tiếp cận “phía cầu” đối với lựa chọn chế độ tiền tệ, mà theo đó một trong những nguyên nhân giải thích cho nó là hiệu ứng phân phối gây ra bởi lựa chọn chế độ tỉ giá hối đoái. Sau đó chúng tôi sẽ trình bày các phân tích về “phía cung”, như tính chất của các thể chế chính trị và tiền tệ trong nước cùng với động cơ của các chính trị gia tư lợi làm việc trong các thể chế đó. Mặc dù các khía cạnh của mối liên hệ giữa các nhóm lợi ích, chính trị và chính sách vẫn chưa hoàn thiện, tài liệu này là những nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu khía cạnh kinh tế chính trị trong việc lựa chọn chế độ tiền tệ.
Quyết định lựa chọn chế độ tiền tệ bao gồm những sự đánh đổi giữa các mục tiêu như đã được nói đến ở trên. Các tranh luận nhấn mạnh đến nhu cầu cần có một chế độ tiền tệ cho rằng các nhóm xã hội có sự ưu tiên khác nhau trong việc đánh đổi giữa tính ổn định và sự linh động. Hãy nhớ lại rằng một trong những lợi thế quan trọng của tỷ giá ổn định là thương mại và đầu tư quốc tế có thể được tiến hành mà trong đó rủi ro mất mát về vốn do dao động tỷ giá sẽ được tối thiểu hóa. Sự đánh đổi ở đây là chế độ tỷ giá cố định yêu cầu hạ thấp tầm quan trọng của chính sách tiền tệ trong nước so với các quan tâm về đồng tiền và cán cân thanh toán. Có một khuôn khổ cơ bản nhận diện cách các nhóm trong xã hội nhìn nhận về sự đánh đổi giữa ổn định và linh động (Frieden 1991, Hekefer 1997).  Một cách đơn giản nhất, các nhóm này được sắp xếp theo thang đo mức độ tham gia vào hoạt động kinh tế trong nước hay quốc tế. Những nhóm tham gia nhiều vào thương mại và đầu tư quốc tế (như là nhà sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư tài chính, các nhà buôn quốc tế) sẽ thích sự ổn định trong tỷ giá hối đoái, vì sự thay đổi tỷ giá sẽ gây ra mối lo ngại khiến kinh doanh rủi ro và tốn kém hơn. Tương tự, họ không quan tâm nhiều đến sự đánh mất tự chủ về chính sách tiền tệ vì họ tiến hành hoạt động kinh doanh ở nhiều nước, cho nên khi điều kiện kinh tế vĩ mô trong nước không thuận lợi họ có thể chuyển hướng kinh doanh hoặc tài sản ra nước ngoài.
Ngược lại, các nhóm mà hoạt động kinh tế chủ yếu diễn ra trong phạm vi quốc gia thì có lợi hơn khi áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi. Khu vực sản xuất không giao dịch quốc tế được (như dịch vụ, xây dựng, giao thông vận tải) và các nhà sản xuất mặt hàng cạnh tranh với nhập khẩu đều thuộc nhóm này. Các nhà sản xuất mặt hàng không buôn bán quốc tế được không phải quan tâm quá nhiều đến tỷ giá hối đoái vì hoạt động kinh tế của họ chủ yếu hạn chế ở phạm vi trong nước. Vì thế, họ không phải chịu rủi ro và chi phí do thay đổi tỷ giá. Tuy nhiên, khu vực sản xuất mặt hàng không buôn bán quốc tế được lại rất nhạy cảm với các điều kiện kinh tế vĩ mô trong nước, vì thế họ ưu tiên sự tự chủ quốc gia tạo ra nhờ chế độ tỷ giá thả nổi. Logic này cũng đúng với nhà sản xuất các mặt hàng cạnh tranh với hàng nhập khẩu, với điều kiện là thay đổi trong tỷ giá có thể giảm sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu bằng cách làm cho việc nhập khẩu trở nên rủi ro và tốn kém hơn.
Ưu điểm của cách tiếp cận dựa trên nhóm áp lực là nó đưa ra một dự đoán rõ ràng về ưu tiên của các nhóm xã hội khác nhau đối với chế độ tỉ giá theo hướng giống như lý thuyết thuế quan nội sinh (endogenous tariff theory). Nó cũng tạo lập nền tảng cho việc cải thiện dự đoán. Ví dụ, mức độ nhạy cảm của nền công nghiệp nhập khẩu với thay đổi tỉ giá phụ thuộc vào khả năng của nó trong việc chuyển chi phí sang cho người tiêu dùng dưới hình thức tăng giá. Thông thường, những ngành mà sự khác biệt sản phẩm và danh tiếng là điều quan trọng thì sẽ ít chuyển chi phí cho người tiêu dùng hơn so với các nhà sản xuất các mặt hàng tiêu chuẩn hóa nơi mà cạnh tranh chủ yếu là bằng giá cả (Goldberg và Knetter 1997). Điều đó hàm ý rằng nhà sản xuất các mặt hàng chuyên biệt hóa được buôn bán quốc tế sẽ quan tâm đến việc giảm thiểu biến động tỷ giá hơn là nhà sản xuất các mặt hàng chế tạo tiêu chuẩn hóa hoặc hàng hóa thông thường, vì thế họ sẽ thích chế độ tỷ giá cố định hơn.
Tuy nhiên, những tranh luận về các nhóm gây áp lực là rất khó để đánh giá. Một vấn đề là, không giống như chính sách thương mại, các quyết định về chế độ tỷ giá hối đoái ít khi là chủ đề được bỏ phiếu ở các cơ quan lập pháp (quốc hội) và cũng ít khi nổi bật trong các chiến dịch và kết quả bầu cử quốc gia. Nghiên cứu có tính hệ thống nhất về áp lực nhóm và sự lựa chọn chế độ tiền tệ cần đến các dữ liệu đáng tin cậy từ cuộc tranh cãi xoay quanh chế độ bản vị vàng hơn một thế kỉ trước. Vào những năm 1890, quốc hội Mỹ bỏ phiếu liên tục để chọn giữa chế độ bản vị vàng và bản vị bạc (Frieden 1997). Tương tự, cuộc bầu cử tổng thống năm 1896 là một cuộc bầu cử hiếm hoi mà trong đó vấn đề chính là chế độ tỷ giá hối đoái. William Jennings Byran ủng hộ chính sách tiền tệ hóa bạc và thả nổi đôla so với các tiền tệ bản vị vàng (Eichengreen 1995). Hội nhập tiền tệ châu Âu trong thế kỉ 19 cũng cung cấp thêm một vài trường hợp khác (Hefeker 1995). Các phân tích này, khi kiểm soát các yếu tố khác, nhận thấy rằng ảnh hưởng từ áp lực của các nhóm có liên quan nhiều đến kết quả bỏ phiếu.
Số lượng các trường hợp phù hợp cho nghiên cứu thực nghiệm có thể tăng lên khi vấn đề tỷ giá hối đoái tăng tầm quan trọng trong chính trị nội địa trong những năm gần đây. Sự nổi bật gần đây có thể do sự tăng lên của di chuyển dòng vốn quốc tế, bởi điều này làm nổi bật vấn đề “bộ ba bất khả thi” (Frieden 1996). Ở Châu Âu, thời kì hậu Hiệp định Maastricht được đặc trưng bởi sự tăng lên của tình trạng bất ổn và phân cực trong liên minh tiền tệ. Ở các nước đang phát triển, lựa chọn chế độ tiền tệ trở thành vấn đề nóng hổi trong các tranh luận về chính sách và bầu cử, và các nước đang thử nghiệm các chế độ tiền tệ khác nhau (Edwards và Savastano 1999). Sự thay đổi đáng kể trong chế độ tiền tệ ở Mỹ Latinh có thể được khai thác để nghiên cứu ảnh hưởng từ các áp lực của nhóm lợi ích. Trong trường hợp này, sự đánh đổi giữa niềm tin và sự linh động là đặc biệt quan trọng vì các vấn đề kiểm soát lạm phát ở khu vực này. Phù hợp với quan điểm nhóm lợi ích, các nền kinh tế với khu vực sản xuất lớn sẽ dễ có khuynh hướng áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi hoặc chế độ tỉ giá cố định có điều chỉnh theo chênh lệch lạm phát trong quá khứ (backward-looking crawling pegs),[2] cả hai đều có xu hướng tạo ra tỷ giá hối đoái có sức cạnh tranh cao hơn (Frieden et al 2001). Ảnh hưởng của khu vực sản xuất với chế độ tỷ giá hối đoái cũng sẽ trở nên quan trọng hơn khi thương mại tương đối mở vì thương mại tự do sẽ khiến các nhà sản xuất gặp nhiều cạnh tranh từ các đối thủ nước ngoài hơn. Những nghiên cứu này củng cố thêm lập luận rằng mức độ mà các nhà hoạch định chính sách chấp nhận hi sinh niềm tin nhường chỗ cho sức cạnh tranh là kết quả ảnh hưởng chính trị của các nhà sản xuất các mặt hàng có thể buôn bán quốc tế được.
Cách tiếp cận phân tích toàn bộ dân số nghiên cứu tại một thời điểm (cross-sectional approach) có vẻ hứa hẹn, ngay cả với các quốc gia đã phát triển, nơi mà sự đánh đổi giữa sự ổn định và linh động nhiều khả năng xảy ra (Henning 1994, Frieden 2000). Tuy nhiên, đo lường mong muốn của các nhóm và ảnh hưởng của chính trị là không dễ dàng, và các hạn chế về dữ liệu khiến các nhà phân tích phải sử dụng các ước đoán gián tiếp (ví dụ dùng tỉ lệ của một ngành trong tổng sản lượng nội địa như một phương pháp đo lường mức độ ảnh hưởng của ngành đó). Một chiến lược thay thế khác là xem xét lập luận về phân phối (lợi ích của chế độ tỉ giá) ở cấp độ cá nhân trong phân tích và tận dụng dữ liệu ý kiến công chúng về ưu tiên chế độ tỉ giá và hành vi bầu cử (Scheve 1999). Scheve phát hiện thấy rằng sở hữu tài sản và lợi thế về kĩ năng cao đều có mối quan hệ tỉ lệ thuận với mức độ ủng hộ của cá nhân đối với việc thống nhất đồng tiền chung châu Âu và với hành vi bầu cử trong các cuộc bầu cử quốc gia. Điều này xác định mối liên hệ giữa mong muốn cá nhân về sự hội nhập tiền tệ với bầu cử, vì thế cung cấp một kiểm chứng trực tiếp đối với các tác động phân phối (lợi ích) mà cách tiếp cận kinh tế mở đề ra.
Bất chấp những bước tiến như vậy, hướng tiếp cận theo lợi ích nhóm cũng khó có khả năng tạo ra các nghiên cứu sâu và rộng như các công trình tương tự về chính sách thương mại. Hành động của các nhóm áp lực đối với tỷ giá hối đoái giới hạn hơn so với trong các vấn đề thương mại do bản chất kinh tế vĩ mô của tỷ giá hối đoái và các hạn chế đối với hành động tập thể liên quan đến vấn đề này. Tỷ giá hối đoái có hiệu ứng phân phối lợi ích quy mô rộng khắp, vì thế làm giảm thiểu động cơ vận động hành lang. Ví dụ, tỷ giá hối đoái ổn định đem lại lợi ích cho tất cả các ngành xuất khẩu; ngược lại, bảo hộ thương mại có thể chỉ nhằm để tạo ra lợi nhuận vượt trên mức bình thường cho một vài ngành cụ thể (Gowa 1988). Chính sách tỷ giá ít mang tính cục bộ hơn các chính sách thương mại, hàm ý có nhiều chủ thể không làm gì mà vẫn được hưởng lợi hơn (free riding) ( Olson 1971). Nhưng cũng như các nghiên cứu về thương mại đã bao hàm cả vấn đề ngồi không hưởng lợi (free rider), các phân tích về chính sách tiền tệ cũng có thể làm tương tự. Ví dụ, các ngành công nghiệp tập trung cao sẽ là những nhà vận động hành lang hiệu quả hơn cho chính sách tỷ giá hối đoái, cũng như chính sách thương mại (Trefler 1993). Mặc dù tỷ giá hối đoái có thể không cho thấy rõ ràng tác động của vận động hành lang như trong chính sách thương mại, vận động hành lang vẫn có thể xảy ra, thậm chí có thể đoán trước được đối với nhiều ngành và nhiều nước. Việc xem xét kỹ hơn các cân nhắc hành động tập thể sẽ giúp chúng ta phát triển một mối liên hệ giữa ưu tiên của các nhóm, hành động vận động hành lang với quyết định về chế độ tiền tệ của chính phủ.
Hướng tiếp cận dựa trên yếu tố đảng phái đối với quyết định chế độ tiền tệ
Các thể chế chính trị và quyết định chọn chế độ tiền tệ 
Tăng giá hay giảm giá?
Các nhóm lợi ích và mức tỷ giá hối đoái
Các thể chế chính trị và mức tỷ giá hối đoái
Khía cạnh kinh tế chính trị quốc tế của chính sách tỷ giá hối đoái
Phối hợp trong quan hệ tiền tệ quốc tế
Hợp tác trong quan hệ tiền tệ quốc tế
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Xem toàn bộ nội dung văn bản tại đây: KTCT cua quan he tien te quoc te.pdf

[1] Các chế độ trung gian sẽ cho phép các quốc gia theo đuổi cùng lúc cả hai mục tiêu ở một mức độ nào đó (Edwards và Savastano 1999).
[2] Trong chế độ này, tỷ giá hối đoái danh nghĩa được điều chỉnh cơ học dựa trên khác biệt trong tỷ lệ lạm phát quá khứ.

http://nghiencuuquocte.net/2013/08/01/ktct-cua-qh-tien-te-quoc-te/