Showing posts with label Tiền tệ. Show all posts
Showing posts with label Tiền tệ. Show all posts

Wednesday, August 14, 2013

Truy tìm Tên & Tài sản của các lãnh đạo...

Truy tìm Tên & Tài sản của các lãnh đạo...
Việc “thua lỗ“ từng tiền tỉ đô-la của những Tập đoàn Kinh tế nhà nước là chủ ý ăn cướp của chung thành của riêng. Nhà nước chỉ xử và kết tội như cách chức, thuyên chuyển.
Đối với dân, điều quan trọng không phải là những tên ăn cướp đó mất chức hay bị thuyên chuyển, mà chính là phải tìm ra những tiền ăn cướp đó nằm ở đâu để hoàn trả lại cho dân vì đó là tài sản của quốc gia và do tiền đóng thuế của dân.
Những tên lãnh đạo ăn cướp đó tìm mọi cách để chuyển tiền ăn cướp ra nước ngoài cất giấu. Làm thế nào tìm ra xem chúng cất giấu ở đâu để có thể thâu hồi lại cho dân.
Việc truy tìm này không phải là dễ dàng vì chính các Ngân Hàng giữ BÍ MẬT NGÂN HÀNG không tiết lộ ra.
TUẦN VỪA RỒI, MỘT DỊP MAY MẮN XẨY RA, đó là cuộc họp G8 tại Ái Nhĩ Lan đặt chính yếu vấn đề phế bỏ BÍ MẬT NGÂN HÀNG. Các Nguyên thủ của G8 đồng ký một Quyết Định đòi hỏi THÔNG TIN TỰ ĐỘNG NGÂN HÀNG (Informations automatiques bancaires) đối với những người nước ngoài chuyển tiền cất giữ tại một Ngân Hàng nước khác.
Nhật báo TRIBUNE DE GENEVE ngày 19.06.2013, trang 3, đã tóm tắt Quyết Định này mà chính Hoa kỳ đang đòi hỏi Thụy sĩ phải thực hiện:
“La loi FACTA, pour “Foreign Account Tax Compliance Act“, implique que les établissements financiers (banques, fonds de placement ou simples fiduciaires) déclarent au fisc américain les avoirs de leurs clients américains, quel que soit leur pays de résidence. En résumé, la loi américaine s’étendra partout dans le monde“ (Luật FACTA (Foreign Account Tax Compliance Act) hàm ngụ rằng những những cơ sở tài chánh (ngân hàng, quỹ đầu tư hay tổ chức lãnh chuyển di sản đơn giản) phải khai trình cho sở thuế Mỹ những tài sản của khách hàng Mỹ của mình cho dù những khách hàng ấy cư ngụ ở một nước khác. Tóm lại, Luật Hoa kỳ sẽ lan rộng ra mọi nơi trên khắp Thế giới).

Với Quyết Định như vậy của G8, người (...) ta có quyền đòi hỏi chính những Ngân Hàng thuộc G8 phải thực hiện THÔNG TIN TỰ ĐỘNG NGÂN HÀNG (Informations automatiques bancaires) để phải khai ra TÊN và TÀI SẢN của những lãnh đạo tham nhũng.

Tại Thụy sĩ, chúng tôi đã bắt đầu tham khảo với một Luật sư Thụy sĩ về tiến trình phải đấu tranh trong vấn đề này.


THÔNG TIN TỰ ĐỘNG TỪ NGÂN HÀNG: ĐẶT NGƯỢC LẠI VẤN ĐỀ CHO MỸ & G8

Cuộc Họp G8 mà chúng tôi trình bầy về quyết định chính yếu là THÔNG TIN TỰ ĐỘNG NGÂN HÀNG về những tài sản ký gửi của những công dân một nước cho Chính quyền nước ấy. Quyết định này sẽ được phổ quát hóa cho mọi nước trên Thế giới. Như vậy vấn đề BÍ MẬT NGÂN HÀNG sẽ không còn nữa.

Bí mật Ngân Hàng

Thực ra sự kín đáo về tài sản, tiền bạc là tính tự nhiên của mỗi người. Một trong những tính chất của Tiền tệ là khả năng tồn trữ trong thời gian. Việc tồn trữ này có mục đích bảo đảm tương lai, nhất là ở thời kỳ một cá nhân đã giảm hoặc mất khả năng làm ra tiền. Đối với những người làm được nhiều tiền, đến một mức nào đó, họ tìm cách cất giữ cho kỹ đồng tiền đã cực nhọc làm ra. Những người giầu thực sự, họ trở thành kín đáo. Ngay cả giữa vợ chồng, cũng có sự kín đáo cất giữ riêng tiền bạc này. Đối với súc vật, cũng có sự giấu cất kín đáo đồ ăn thu lượm được. Con sóc trong mùa có nhiều trái khô, ăn không hết, cũng mang cất giấu đồ ăn, lấy đất và lá phủ đi để lúc thiếu đồ ăn, đến đó tìm lại. Có lẽ chỉ những người không giầu có, lại muốn phô trương vòng vàng, khoe khoang tiền bạc tiêu pha để lòe thiên hạ.

Xem như vậy, vấn đề bí mật ngân hàng có cái nguồn gốc tự nhiên của nó thuộc về bản tính con người. Khi có tiền, nếu tự mình cất giữ không được bảo đảm an toàn, có thể ký thác gửi ở một người hay một tổ chức mà mình thấy an toàn hơn. Nếu người hoặc tổ chức được tín nhiệm ký thác giữ tiền mà đi rêu rao khắp thiên hạ về tên người đã gửi tiền, thì chắc chắn người này không hài lòng và sẽ rút tiền ra để đi gửi người khác hay một tổ chức khác cất giữ dùm và kín miệng hơn.

Chính vì tính tự nhiên của con người và việc kín đáo của người được ký thác giữ tiền mà dân chúng Thụy sĩ đã bầu phiếu quyết định về BÍ MẬT NGÂN HÀNG.
Tại sao G8 quyết định Ngân Hàng phải TỰ ĐỘNG nói toang ra tên người gửi tiền
Nhiều người dân bình thường đã cắt nghĩa đòi hỏi ồn ào này của G8 theo sự hiểu đơn giản của họ: 
- Gặp thời kỳ nợ công chồng chất tại mỗi nước, các Chính phủ G8 gặp khủng hoảng Ngân sách, đã tìm hết cách để moi ra tiền.
- Người ta thường than rằng tại Hoa kỳ, Luật sư đông như rươi. Mỹ nhiều Luật sư nhất Thế giới tính theo đầu người. Luật sư không sản xuất, nhưng sống với những khúc mắc của người khác. Cái bé xé ra to và càng to bao nhiêu thì Luật sư càng có việc làm và được thù lao cao. Luật LEX AMERICANA mà Hoa kỳ muốn áp đặt Quốc Hội Thụy sĩ phải bầu phiếu chấp thuận gồm đầy những lý do đe dọa trừng phạt tiền tỉ cho một số Ngân Hàng Thụy sĩ.
- Riêng về FACTA mà Bà Bộ trưởng Tài chánh Thụy sĩ Eveline WIDMER-SCHLUMPF đã ký kết và thảo luận tiếp với Hoa kỳ về chi tiết thực hiện, nhật báo TRIBUNE DE GEGEVE ngày 19.06.2013 đã viết ở trang 3 như sau:

“La loi FACTA, pour “Foreign Account Tax Compliance Act “, implique que les établissements financiers (banques, fonds de placement ou simples fiduciaires) déclarent au fisc américain les avoirs de leurs clients américains, quel que soit leur pays de résidence. En résumé, la loi américaine s’étendra partout dans le monde“ (Luật FACTA (Foreign Account Tax Compliance Act) hàm ngụ rằng những những cơ sở tài chánh (ngân hàng, quỹ đầu tư hay tổ chức lãnh chuyển di sản đơn giản) phải khai trình cho sở thuế Mỹ những tài sản của khách hàng Mỹ của mình cho dù những khách hàng ấy cư ngụ ở một nước khác. Tóm lại, Luật Hoa kỳ sẽ lan rộng ra mọi nơi trên khắp Thế giới).

Mộ số đảng của Thụy sĩ đang đe dọa đưa Luật này ra cho dân chúng bầu phiếu thuận hay không.

Trụ sở Ngân hàng Trung ương Thụy Sĩ

Đặt ngược vấn đề lại cho Mỹ và G8

Đã từ lâu, tiền từ những nước nhược tiểu, kém mở mang hay bắt đầu phát triển chuyển sang các Ngân Hàng Mỹ, Anh, Pháp… để cất giấu cho an toàn. Những nhà độc tài của Nam Mỹ, của Phi châu của cận đông, của Á châu ăn cướp tiền của dân, lấy tài sản quốc gia làm của riêng, đã chuyển những tiền đó về các Ngân Hàng thuộc G8 để cất giấu. Tài sản của Saddam Hussein có 5 tỉ Mỹ kim cất giấu ở Luân Đôn. Tài sản của Khadaffi, của Ben Ali, của Moubarak… cũng đã được cất giấu khắp nơi tại các Ngân Hàng thuộc G8.

Đây là những món tiền ăn cướp từ một xứ nghèo, còn nặng tội hơn nhiều sánh với những món tiền mà công dân Mỹ làm ăn công khai kiếm được, nhưng vì muốn tránh thuế cao mà chuyển đi nơi khác. Vậy nếu nhân danh trong sạch và trong sáng Ngân Hàng mà Mỹ đưa ra Luật FACTA, thì tại sao Mỹ và G8 không áp dụng đúng đắn Luật FACTA này để THÔNG TIN TỰ ĐỘNG cho những Chính phủ hoặc dân chúng của các nước nghèo biết TÊN những đứa độc tài, cướp của giết người của những nước nghèo đang gửi tiền ở những Ngân Hàng Mỹ hoặc của G8.
Nếu Mỹ và G8 muốn Luật FACTA lan rộng khắp Thế giới, thì Mỹ và G8 hãy đưa Luật này ra Liên Hiệp Quốc để các nước nghèo chính thức đòi buộc các Ngân Hàng Mỹ hoặc của G8 phải cho Chính phủ và dân chúng các nước nghèo biết Tên Tuổi những người Lãnh đạo tham nhũng thuộc các nước đó.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN
(xin lỗi GS là tôi đã cắt bỏ và chỉnh sửa một chút)

10 đồng tiền rẻ nhất thế giới

Hơi lạ khi vnexpress.net đưa tin này, ngang bằng trát phân vào mặt mấy đời Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong đó có cả đương kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (27 tháng 6, 1998 – 27 tháng 6, 1999). Đau nữa là không thấy kíp Lào hay real Campuchia nằm trong danh sách các đồng tiền đáng xấu hổ này.
10 đồng tiền rẻ nhất thế giới
Bằng cách so sánh giá trị quy đổi của một đồng tiền ra bảng Anh, Telegraph cho rằng tiền Việt có giá thấp nhất khi 33.000 đồng mới đổi được một bảng.
Theo Telegraph, một xu (Anh) ngày nay chẳng mua được gì nhưng vẫn có giá hơn đồng tiền
Việt Nam. Nếu đổi ngang, khoảng 33.000 đồng mới bằng một bảng Anh (1,54 USD).
Xếp sau đó là đồng rupiah của Indonesia. Một bảng Anh đổi được 15.300 rupiah.
Giữ vị trí thứ 3 là tiền Columbia, 2.880 peso cho một bảng.
Tiền của Tazanian thấp hơn một chút so với Columbia. Mỗi bảng Anh có giá 2.500 shilling.
Một bảng Anh tương đương 1.730 won (đơn vị tiền của Hàn Quốc).
Dưới mốc 1.000 là tiền của Chile với 760 peso đổi một bảng.
Có giá trị gần bằng một nửa peso Chile, tiền forint của Hungary được đổi với tỷ giá 350 đồng
cho một bảng.

Rupee của Pakistan có tỷ giá 152 đồng ăn một bảng.


Bạn cần 135 shilling Kenya để đổi lấy một bảng.


Trong danh sách của Telegraph, tiền yen của Nhật là đồng có giá trị nhất so với
bảng Anh, 126 yen tương đương một bảng.

Theo Phương Linh (VnExpress.net)

Saturday, August 10, 2013

Khi Ngân hàng Nhà nước trở thành “lái vàng”

Khi Ngân hàng Nhà nước trở thành “lái vàng”
Thị trường vàng vẫn rối sau hơn một năm Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng giao đặc quyền cho Ngân hàng Nhà nước và sau 51 phiên đấu thầu bán ra hơn 52 tấn vàng, giá vàng ở Việt Nam vẫn luôn cách biệt rất xa so với giá vàng thế giới.
Mục tiêu chống vàng hóa
Sau khi Nghị định 24 có hiệu lực, Ngân hàng Nhà nước đã quản lý chặt thị trường vàng, độc quyền nhập khẩu vàng thoi, độc quyền chế tác thành vàng miếng, áp đặt thương hiệu SJC là thương hiệu quốc gia duy nhất, Ngân hàng Nhà nước còn độc quyền ấn định giá vàng và phân phối ra thị trường dưới hình thức đấu thầu cho các ngân hàng và doanh nghiệp được tái cấp phép kinh doanh vàng. Khoảng 5.000 cửa hàng vàng trên toàn quốc bị đóng cửa.

Một cửa hàng kinh doanh vàng nữ trang ở Hà Nội AFP photo
Mục đích của Nghị định 24 là chống vàng hóa nền kinh tế, ổn định thị trường vàng và giảm chênh lệch giá vàng giữa Việt Nam và thế giới. Vậy sau 1 năm độc quyền và bán ra hơn 52 tấn vàng Ngân hàng Nhà nước đã đạt được những mục đích vừa nêu hay không. Trả lời chúng tôi vào tối 8/8/2013, Phó Giáo sư Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế từ Hà Nội nhận định:

“Theo quan điểm của tôi về cơ bản là chưa đạt mục tiêu. Chống vàng hóa là làm sao người ta không sử dụng vàng làm phương tiện thanh toán cũng như không để lượng vàng vật chất lớn. Đặc biệt lượng vàng trong dân Việt Nam hiện nay là rất lớn, anh phải có giải pháp thu hút về phục vụ cho quốc kế dân sinh. Nhưng thông qua 51 phiên đấu thầu đưa ra hơn 52 tấn thì vô hình chung vàng vật chất lại tăng lên, đấy là sự bất cập.

Một trong những mục tiêu Quốc hội đặt ra là làm sao giá vàng trong nước phải liên thông với giá vàng thế giới, hay nói cách khác giá vàng Việt Nam phải sát với giá thế giới. Nhưng thực tế qua 51 phiên đấu thầu thấy rằng mục tiêu này theo Nghị quyết của Quốc hội đã chưa thực hiện được. Có những thời điểm giá vàng chênh lệch khoảng 7 triệu đồng/lượng, tại thời điểm hôm nay (8/8) giá vàng chênh khoảng gần 5 triệu. Từ chênh lệch lớn này nếu không quản lý tốt thì sẽ tạo ra kẽ hở rất lớn tạo ra hiện tượng buôn lậu vàng, ngươi ta sẽ tuồn vàng từ nước ngoài về để hưởng chênh lệch nhất định.”

Trong cuộc phỏng vấn của chúng tôi, cùng về vấn đề này chuyên gia kinh tế TS Lê Đăng Doanh ở Hà Nội phân tích, Hội đồng vàng thế giới và Ngân hàng Nhà nước ước đoán hiện nay trong dân ở Việt Nam phải có khoảng từ 400 tấn đến 500 tấn vàng. TS Doanh nhận định là do quá trình thăng trầm của lịch sử, ở Việt Nam ngay cả người nghèo cũng thấy là cần phải giữ vàng. Đã có giai đoạn mỗi lần thay đổi chính phủ là lại đổi tiền và thực tế người dân thấy là vàng bao giờ cũng có giá trị. Do vậy vàng đã trở thành vật cất giữ và có một giá trị đặc biệt tại Việt Nam.

Theo TS Lê Đăng Doanh, trước đây Nhà nước đã cho phép ngân hàng được kinh doanh vàng, Ngân hàng ACB đã mở sàn vàng và nhận gởi tiết kiệm bằng vàng. Sau đó Ngân hàng Nhà nước đã ra quyết định độc quyền vàng thoi, rồi giảm bớt các cửa hàng buôn bán vàng, NHNN độc quyền nhập khẩu vàng, độc quyền đưa vàng ra thị trường với mục tiêu đến 30/6/2013 thì tất cả ngân hàng thương mại đều đã tất toán được số vàng mà họ đã nhận gởi cho dân và bây giờ phải hoàn trả lại. TS Lê Đăng Doanh nhấn mạnh:

“Đến sau 30/6 Ngân hàng Nhà nước thấy vẫn có nhu cầu và vẫn phải tiếp tục đấu thầu và cho đến nay đã bán ra 52 tấn vàng rồi, chênh lệch giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới khoảng từ 4 triệu cho đến khoảng 7 triệu, có những thời điểm lên đến 7 triệu, thì NHNN nói là đã nộp đầy đủ vào Kho bạc Nhà nước. Tuy vậy chưa thấy có con số nào công bố lên về việc đó.

Cho đến nay có rất nhiều câu hỏi được đặt ra, một là tại sao giá vàng còn chênh lệch đến như vậy và bao giờ giá vàng trong nước và giá vàng thế giới có thể tiếp cận được với nhau. Điều thứ hai là, số vàng trong dân thì để làm gì và thứ ba là NHNN bán vàng ra thì phần lớn do các ngân hàng thương mại mua, còn số vàng ra được thành vàng trang sức hoặc vàng miếng đến tay người dân thì ít thôi, thế thì số vàng đó đi đâu và nên xử lý cái đó như thế nào. Tôi nghĩ rằng, đây là một trong các vấn đề cần phải được thảo luận và xem xét thêm trong thời gian tới.”

Còn nhiều bất cập

Báo Tiền Phong Online ngày 29/7 trích lời Đại tá Vũ Hồng Nam, Trưởng phòng Cảnh sát Điều tra tội phạm về Quản lý Kinh tế và Chức vụ, Công an TP.HCM phát biểu rằng, hiện nay 1kg vàng tức 26,6 lượng khi nhập lậu có thể thu lãi 100 triệu đồng. Chính vì vậy dù tăng cường ngăn chặn nhưng vàng lậu vẫn xâm nhập bằng nhiều đường khác nhau. Vẫn theo Tiền Phong, hàng chục kg vàng lậu đã bị bắt giữ ở các cửa khẩu, đặc biệt khu vực biên giới Tây Nam. Bọn buôn lậu còn nghĩ ra cách cắt nhỏ vàng miếng và giao cho nhiều người cất giữ vận chuyển nên rất khó phát hiện.

Đánh giá việc Ngân hàng Nhà nước thực hiện độc quyền thị trường vàng trong thời gian vừa qua, Phó Giáo sư Ngô Trí Long nói với chúng tôi là ông giữ nguyên phản biện ban đầu từ cách nay một năm. Ông nói:

“Nghị định 24 của Chính phủ ban hành về quản lý kinh doanh vàng còn rất nhiều bất cập, quan điểm này của tôi đã được chứng minh rất cụ thể. Ví dụ nó thể hiện ở tính chất một mình một chợ, nó khác với thông lệ quốc tế, với các nước. Hay là chỉ qui định một thương hiệu vàng độc quyền, hay một số bất cập mà tôi đã nêu lên rất cụ thể, quan điểm của tôi cho tới nay vẫn là cần sửa đổi gấp NĐ 24 mà vấn đề này Diễn Đàn Kinh Tế Mùa Thu sắp tới, tôi được Ban Tổ chức đặt một bài liên quan đến điều hành thị trường giá vàng thời gian 1 năm qua. Chắc chắn tôi sẽ nêu lên rất cụ thể và định hướng sửa đổi, còn nếu cứ tồn tại cơ chế quản lý vàng như thế này, thì chắc chắn những mục tiêu ban đầu chính phủ đặt ra thì không bao giờ có thể thực thi được.”

Hé lộ những đề nghị liên quan đến vấn đề quản lý thị trường vàng Việt Nam, Phó Giáo sư Ngô Trí Long nói rằng, không thể chỉ có một thương hiệu SJC độc quyền và buộc mọi thương hiệu khác phải trả phí để chuyển đổi. Ông nhấn mạnh:

“Ngân hàng Nhà nước phải nên đi vào chức năng, nhiệm vụ chủ yếu Nhà nước phân công cho là quản lý tiền tệ, quản lý về vàng chứ không phải đi làm nhiệm vụ kinh doanh….thực tế không có một đất nước nào mà Ngân hàng Nhà nước lại đi mua vàng và chế tác sản xuất đem ra bán trên thị trường. Đây là điều mà thông lệ quốc tế và các nước theo mô thức kinh tế thị trường không bao giờ có.”
Trong bối cảnh Việt Nam mong muốn được các quốc gia có quan hệ thương mại nhìn nhận là nền kinh tế thị trường đầy đủ, tư duy độc quyền thị trường vàng, can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính có thể gây ảnh hưởng trái chiều hay không. Phó Giáo sư Ngô Trí Long nhận định:

"Đã là một nền kinh tế thị trường thì phải hoạt động theo những tiêu chí nhất định. Việt Nam đang trong xu thế hội nhập thì phải chứng minh cho quốc tế thấy được mình vận động và hành động đúng theo những qui luật của kinh tế thị trường. Tôi nghĩ các nhà lãnh đạo phải xem xét nghiên cứu làm sao để đưa tất cả các hoạt động đặc biệt là thị trường vàng đi theo đúng quĩ đạo, vì nó là một bộ phận của thị trường tiền tệ tài chính.”
Chúng tôi xin trích nhận định của TS Lê Đăng Doanh trên báo Người Lao Động Online: “ Thị trường vàng nào đang được hình thành và vận hành ở Việt Nam…Độc quyền sẽ luôn áp đặt giá độc quyền cao nhất có thể để thu siêu lợi nhuận, đó là nhận thức từ sách giao khoa và không sai với đối với các hành vi độc quyền ở Việt Nam. Hy vọng rút ngắn giá trong nước bằng với giá thế giới xem ra còn xa vời.”

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2013-08-09

Wednesday, August 7, 2013

Tờ 100 Đô la mới sẽ lưu hành từ ngày 08.10.2013

Tờ 100 Đô la mới sẽ lưu hành từ ngày 08.10.2013 
Những Đặc Điểm An Toàn Trong Tờ 100 Đô La Sẽ Lưu Hành Vào Ngày 08.10.2013
Để bảo vệ đồng tiền của Mỹ và giữ tỷ lệ làm tiền giả ở mức thấp, chính phủ Mỹ sẽ tiếp tục nâng cao mức an toàn đối với đồng tiền sắp lưu hành. Tờ 100 đô la mới là tờ tiền mới nhất trong tiền tệ Mỹ được thiết kế lại với những đặc điểm bảo đảm an toàn được nâng cao. Đây là tờ tiền giấy cuối cùng trong nhóm những tờ tiền giấy được thiết kế lại: lần đầu là thiết kế lại tờ 20 đô la vào năm 2003 và tiếp theo là các tờ 50 đô la, 10 đô la và 5 đô la.
Những đặc điểm bảo an của tờ 100 đô la mới là kết quả của hơn một thập kỷ niên nghiên cứu và phát triển. Có nhiều đặc điểm bảo an trong tờ tiền 100 đô la được thiết kế lại bao gồm những đặc điểm bảo an mới và nâng cao làm cho việc làm giả tờ giấy bạc này khó hơn, nhưng lại giúp người sử dụng và các doanh nghiệp xác định dễ dàng.
 
Dây an ninh 3-D: Hãy tìm dây an ninh màu xanh ở mặt trước của tờ 100 đô la với hình ảnh những cái chuông và những con số 100. Trao nghiêng tờ tiền về phía sau và phía trước khi xem dây an ninh. Bạn sẽ thấy những chiếc chuông đổi thành những con số 100 khi chúng di chuyển. Nếu bạn trao nghiêng tờ tiền về phía trước và phía sau, những chiếc chuông và những con số 100 sẽ di chuyển lên trên và xuống dưới. Nếu bạn trao nghiêng tờ tiền sang hai bên, chúng sẽ di chuyển về phía trước và phía sau. Dây an ninh được đan bên trong tờ tiền, chứ không được in và sử dụng vi công nghệ tiên tiến. Có gần một triệu vi thấu kính được sử dụng để tạo ảo giác về những chiếc chuông và những con số 100 đang chuyển động.
http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/feature-100-3dribbon_vi.gif
 
Chuông trong lọ mực: 
 
Bạn hãy tìm hình ảnh của một chiếc chuông đặt trong một lọ mực màu đồng ở mặt trước tờ 100 đô la mới. Tùy thuộc vào góc của tờ tiền, hình ảnh chiếc chuông đổi màu từ màu đồng sang màu xanh, đây là hiệu ứng làm cho chiếc chuông như hiện rồi lại ẩn trong lọ mực.
http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-bellinink_vi.gif
 
 
Cả hai đặc điểm bảo an này mang lại cách đơn giản và tinh vi để xác định một tờ tiền. Nhưng không thực hiện được việc xác định trên đây khi đưa tờ tiền ra ánh sáng.
 
Chúng tôi duy trì ba yếu tố bảo đảm an toàn hiệu quả cao từ mẫu tờ tiền 100 đô la cũ:
 
Hình chìm chân dung: 
http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-watermark_vi.gif
 
Đưa đồng tiền ra ánh sáng và tìm ảnh Benjamin Franklin mờ ở vùng trống phía bên phải bức chân dung. Có thể thấy hình ảnh này trên hai mặt của tờ giấy bạc.
 
Dây bảo an: 
http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-securitythread_vi.gif
 
Giơ tờ tiền ra trước ánh sáng và tìm dây an ninh được đính vào tờ tiền chạy dọc phía bên trái bức chân dung này. Dây an ninh được in xen lẫn các chữ “USA” và số 100 theo kiểu xen kẽ dọc và có thể nhìn thấy chúng dọc theo dây bảo an ở cả hai mặt tờ tiền. Dây bảo an phát quang màu hồng khi đặt dưới đèn tử ngoại.
 
Số 100 đổi màu: 
 
Trao nghiêng tờ tiền để xem số 100 ở góc dưới phía bên phải trên mặt trước của tờ tiền này chuyển màu từ màu đồng sang xanh lá cây.

http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-colorshiftingink_vi.gif 

Các đặc điểm thiết kế và bảo an bổ sung

 
In nổi: 
http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-raisedprinting_vi.gif
 
  Đưa ngón tay bạn lên trên và xuống dưới vai Benjamin Franklin ở phía bên trái tờ tiền. Bạn sẽ thấy ráp khi chạm. Đây là kết quả của quá trình in chìm nâng cao được sử dụng để tạo ra hình ảnh này. Bạn có thể thấy kiểu in nổi truyền thống trong tờ 100 đô la này làm cho các đồng tiền Mỹ có độ chân thực đặc biệt.
 
Số 100 nhũ vàng:
 
Hãy tìm số 100 nhũ vàng ở phía sau tờ tiền. Nó giúp phát hiện tiền giả.http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-gold100_vi.gif
 
 
Hình in nhỏ:
 
Hãy cẩn thận tìm những chữ in nhỏ xuất hiện ở cạnh cổ áo jacket của Benjamin Franklin, gần khoảng trống nơi hình chìm chân dung xuất hiện dọc theo ống bằng vàng ở gần biên tờ tiền.
Microprinting                                                          - Image
 
 
 
Dấu Cục Dự Trữ Liên Bang:
 
 Con dấu phổ biến phía bên trái bức chân dung tượng trưng cho toàn bộ Hệ thống cục dự trữ liên bang. Số và ký tự nằm dưới dãy số sê-ri bên trái chỉ ra Ngân hàng của Cục dự trữ liên bang là cơ quan phát hành. Có 12 ngân hàng khu vực và 24 chi nhánh của Cục dự trữ liên bang nằm tại các thành phố lớn trên khắp nước Mỹ.
Federal                                                          Reserve                                                          Indicators -                                                          Image
 
 
Các số sê-ri:
 Là sự kết hợp duy nhất của mười một số và chữ xuất hiện hai lần ở mặt trước của tờ tiền. Những số sê-ri duy nhất này giúp cơ quan hành pháp nhận biết những tờ tiền giả và cũng giúp Vụ tạo mẫu và In tiền theo dõi các tiêu chuẩn chất lượng cho những tờ tiền họ sản xuất.
 http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-serialnumbers_vi.gif
 
Dấu hiệu FW:
 
Tờ 100 đô la được thiết kế lại được in ở hai địa điểm ở Fort Worth bang Texas và Washington D.C. Tờ 100 đô la mới được in ở Fort Worth sẽ có chữ FW nhỏ ở góc trên bên trái ở phía trước tờ tiền, nằm ở phía bên phải số 100. Nếu một tờ tiền không có chữ FW có nghĩa là nó được in ở Washington D.C.
http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-fw_vi.gif
 
 
Chân dung và Ảnh in mờ: 
 
 Chân dung Benjamin Franklin một trong những người khai sinh ra nước Mỹ nằm ở phía trước tờ tiền mới 100 đô la. Ở phía sau tờ tiền có hình ảnh in mờ Dinh độc lập. Đây là hình ảnh phía sau chứ không phải phía trước tòa nhà. Các hình ôvan bao quanh bức chân dung và ảnh mờ tòa nhà đã được bỏ đi và những hình ảnh này đã được phóng to lên.
 
Các biểu tượng tự do: 
 
Bên phải bức chân dung trong tờ 100 đô la mới này là những biểu tượng tự do của nước Mỹ – những cụm từ trong Tuyên ngôn độc lập và bút lông mà những người khai sinh ra đất nước này sử dụng để ký tài liệu lịch sử này.
http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-symbolsfreedom_vi.gif
 
Màu sắc: 
 
Màu nền của tờ 100 đô la mới này có màu xanh nhạt. Màu sắc đã thêm một lớp độ phức tạp vào thiết kế của tờ 100 đô la và mỗi mệnh giá sẽ có một màu khác biệt giúp người sử dụng nhận biết chúng. Vì màu sắc có thể bị những kẻ làm tiền giả bắt chước, nên nó không được sử dụng để xác nhận tính xác thực của tờ tiền. 
http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-color_vi.gif
 
File:New100front.jpg
 
File:New100back.jpg

United States one hundred-dollar bill
 
The United States one hundred-dollar bill ($100) is a denomination of United States currency U.S. statesman, inventor, and diplomat Benjamin Franklin is currently featured on the obverse of the bill. On the reverse of the banknote is an image of Independence Hall. The $100 bill is the largest denomination that has been printed since July 13, 1969, when the denominations of $500, $1,000, $5,000, and $10,000 were retired. The Bureau of Engraving and Printing says the average life of a $100 bill in circulation is 90 months (7.5 years) before it is replaced due to wear and tear.
 
The bills are also commonly referred to as “Benjamins”, in reference to the use of Benjamin Franklin’s portrait on the denomination, or “C-Notes”, based on the Roman numeral for 100. The bill is one of two denominations printed today that does not feature a President of the United States; the other is the $10 bill, featuring Alexander Hamilton. The time on the clock of Independence Hall on the reverse, according to the U.S. Bureau of Engraving and Printing, shows approximately 4:10.
 
One hundred hundred-dollar bills are delivered by Federal Reserve Banks in mustard-colored straps ($10,000).
 
The Series 2009 $100 bill redesign was unveiled on April 21, 2010, and was to be issued to the public on February 11, 2011, but production was shut down in December 2010 because as many as 30% were unusable due to a manufacturing flaw. A vertical crease in the paper reveals a blank space on the bill when pulled out. In their replacement, and continuing the high demand of this denomination, the Series 2006A was issued retaining the previous design (1996-generation).
 
On April 24, 2013, the Federal Reserve announced the new $100 bill would enter circulation on October 8, 2013.
tran-quang-minh

Tuesday, August 6, 2013

Cần khẩn cấp phá giá nội tệ và tự do hoá kinh tế - xã hội

Cần khẩn cấp phá giá nội tệ và tự do hoá kinh tế - xã hội
Lại Trần Mai: Kinh tế - xã hội Việt Nam đang tiếp tục chìm ngày càng sâu trong một cuộc khủng hoảng trầm trọng, kéo dài triền miên và hầu như không thấy lối thoát.
Nếu như cách đây hơn 10 năm, dưới thời phát triển chậm mà chắc của Thủ tướng Phan Văn Khải, tôi dự báo cuộc tổng khủng hoảng của nền kinh tế Việt Nam sẽ diễn ra vào khoảng năm 2020 và nguyên nhân là từ cuộc tấn công của giới đầu cơ quốc tế vào một nền kinh tế bắt đầu trưởng thành, có thu nhập khá và nhiều tài sản có giá trị (trước đó chúng chưa thèm đầu cơ hoặc chỉ đầu cơ chơi chơi vì lãi thu được không nhiều), thì nay cuộc tổng khủng hoảng có thể xảy ra bất cứ lúc nào, có thể chỉ vô tình từ một cuộc tấn công chơi chơi của giới đầu cơ quốc tế mà mục tiêu của nó không phải là tổng tấn công mà chỉ là đầu cơ giải trí trong thời gian chúng rảnh rỗi. 
Ngoài ra, bất cứ một ngọn lửa nào vô tình bốc lên từ nền kinh tế cũng có thể kích hoạt cho một cuộc đại suy thoái vô tiền khoáng hậu ở nước ta. Kinh nghiệm từ việc bắt một vài vị lãnh đạo ngân hàng thương mại đã cho thấy.
Đại suy thoái ở nước ngoài - Nay đến lượt nước ta ?


Tổng khủng hoảng lần này, nếu xảy ra, thì sẽ không còn đơn thuần là một cuộc khủng hoảng kinh tế như tất cả các lần trước mà sẽ là một cuộc khủng hoảng cả kinh tế lẫn xã hội. Với sự tiếp sức của truyền thông, internet và trong bối cảnh một xã hội cởi mở với hơn 90 triệu dân có nhu cầu cao (vì thường xuyên tiếp xúc với tiêu dùng ở các nước giầu qua xem tivi) nhưng trên thực tế ngày càng nghèo và cạn kiệt niềm tin, hy vọng, thì hậu quả của cuộc tổng khủng hoảng lần này sẽ không thể lường trước được. 

Lần này, không còn hy vọng vào những nguồn thu nhập bất ngờ như lần trước (dầu mỏ, kiều hối, vốn vay và viện trợ nước ngoài, đất đai, tài nguyên khác, kinh tế thế giới khởi sắc và phát triển mạnh...) trong khi phạm vi hoạt động của chính phủ bị thu hẹp rất nhiều (vì thâm hụt ngân sách, nợ trong và ngoài nước đều đã rất cao, nguy cơ lạm phát cao thường trực nên không thể nới lỏng thêm chính sách tiền tệ...) thì thoát ra như thế nào ?

Trong một bài viết cũ ((2) Công nghiệp Việt Nam: Tăng trưởng và Suy thoái"), tôi đã viết: "Toàn bộ những tiến triển về tăng trưởng sản xuất, thay đổi cơ cấu, đầu tư và xuất khẩu của công nghiệp trong giai đoạn từ khi đổi mới đến nay (tức là đến năm 2000) có thể được lý giải bằng hai lý thuyết kinh tế chính: Lý thuyết tự do hoá kinh tế đi kèm phá giá nội tệ và lý thuyết nhập khẩu vốn kéo theo hiện tượng đánh giá cao nội tệ, trong đó lý thuyết tự do hoá kinh tế đi kèm phá giá nội tệ là cơ sở để giải thích tiến triển công nghiệp giai đoạn trước 1992 và lý thuyết nhập khẩu vốn và đánh giá cao nội tệ là cơ sở để giải thích tiến triển công nghiệp giai đoạn từ sau năm 1992". Điều này không chỉ đúng cho công nghiệp mà còn đúng cho toàn nền kinh tế.
Trong một bài viết khác năm 2011-2012 (đã được đưa lên trang này, nhưng nay tôi không biết nó nằm đâu), tôi đã đề nghị để tháo gỡ những khó khăn hiện nay, cần khẩn trương áp dụng trở lại các chính sách kinh tế tế giai đoạn 1986-1992, tức là cần "tự do hoá kinh tế đi kèm phá giá nội tệ".

Đây là một liệu pháp sốc, chỉ nên áp dụng khi con bệnh đã trở lên nguy kịch. Đó chính là nền kinh tế nước ta hiện nay.

Tuy nhiên, thứ tự thực hiện chính sách nên thay đổi: 

1. Trước tiên cần phá giá mạnh mẽ nội để để tạo ra một cú sốc tích cực là làm tăng mạnh khối lượng hàng xuất khẩu, giải tỏa hàng tồn kho, qua đó làm tăng mạnh thu nhập cho người làm hàng xuất khẩu, chủ yếu là người nông dân vì nông sản là hàng dễ tăng khối lượng xuất khẩu nhất sau khi phá giá tiền tệ. Khi một tầng lớp đông đảo người có thu nhập thấp được tăng thêm thu nhập thì tiêu dùng xã hội sẽ tăng lên. Tất nhiên, cần phải tính đến độ trễ 6-12 tháng để chính sách tỷ giá có thể phát huy tác dụng tích cực (tức là khi hoàn thành vòng đầu tiên: Phá giá, thực hiện quá trình xuất khẩu, nhận tiền USD, chuyển sang tiền Việt và giao lại cho người làm hàng xuất khẩu, người làm hàng xuất khẩu có tiền sẽ bắt đầu tiêu dùng và đầu tư tái sản xuất).

2. Cùng với phá giá mạnh mẽ nội tệ, cần áp dụng càng nhanh càng tốt một hệ thống các chính sách kinh tế - xã hội theo hướng tự do hóa càng mạnh càng tốt mọi hoạt động kinh tế - xã hội. Bộ máy tuyên truyền phải huy động hết công suất để phổ biến quan điểm phát triển tự do này và giải thích càng rõ càng tốt mọi chính sách cụ thể kèm theo. 
Mục tiêu là để tái lập lại niềm tin, hy vọng và động lực làm giầu mới cho mọi tầng lớp danh nhân và người lao động.
Đáng tiếc hiện nay, chúng ta không những không đi theo hướng tự do hóa kinh tế, xã hội mà ngược lại đang theo hướng thắt chặt. Đặc biệt, trong lĩnh vực nhạy cảm tài chính ngân hàng, có thể nói các biện pháp điều hành hành chính kiểu chỉ huy, mệnh lệnh đang được áp dụng phổ biến như dưới thời bao cấp, không cần biết doanh nghiệp và người dân đang khốn khổ như thế nào.

Chi tiết nên tham khảo thêm trong bài tôi viết cách đây hơn 10 năm: 

Trong những năm 1999-2002 tôi đã liên tục đề nghị Việt Nam nên phát giá 30%, tốt nhất là 50%, làm một lần sau đó ổn định (nhưng không phải là cố định) tỷ giá trong nhiều năm Đa số các nhà kinh tế lúc đó đều choáng khi nhìn những con số "không tưởng" này. Thấy tôi kiên trì quan điểm này, TS Lê Đăng Doanh và bác Trần Đức Nguyên, trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, đã đề nghị tôi viết lại thành một văn bản chi tiết để trình lãnh đạo cấp cao . 
Tôi hoàn toàn không tán thành các đề xuất dưới đây của Chuyên gia kinh tế Phạm Nam Kim. 
Theo tôi, càng kích cầu từ khu vực kinh tế nhà nước (bằng các nguồn vốn ngân sách, tín dụng ưu đãi hay đầu tư của DNNN) thì càng sai lầm và càng lao nhanh đến cuộc tổng khủng hoảng toàn diện kinh tế - xã hội. Chúng ta đã liên tục đổ thêm dầu vào lửa và hậu quả là những cái chúng ta đang chứng kiến và hiện đang chung sống với chúng.

Mọi con đường thoát ra khỏi khủng hoảng hiện nay đều phải bắt đầu từ huy động được nguồn vốn tư nhân trong và ngoài nước, từ việc nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, bắt đầu từ hạ giá bán (cạnh tranh qua giá nhờ mạnh mẽ phá giá nội tệ) nối tiếp là nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả mọi hoạt động kinh tế, xã hội thông qua xây dựng một nền kinh tế thị trường đúng nghĩa và một xã hội dân sự thực sự cởi mở và tôn trọng con người.

Kinh tế đang trong vòng xoáy dữ dội?
- Theo chuyên gia kinh tế Phạm Nam Kim, cựu giám đốc Ngân hàng bang Vaud, Thuỵ Sỹ, nền kinh tế Việt Nam đang đi vào vòng xoáy: cầu thấp do thất nghiệp tăng và thất nghiệp tăng dẫn đến cầu thấp.

Xuống "đáy" chữ U

Đánh giá về kinh tế nửa đầu năm 2013, ông Kim cho rằng, lạm phát thấp không phải do thành công từ công tác điều hành mà do kinh tế suy thoái, cầu thấp, cung tự giảm và nhiều lúc thấp đến mức đáng lo ngại, phải tạo ra tăng giá một số mặt hàng, dịch vụ để đẩy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) lên.

Tính đến nay, có hai chính sách quan trọng bắt đầu đi vào cuộc sống là gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng cho người mua nhà ở xã hội và thành lập Công ty quản lý nợ xấu VAMC.

kinh tế, vòng xoáy, khó khăn, gói 30.000 tỷ, VAMC, đáy, vốn, việc làm, tái cơ cấu.
Từ năm 2012 đến nay, nền kinh tế không những không tạo ra 
mà còn làm mất đi nhiều công ăn việc làm (ảnh SGTT)
Tuy nhiên, xét gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng, có thể thấy chưa trúng mục tiêu và hiệu quả sẽ không cao.
Chẳng hạn, muốn sở hữu căn hộ 70m2, giá 15 triệu đồng/m2 thì người mua có thể vay 800 triệu đồng, lãi suất 6% trong 10 năm. Năm đầu sẽ phải trả cả gốc và lãi 128 triệu đồng (80+48), cộng với các chi phí sinh hoạt thì thu nhập của hộ mua nhà phải trên 200 triệu đồng/năm. Với thu nhập như vậy ở Việt Nam là khá cao và ít người có thể vay được. Và việc kích thích kinh tế thông qua gói này không mang lại nhiều kết quả.
Còn việc thành lập VAMC cũng không thể giải quyết được gốc của vấn đề là DN sẽ tiếp cận được vốn ngân hàng dễ dàng, cho dù các ngân hàng đã sạch nợ xấu. Vốn vì thế vẫn khó đẩy vào sản xuất kinh doanh khiến kinh tế khó khởi sắc.
Bên cạnh đó, đến nay đã có trên 300.000 DN bị thua lỗ, phá sản, ngừng hoạt động; số còn lại, khoảng 100.000 DN đang sống thoi thóp. Theo tính toán, bình quân 1 DN ngừng hoạt động sẽ làm mất 15 việc làm. Với số DN đã ra đi, hàng triệu việc làm không còn, chưa kể hàng năm có thêm hơn 1 triệu người gia nhập thị trường lao động. Như vậy, có thể nói từ năm 2012 đến nay, nền kinh tế không những không tạo ra mà còn làm mất đi nhiều công ăn việc làm. Số lượng lao động thất nghiệp cao, thu nhập giảm đã khiến nguồn cầu hạ thấp, các DN đã khó lại càng khó khăn hơn.
Có người cho rằng nền kinh tế Việt Nam đã xuống "đáy" nhưng là "đáy" chữ U, xuống "đáy" rồi nhưng không biết khi nào mới có thể lên được. “Theo tôi, kinh tế Việt Nam đang rơi vào vòng xoáy khó có thể thoát ra, đó là cầu giảm gây ra thất nghiệp tăng, thất nghiệp tăng lại làm cho cầu giảm”, ông Kim nhận xét.
Tái cơ cấu kinh tế chậm
Nếu không có các chính sách đột phá, kinh tế sẽ còn khó khăn trong nhiều năm tới. Chính sách cần làm, theo ông Kim, trước hết phải tăng đầu tư. Đầu tư sẽ tạo ra việc làm, mang lại thu nhập cho người lao động, lợi nhuận cho DN, qua đó sẽ nâng nguồn cầu. Ngoài đẩy mạnh đầu tư công bằng nguồn vốn ngân sách thì phải thúc đẩy các DN đầu tư. Để DN tiếp cận được vốn trong tình hình hiện nay, không có cách nào khác là Chính phủ phải đứng ra bảo lãnh để các DN tốt, dự án tốt được vay vốn.
kinh tế, vòng xoáy, khó khăn, gói 30.000 tỷ, VAMC, đáy, vốn, việc làm, tái cơ cấu.
Chuyên gia kinh tế Phạm Nam Kim
Ngoài ra, có thể kích thích bằng kích cầu bất động sản, nhưng chính sách phải khác, chẳng hạn dành cho tất cả người có nhu cầu mua nhà ở, không giới hạn diện tích và giá tiền, lãi suất ổn định và thời gian cho vay kéo dài đến 30 năm.
Trên thế giới, một số nước có chính sách dành cho người dân mua nhà được vay tới 30 năm, thậm chí có nơi 100 năm như Thụy Sỹ. Như vậy việc trả tiền vay gốc sẽ rất thấp, chỉ phải lo lãi suất. Khi thị trường bất động sản khơi thông sẽ kéo nhiều ngành sản xuất phát triển theo như vật liệu xây dựng, thiết bị nội thất, đồ dùng gia đình, học tập, thiết bị thông tin liên lạc, thiết bị điện, điện tử, giải trí... góp phần tạo cầu tăng.
Vế tái cơ cấu nền kinh tế, theo ông Kim, diễn ra quá chậm. Chạy theo kinh tế ảo, nhưng từ năm 2011, Việt Nam là quốc gia độc nhất trên thế giới mạnh dạn đưa ra chính sách tái cấu trúc nền kinh tế, được đánh giá cao. Tuy nhiên, quá trình này diễn ra chậm. Tái cơ cấu ngân hàng và DN nhà nước tiến triển rất chậm và không như mong đợi. Đề án tái cơ cấu nền kinh tế thì quá dàn trải cho tất cả các ngành và tất cả các địa phương, không thấy đâu là mũi nhọn. Có thể nói Đề án tái cơ cấu nền kinh tế đã không nắm bắt được hướng đi dựa trên những lợi thế và tạo ra sự khác biệt của riêng Việt Nam.
Với đề án như hiện nay thì thực hiện sẽ ít đem lại hiệu quả, bởi tất cả vẫn dựa trên ý chí và mong muốn chủ quan hơn là trên cơ sở thực tiễn.
Nếu đề án tốt thì thời gian qua, Việt Nam đã thu hút được rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài và đây là nguồn vốn quý để phát triển kinh tế trong lúc khó khăn. Song, họ đến, đã hy vọng rồi thất vọng khiến đầu tư càng giảm trong giai đoạn này, tăng trưởng lại càng khó khăn.
Hiện tại vẫn chưa nhìn thấy kinh tế Việt Nam sẽ thoát "đáy" hay thoát khỏi vòng xoáy bằng cách nào.
Trần Thủy(ghi)

Tự sướng: Chúng ta sẽ có nhà máy in tiền tầm khu vực

Đến năm 2020 chúng ta có nhà máy in tiền lớn tầm khu vực
Đó là phát biểu của Phó thống đốc NHNN Đào Minh Tú tại lễ khởi công Dự án NH 09, một dự án thành phần của Dự án đầu tư phát triển mở rộng Nhà máy in tiền Quốc gia giai đoạn 2009 – 2020, ngày 4/8/2013 tại Hà Nội.

Phó thống đốc Đào Minh Tú
Đây là dự án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt về chủ trương vào tháng 5/2009, sau đó Thống đốc NHNN đã phê duyệt dự án đầu tư vào tháng 1/2011. Tổng mức đầu tư của Dự án NH 09 là 606 tỷ đồng, bằng nguồn vốn NSNN và nguồn vốn đầu tư phát triển của Nhà máy in tiền Quốc gia.

Dự án NH 09 bao gồm các hạng mục đầu tư mở rộng nhà xưởng, trang bị thiết bị ở khâu hoàn thiện sản phẩm, góp phần nâng cao năng lực sản xuất, từng bước đồng bộ hóa hiện đại công nghệ in tiền. Nhà máy in tiền Quốc gia cũng bổ sung thêm một số thiết bị đảm bảo năng lực sản xuất đáp ứng được nhiệm vụ in tiền của NHNN. Dự kiến Dự án NH 09 hoàn thành vào cuối năm 2014 và bàn giao cho Nhà máy in tiền Quốc gia chính thức vận hàng vào đầu năm 2015.

Phát biểu tại Lễ khởi công, Phó thống đốc NHNN Đào Minh Tú cho biết, đây là dự án hết sức quan trọng không chỉ riêng với ngành Ngân hàng mà còn mang ý nghĩa của Quốc gia.

Nhà máy in tiền Quốc gia hiện tại đã hoạt động hơn 20 năm qua, do đó, tất cả điều kiện vật chất, nhà cửa, kho tàng, thiết bị đã xuống cấp. Vì vậy, việc mở rộng, phát triển và xây dựng mới đối với nhà máy là hết sức cấp thiết, nhằm đảm bảo an toàn trong sản xuất, góp phần đảm bảo an ninh tiền tệ của Quốc gia.

Lễ khởi công Dự án NH 09

NHNN có 2 dự án quan trọng là Dự án NH 09 khởi công hôm nay nhằm nhanh chóng có ngay cơ sở vật chất đủ điều kiện, đảm bảo an ninh, an toàn tiền tệ cấp bách trong những năm trước mắt. Sau đó, đến năm 2020, ngành Ngân hàng sẽ hoàn thành xây dựng nhà máy in tiền lớn hơn, với tầm cỡ khu vực. Dự án này được tiến hành triển khai tại khu Láng Hòa Lạc (Hà Nội).

“Để đảm bảo an toàn, an ninh, tôi đề nghị thì tất cả các đơn vị liên quan, trong đó có Bộ Công an, đơn vị thi công phối hợp, đảm bảo chất lượng, nhanh, an toàn bảo mật, an ninh của một công trình quốc gia.” Phó thống đốc Đào Minh Tú đề nghị.

Tin, ảnh: Quang Cảnh

Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ 1990-2002

Bài viết cũ của tôi:
MỘT SỐ Ý KIẾN VỀ BÁO CÁO: "ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐIỀU HÀNH CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM TỪ NĂM 1990 ĐẾN NĂM 2002"

           Trước hết, tôi chân thành cám ơn ban tổ chức đã tin tưởng giao cho tôi phản biện báo cáo "Thực trạng điều hành chính sách tiền tệ 1990-2002" của Ngân hàng NN Việt Nam". Đây là một công trình nghiên cứu toàn diện, công phu về một lĩnh vực khó và nhạy cảm của nền kinh tế, do đó việc đánh giá, nhận xét đòi hỏi phải có nhiều thời gian nghiên cứu sâu. Do thời gian nghiên cứu và nguồn thông tin về lĩnh vực này hạn hẹp, tôi chỉ xin đưa ra một số ý kiến dưới đây theo quan điểm cá nhân, không phản ảnh quan điểm của cơ quan công tác.
          Báo cáo gồm 22 trang, chia làm 2 phần lớn. Phần 1 đánh giá những mặt được cơ bản của nền kinh tế, trong đó tác giả xem xét tình hình qua 2 nội dung chính của chính sách tiền tệ là mục tiêu của chính sách tiền tệ và sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ. Trong phần 2, tác giả đề cập đến một số yếu kém, bất cập trong thực thi chính sách tiền tệ hiện nay. Như vậy, bố cục báo cáo đơn giản và phù hợp với lô gíc tự nhiên. Đi sâu vào tìm hiểu chi tiết, tôi cơ bản nhất trí với các nhận định, đánh giá thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của tác giả nêu ra. Vì vậy, dưới đây tôi không nhắc lại những điểm nhất trí mà chỉ tập trung nêu một số vấn đề cần bàn bạc làm rõ hơn.
          1) Về sự phù hợp của mục tiêu của chính sách tiền tệ với tình hình và yêu cầu phát triển kinh tế đất nước
          1.1) Tác giả đã xem xét tiến triển mục tiêu của chính sách tiền tệ (CSTT) qua 3 thời kỳ. Thời kỳ đầu từ năm 1989 đến 1991 được coi là những năm đầu xây dựng cơ sở cho việc hình thành khuôn khổ của chính sách tiền tệ; khi đó, chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) chưa hình thành mà chỉ đang trong quá trình phôi thai. Tuy nhiên, tác giả cũng cho rằng NHNN đã xác định rõ ràng mục tiêu của CSTT là chống lạm phát và ổn định giá trị đồng tiền, ổn định tỷ giá.
          Tôi hoàn toàn nhất trí với nhận định của tác giả rằng CSTT lúc đó còn phôi thai. Tuy nhiên, tôi cho rằng đó vẫn thực sự là CSTT với mục tiêu, nguyên tắc xử lý để đạt mục tiêu và các công cụ cần được sử dụng... đều rất rõ ràng. Thậm chí, chúng ta còn chủ động thay đổi công cụ điều hành CSTT khi công cụ đang sử dụng không đạt hiệu quả mong muốn. Cụ thể là:

          a) Về mục tiêu: giảm tỷ lệ lạm phát, góp phần ổn định kinh tế.
          Tuy nhiên lúc này không đặt ra vấn đề ổn định tỷ giá mà NHNN đã thực hiện chính sách tự do hoá tỷ giá (cùng với tự do hoá các hoạt động ngân hàng, kinh doanh tiền tệ).

          b) Về nguyên tắc xử lý: đi theo tiếp cận tân cổ điển, cụ thể là thuyết trọng tiền của M. Friedman, F. Hayek và các nhà kinh tế trọng tiền khác, theo đó phải sử dụng chính sách tiền tệ chặt ổn định để chống lạm phát; trong đó điểm then chốt là hạn chế tỷ lệ tăng trưởng tổng cung tiền tệ. Như vậy, tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ là mục tiêu trung gian của chính sách tiền tệ.

          c) Về sử dụng công cụ: Công cụ cơ bản đầu tiên được sử dụng là chính sách lãi suất thực dương và cao để thu hút tiền về hệ thống NH. Tuy nhiên, như mọi người đều thấy, chính sách lãi suất cao trong bối cảnh tự do hoá tài chính quá mạnh lúc đó đã nhanh chóng dẫn đến hiện tượng đầu cơ tiền tệ qui mô lớn, hậu quả là bùng nổ khủng hoảng tiền tệ và tín dụng năm 1990, hoàn toàn phù hợp với lập luận lý thuyết của Mc. Kinnon. Thất bại của chính sách lãi suất cao cũng vạch ra một trong những điểm yếu cơ bản của chính sách tiền tệ lúc đó: Lạm dụng công cụ của chính sách tiền tệ Keynes trong bối cảnh tự do hoá tài chính quá mạnh và lạm phát do nguyên nhân tiền tệ.

          - Vì hiệu quả của chính sách lãi suất cao giảm rõ rệt trong khi tác hại của nó ngày càng cao, nên nó được thay thế bằng công cụ thứ hai: Kiểm soát chặt chẽ cung tiền tệ M2. Tỷ lệ tăng trưởng cung tiền tệ M2 năm 1990 chỉ còn 53,1% so với 188,8% năm 1989.

          - Từ năm 1990-91, chính sách tiền tệ Việt nam dựa hoàn toàn vào học thuyết trọng tiền. Ngân hàng trung ương chấp nhận lãi suất thực âm, chỉ tập trung vào kiểm soát cung tiền tệ. Hậu quả là tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ giảm tiếp từ 53,1% năm 1990 xuống còn 33,7% năm 1992, 27,2% năm 1993. Ngược lại, lãi suất thực tụt xuống dưới 0, âm trong hầu hết các tháng của hai năm 1990-91 và trong nhiều tháng của những năm tiếp theo.

            d) Về phương thức kiểm soát cung tiền tệ lúc đó dựa vào 2 điểm chính:
+ Xác định khối lượng tiền tệ cần bổ sung hàng năm, theo nguyên tắc đồng thời thoả mãn đủ nhu cầu phương tiện thanh toán của nền kinh tế và kìm hãm lạm phát dưới một tỷ lệ mong muốn. Tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ được xác định theo công thức sau:
                             m  = p*  +  g  -  v
trong đó hai chỉ tiêu tỷ lệ tăng trưởng kinh tế g và tỷ lệ lạm phát dự kiến p* đã được Quốc hội quyết định, Ngân hàng trung ương phải dự báo tốc độ thay đổi vòng quay tiền tệ v để tính toán ra m và sau đó thực hiện quá trình phát hành tiền vào lưu thông.

+ Khối lượng tiền tệ tăng thêm này sẽ được sử dụng vào ba mục đích: Tăng tổng tín dụng cho nền kinh tế, cho ngân sách nhà nước vay và mua ngoại tệ để tăng dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng trung ương.
Phần tiền tệ dành cho mục tiêu mua ngoại tệ phụ thuộc vào biến động hàng quý của cán cân thanh toán quốc tế. Vì Ngân hàng Nhà nước thực hiện chính sách tỷ giá thả nổi nên về nguyên tắc, có thể dễ dàng kiểm soát phần cung tiền tệ vì mục tiêu này. Tuy nhiên, trong thực tế, Ngân hàng Nhà nước đã tỏ ra hoàn toàn bị động và chạy theo xu hướng đầu cơ ngoại tệ trên thị trường, nên khi tỷ giá thị trường bị giới đầu cơ đẩy lên quá cao, mặc dù không phản ánh đúng bản chất của nền kinh tế và cân bằng cung cầu ngoại tệ, nhưng NHNN vẫn cung tiền rộng rãi để đáp ứng, dẫn tới đồng tiền Việt Nam vừa bị mất giá ngày càng nhanh so với ngoại tệ, vừa thừa nội tệ trong lưu thông và gây lạm phát cao trở lại trong 2 năm 1990-1991 (khoảng 67,5%/năm).
Mục đích thứ hai là để thực hiện điều 29 của Pháp lệnh Ngân hàng nhà nước năm 1990, theo đó Nhà nước có quyền vay Ngân hàng trung ương. Cuối cùng, về mục đích tín dụng, Ngân hàng trung ương căn cứ vào tỷ lệ tăng trưởng kinh tế và tỷ lệ lạm phát dự kiến để tính toán tổng tín dụng cần thiết cho nền kinh tế và tổng lượng tiền cần cấp cho các ngân hàng thương mại cung như qui định hạn ngạch tín dụng cho từng loại ngân hàng thương mại.

          1.2) Thời kỳ thứ 2 từ năm 1992 đến 1995. Tác giả coi đây là giai đoạn CSTT bắt đầu được hình thành với mục tiêu cuối cùng là ổn định tiền tệ, mục tiêu trung gian là kiềm chế khối lượng tiền tệ tăng thêm. Bên cạnh mục tiêu riêng đó, CSTT đã có thêm mục tiêu góp phần đảm bảo tỷ lệ tăng trưởng kinh tế theo kế hoạch Quốc hội thông qua.
          Tôi nhất trí với đánh giá trên của tác giả. Nhờ theo đuổi một chính sách tiền tệ khá chặt nên đã đem lại những kết quả mong đợi: Kết thúc lạm phát nguồn gốc tiền tệ, hệ thống kinh tế trở nên trong sạch và khoẻ mạnh, dự báo chính xác hơn và quyết định hợp lý hơn, và cuối cùng phục hồi được sản xuất, tăng việc làm với lạm phát ổn định trung bình khoảng 13% từ 1992 đên 1995. Chính trên cơ sở những thành tích này mà Ngân hàng Trung ương đã quyết định tiếp tục chính sách tiền tệ chặt cho giai đoạn sau năm 1995.

          Tuy nhiên tôi cho rằng nếu xem xét sự phù hợp của mục tiêu của chính sách tiền tệ với tình hình và yêu cầu phát triển kinh tế đất nước như tác giả đặt vấn đề thì có thể nói CSTT trong giai đoạn này đã không theo kịp tình hình nên dần dần trở nên quá chặt, chưa thực sự phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế đất nước, kìm hãm tốc độ tăng trưởng đầu tư, tăng trưởng tổng cầu và tăng trưởng kinh tế so với tiềm năng, đồng thời gây ra hiện tượng đô la hoá quá nhanh nền kinh tế và đẩy nềnkinh tế từ phát triển hướng ngoại sang hướng nội. Cũng do duy trì CSTT chặt quá dài, tỷ lệ lạm phát năm 1996 tụt xuống còn 4,5% năm 1996, 3,6% năm 1997...[2] trong khi nền kinh tế thiếu nghiêm trọng tín dụng nội địa phục vụ phát triển. Chúng ta đều thấy hiện tượng phi cân bằng tiền tệ này đã diễn ra khắp nơi trong nền kinh tế những năm 1992-93, nổi bật là những khan hiếm tiền tệ cho thanh toán giao dịch và cho tích luỹ vốn. Ngân hàng Nhà nước khi đó đã phải phát hành ngân phiếu để sử dụng thay tiền nhưng không phải là tiền[3].

Tình hình phi cân bằng tiền tệ nêu trên đã dẫn đến hai khả năng: Hoặc nhu cầu tích luỹ vốn của dân cư và tỷ lệ đầu tư, tăng trưởng kinh tế bị chặn lại, hoặc NHNN phải nới lỏng chính sách tiền tệ chặt, nghĩa là phải lựa chọn giữa tăng trưởng kinh tế nhanh (tăng cung tiền tệ để tăng tích luỹ và đầu tư) và ổn định trì trệ (chính sách tiền tệ chặt). Do tâm lý lo ngại không kiểm soát được tình hình nếu thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng nên NHNN cố tình duy trì CSTT chặt.

Tuy nhiên, dù lựa chọn mục tiêu gì, thì đến giữa năm 1994, NHNN cũng đã phải thừa nhận chính sách tiền tệ chặt đã làm cho những phi cân bằng tiền tệ ngày càng trở nên rất trầm trọng, do đó đã phải nới lỏng chính sách tiền tệ chặt. Tỷ lệ tăng trưởng tiền tệ năm 1994 tăng lên gấp đôi so với năm 1993; tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với một số loại tiền gửi được điều chỉnh giảm xuống, đồng thời khung lãi suất cũng được mở rộng...

Tiếc thay, ngay từ giữa năm 1995, khi tình hình căng thẳng tiền tệ vừa giảm và trước một vài biến động  không lớn của giá cả, Ngân hàng Nhà nước đã vội vàng quay ngay trở lại chính sách tiền tệ chặt chính thống thông qua hàng loạt biện pháp mạnh như giảm tỷ lệ tăng trưởng cung tiền tệ, hạn chế tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại (hạn ngạch), tăng cường chính sách tín dụng tuyển chọn và buộc các ngân hàng thương mại cổ phần phải mua trái phiếu với lãi suất thấp (0,7%/tháng) để giảm tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của khu vực tư nhân... Các biện pháp này đã làm giảm hiệu quả hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại (vì nhiều ngân hàng phải giữ trong két hàng tỷ đồng không cho vay trong khi vẫn phải trả lãi cho người gửi, các ngân hàng vẫn không được phép từ chối không nhận tiền gửi) và làm tăng lãi suất cho vay của cả khu vực ngân hàng nhà nước lẫn khu vực ngân hàng tư nhân để bù đắp. Hậu quả là lãi suất cho vay đã tăng lên rất nhanh, thậm chí cao hơn nhiều so với lãi suất trần được qui định trong quyết định 184 QĐ/NH của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt nam tháng 9/1993. Đặc biệt, lãi suất cho vay trong khu vực tư nhân có lúc lên tới 50-80%/năm hoặc hơn.

Trong bối cảnh thiếu nghiêm trọng tín dụng nội địa, từ năm 1992, các nhà đầu tư nội địa đã phải xoay xở tìm kiếm con đường khác để huy động vốn cần thiết, trong đó họ rất chú trọng tới nguồn vốn từ nước ngoài, trước tiên là huy động tiền của bà con, anh em ở nước ngoài (việt kiều). Tiếp đó, sự tăng lên rất nhanh của xuất khẩu dầu thô và vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp, sự trở lại của nguồn vốn viện trợ ODA và nhất là chấm dứt cấm vận tài chính của Mỹ đối với Việt nam đã làm tăng rất mạnh khối lượng ngoại tệ trên thị trường Việt nam. Để đối phó với tình trạng thiếu hụt nội tệ do CSTT chặt gây ra, người ta đã sử dụng trực tiếp ngoại tệ trong hoạt động giao dịch, thanh toán, điều này kéo theo một cách tự phát và không thể tránh khỏi hiện tượng gia tăng tích luỹ và đô la hoá rất cao trong nền kinh tế Việt nam, thể hiện bằng tỷ lệ tăng trưởng cung ngoại tệ cao hơn nhiều so với tỷ lệ tăng trưởng cung nội tệ. Và vì cố tình duy trì một CSTT chặt nên NHNN đã phải nhắm mắt làm ngơ trước hiện tượng đô la hoá nền kinh tế bùng phát mặc dù đã có quy định cấm mua bán ngoại tệ và cấm sử dụng ngoại tệ trong giao dịch, thanh toán.

Ngân hàng Nhà nước đã hy vọng rằng luồng vốn nhập khẩu từ nước ngoài sẽ cho phép nâng cao tỷ lệ đầu tư nội địa và đồng thời ổn định được tỷ giá, chiếc neo mà Ngân hàng Nhà nước cố gắng duy trì để đẩy lùi lạm phát. Ý tưởng này rất đúng nếu như lượng nội tệ cung ứng đáp ứng đủ nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ thành nội tệ để đầu tư (tức là CSTT phải được nới lỏng) và luồng vốn đầu tư nước ngoài phải được sử dụng để nhập khẩu công nghệ mới, các máy móc thiết bị tiên tiến và các vật tư cần thiết phục vụ cho chiến lược phát triển hướng về xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh quốc tế của hàng nội địa và khai thác các tiềm năng phát triển phong phú của đất nước.

Tuy nhiên, lý thuyết và thực tế đã không diễn ra như vậy. Như nhiều lý thuyết kinh tế và nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra, chiến lược phát triển dựa vào vốn nước ngoài có nguy cơ dẫn đến khủng hoảng mới vì hai lý do: Một là, đầu tư nước ngoài có xu hướng làm giảm tỷ lệ tích luỹ và đầu tư nội địa và làm tăng tiêu dùng nội địa ngoài tầm kiểm soát, tức là có sự thay thế giữa hai dạng vốn trong và ngoài nước. Hai là, vốn đầu tư nước ngoài thường dẫn đến đánh giá cao nội tệ, làm cho hàng hoá sản xuất trong nước trở nên kém cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Bản thân NHNN lúc đó đã theo đuổi CSTT chặt nên không cung cấp đủ lượng tiền tương ứng với sự tăng lên của tiết kiệm, đầu tư và tăng trưởng kinh tế; do đó đã trực tiếp cản trở quá trình chuyển ngoại tệ thành nguồn vốn đầu tư tăng trưởng.

Hai hiện tượng trên đã diễn ra trong nền kinh tế Việt nam trong thời kỳ bùng nổ kinh tế 1992-96. Tỷ trọng đầu tư bằng nguồn vốn nội địa giảm nhanh trong khi tỷ trọng vốn nước ngoài tăng lên rất mạnh. Tiêu dùng nội địa cũng tăng lên rất mạnh. Đặc biệt, nội tệ đã bị đánh giá cao so với ngoại tệ và ngày càng ảnh hưởng bất lợi tới quá trình tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế vì một mặt làm giảm lợi thế so sánh quốc tế của khu vực hàng thương mại quốc tế được (tradable sector), mặt khác mở ra những khó khăn ngày càng gay go cho sự phát triển của các ngành công nghiệp quan trọng sống còn của đất nước bởi vì chúng luôn luôn phải chịu đựng sự cạnh tranh rất mạnh của hàng hoá nhập khẩu, nhất là hàng nhập khẩu bất hợp pháp.

Hậu quả của CSTT chặt và đánh giá cao nội tệ đã đi xa hơn. Dưới áp lực cạnh tranh rất mạnh và bất bình đẳng của hàng nhập khẩu do chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá gây ra, các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đã chuyển vốn của mình từ khu vực làm hàng thương mại quốc tế được sang khu vực làm hàng không thương mại quốc tế được (non tradable sector), như bất động sản (tạo ra giai đoạn bùng nổ xây dựng), thương mại, dịch vụ và du  lịch... Xu hướng này đã kéo theo sự tăng lên rất nhanh của giá đất đai, dịch vụ, bất động sản, tiền lương so với giá cả các sản phẩm khác như chúng ta đã chứng kiến. Rõ ràng một quá trình di chuyển vốn, vật tư, lao động và các nguồn lực khác như vậy đã làm sai lệch phương hướng phát triển dài hạn của nền kinh tế quốc gia, vừa tạo ra một cơ cấu kinh tế ngày càng hướng nội, vừa làm giảm sút khả năng cạnh trạnh quốc tế, làm tăng thất nghiệp, và như chúng ta đều thấy, làm giảm dần tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đã giảm sút ngay từ năm 1996, trước khi cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực châu á xảy ra và 1 năm sau khi thắt chặt tiền tệ trở lại.

Như vậy, thất bại của cuộc tự do hoá hệ thống tài chính quá nhanh năm 1989-90 đã làm cho NHNN Việt Nam đến tận hôm nay vẫn tỏ ra rất thận trọng trong mỗi bước thực hiện CSTT và tự hoa hoá tài chính, trong đó có tự do hoá các hoạt động ngân hàng và tín dụng. Vì vậy, tiến trình cải cách hệ thống tài chính từ năm 1991 đã diễn ra rất chậm và bị cuốn theo sự phát triển của hệ thống thể chế, tăng trưởng kinh tế và hội nhập quốc tế, đồng thời ảnh hưởng rất tiêu cực tới quá trình tăng trưởng tự nhiên và định hướng chuyển dịch cơ cấu dài hạn của nền kinh tế.

Có thể nói trong hơn 10 năm đổi mới, trong khi tất cả các ngành kinh tế, xã hội đều phải không ngừng tự đổi mới, tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, đồng thời tăng cường mở cửa để tham gia cạnh tranh quốc tế thì riêng ngành ngân hàng hầu không có tiến bộ đáng kể mặc dù có sự ưu đãi to lớn của nhà nước. Bao cấp trong toàn hệ thống ngân hàng đến nay vẫn rất nặng nề; bao cấp không chỉ đối với các NHTM quốc doanh mà còn cả với các NHTM cổ phần. Hiệu quả tín dụng ngày càng thấp kém. Ngoài ra còn phải kể đến những yếu kém của CSTT và sử dụng các công cụ của CSTT như sẽ được phân tích dưới đây.

          1.3) Thời kỳ thứ 3 từ năm 1996 đến nay. Tác giả chia thời kỳ này làm 2 giai đoạn nhỏ, gồm giai đoạn tiếp tục chính sách tiền tệ chặt (1996 đến giữa 1999) và giai đoạn thực hiện CSTT nới lỏng thận trọng (từ giữa năm 1999 đến nay). Tôi đồng ý với tác giả về nhận định thời điểm chuyển đổi giữa 2 CSTT là vào giữa năm 1999 (quý II).
          Việc chuyển từ CSTT chặt sang CSTT nới lỏng đã đem lại kết quả rất tích cực. Cung và cầu nội địa đều tăng nhanh, nhất là cung và cầu đầu tư; nhờ đó đã góp phần quyết định làm cho tỷ lệ tăng trưởng GDP tăng mạnh, từ 4,8% năm 1999 lên 6,8% năm 2000 và tiếp tục tăng lên trong những năm gần đây.
          Như vậy, CSTT nới lỏng đã tỏ ra có hiệu quả rất rõ rệt; tiếc rằng nó được thực hiện quá muộn nên nhiều cơ hội phát triển đã trôi qua trong khi hậu quả để lại rất nặng nề cần nhiều thời gian mới sửa chữa được. Trong giai đoạn hiện nay, tôi tán thành với nhận định của tác giả cho rằng cần tiếp tục thực hiện CSTT mở rộng thận trọng, chủ yếu vì tôi cho rằng chất lượng, hiệu quả của hoạt động tín dụng đã tụt đến mức rất thấp[4]...
Với các phân tích trên, tôi cho rằng chỉ nên chia quá trình phát triển CSTT nước ta làm 2 giai đoạn chính: giai đoạn thực hiện CSTT chặt 1989-1998 và giai đoạn thực hiện CSTT nới lỏng thận trọng 1999-2003.

2) Về sử dụng các công cụ của chính sách tiền tệ
          Do mục tiêu của CSTT trong hơn một thập kỷ qua chủ yếu là kiểm soát lạm phát bằng CSTT chặt, ngay cả khi nới lỏng cũng rất thận trọng nên việc sử dụng các công cụ cũng theo xu hướng trên.

          2.1) Công cụ lãi suất:
          Tôi nhất trí với những đánh giá của tác giả về tiến trình kiểm soát lãi suất ở nước ta trong thời kỳ từ năm 1990 đến nay; đặc biệt là các đoạn đánh giá một số nhược điểm của chính sách lãi suất, gây ra những làn sóng chuyển dịch luồng tiền gửi từ VNĐ sang USD rồi lại từ USD sang VNĐ, hoặc cơ chế lãi suất trần kéo dài đã làm méo mó sự phân bổ nguồn vốn và hạn chế sự luân chuyển vốn trong xã hội, hạn chế sự cạnh tranh của các tổ chức tín dụng, hạn chế sự phát triển của các công cụ khác của CSTT, thậm chí cản trở huy động nguồn vốn đầu tư nước ngoài hoặc kích thích các tổ chức tín dụng chuyển nguồn vốn trong nước ra nước ngoài...
          Tuy nhiên, tôi cho rằng sẽ là thành công hơn nếu tác giả đi sâu phân tích tiến triển của lãi suất thực và chênh lệch giữa lãi suất cho vay thực và lãi suất huy động thực của nền kinh tế, thay vì chỉ xem xét tiến triển của lãi suất danh nghĩa. Thực tế, lãi suất thực mới phản ánh đúng tình trạng căng thẳng trên thị trường tiền tệ và thị trường vốn. Đáng tiếc là trong thực thi CSTT, NHNN chỉ chú ý đến các lãi suất danh nghĩa chứ ít khi chú ý tới các lãi suất thực (xem các báo cáo của NHNN), do đó đã liên tục xảy ra những căng thẳng (nóng hoặc lạnh) trên thị trường tiền tệ. Một số đặc điểm về tiến triển của lãi suất thực trong hơn 10 năm qua như sau:
          Trong giai đoạn đầu (1990-1991), lãi suất huy động thực và cho vay đều âm rất lớn (trừ lãi suất huy động thực năm 1990), đồng thời lãi suất huy động thực cao hơn lãi suất cho vay thực, trong khi năm 1989, cả hai lãi suất thực này đều dương rất lớn (khoảng 150% và 95%). Điều này phản ánh sự méo mó của cơ chế lãi suất, đồng thời cũng cho thấy chính sách tiền tệ dựa vào kiểm soát tiền tệ chứ không phải kiểm soát lãi suất.
          Trong giai đoạn thứ hai (1992-1998), các lãi suất thực đều dương và lãi suất cho vay cao hơn lãi suất huy động, đồng thời lãi suất thực có xu hướng giảm dần do tốc độ giảm lãi suất danh nghĩa nhanh hơn tốc độ giảm tỷ lệ lạm phát. Như vậy, chính sách lãi suất giai đoạn này phù hợp hơn, đã tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế.
          Trong giai đoạn thứ ba (1999-2001), các lãi suất thực lại tăng lên do tỷ lệ lạm phát giảm mạnh đột ngột trong khi lãi suất danh nghĩa giảm chậm. Chúng ta đều thấy trong giai đoạn này, tỷ lệ tiết kiệm, đầu tư không tăng hoặc tăng chậm, làm cho tỷ lệ tăng trưởng kinh tế tụt xuống mức thấp nhất trong giai đoạn kể từ năm 1990 đến nay.
          Trong giai đoạn thứ tư (2002-2003), các lãi suất thực lại có xu hướng giảm do lãi suất danh nghĩa giảm, đồng thời tỷ lệ lạm phát tăng lên (khoảng 4%/năm). Quá trình này cũng đi liền với sự tăng lên của tỷ lệ đầu tư và tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, mọi người đều biết, lãi suất thực hiện nay vẫn còn cao so với tỷ suất lợi nhuận của nền kinh tế.
          Như vậy, do chỉ chú trọng đến ổn định lãi suất danh nghĩa (mà thực ra là không cần thiết) trong khi không dự báo đúng tỷ lệ lạm phát nên lãi suất thực rất biến động, làm cho môi trường đầu tư không ổn định, ảnh hưởng bất lợi tới đầu tư dài hạn và tăng trưởng kinh tế.

          2.2) Công cụ dữ trữ bắt buộc
          Dự trữ bắt buộc là một trong những công cụ rất mạnh để điều tiết tổng cung tiền tệ trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta; tuy nhiên việc sử dụng công cụ này trong giai đoạn đầu rất kém vì chúng ta quá lạm dụng các công cụ trực tiếp của CSTT như hạn ngạch tín dụng, lãi suất, hệ thống NHTMQD... Chỉ đến những năm gần đây, khi quá trình tự do hoá kinh tế đã tiến được những bước khá dài và dưới sức ép của hội nhập quốc tế, NHNN mới buộc phải chuyển sang sử dụng các công cụ điều tiết gián tiếp, và khi đó vai trò của công cụ dự trữ bắt buộc mới thực sự được phát huy. Tôi hoàn toàn nhất trí với đánh giá của tác giả là đến nay dự trữ bắt buộc đã trở thành một trong những công cụ chủ yếu của CSTT.
          Tuy nhiên, tôi không đề cao vai trò của công cụ này trong giai đoạn hiện nay vì thực chất đây là một loại thuế đánh vào các hoạt động ngân hàng, do vậy, làm tăng chi phí hoạt động của chúng, làm tăng lãi suất cho vay và ảnh hưởng bất lợi tới đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Hiện nay đa số các nước công nghiệp và nhiều nước đang phát triển đã không còn sử dụng công cụ này trong điều hành CSTT.

          2.3) Nghiệp vụ chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở
          Có thể nói đến nay việc sử dụng 2 nghiệp vụ này còn rất yếu, hầu như không có vai trò gì đối với thực thi CSTT, trong khi ở các nước khác, chính đây mới là những công cụ mạnh nhất, quan trọng nhất.

Kết luận chung về chính sách tiền tệ:
Tóm lại, tôi nhất trí với tác giả là lãi suất là công cụ cơ bản để điều hành CSTT trong hơn 10 năm qua, trong khi vai trò của các công cụ điều tiết gián tiếp rất yếu. Tuy nhiên, bên cạnh công cụ lãi suất, cần phải kể đến nhiều công cụ quản lý trực tiếp khác có vai trò quan trọng không kém công cụ lãi suất, đáng kể nhất là hạn ngạch tín dụng, chính sách tín dụng lựa chọn, phát hành ngân phiếu, kỳ phiếu và đặc biệt là can thiệp thông qua chỉ đạo hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại quốc doanh. Chỉ đến khi những công cụ này không còn được phép sử dụng rộng rãi nữa thì NHNN mới tìm cách chuyển sang sử dụng các công cụ điều tiết gián tiếp.

Tiếc rằng do không có sự chuẩn bị chủ động từ trước nên đến nay NHNN vẫn tỏ ra rất bị động trước các biến động tiền tệ như các Báo cáo của NHNN cho thấy và như tác giả đã phân tích trong 10 trang cuối bản báo cáo. Điển hình là chưa xác định được cơ chế truyền tải của các chính sách của NHNN tới thị trường tiền tệ, thị trường vốn (trang 14), chưa xác định được độ trễ của các công cụ của CSTT (trang 16), sự yếu kém quá mức của bản thân thị trường tiền tệ và thị trường vốn (trang 21)... Khi mà cả cơ chế truyền tải và độ trễ còn chưa xác định được đồng thời đối tượng để áp dụng (thị trường tiền tệ, thị trường mở) còn rất yếu kém, phôi thai... thì CSTT bị động và kém hiệu quả là đương nhiên. Trong bối cảnh đó, việc kéo dài thắt chặt tiền tệ hoặc chỉ dám nới lỏng thận trọng khi sức ép của nền kinh tế đã quá lớn cũng là giải pháp tự nhiên; nhất là với một đội ngũ cán bộ ngân hàng luôn luôn lo sợ do đã trải qua nhiều đợt khủng hoảng tiền tệ trong những năm 1985-1990. Cũng do vậy, và do bị mất công cụ điều tiết trực tiếp nên khi lạm phát quá thấp hoặc khi lãi suất thực trở lên quá cao như đã xảy ra trong những năm gần đây, NHNN đã tỏ ra rất khó khăn trong việc thực hiện mục tiêu lạm phát 5% do Quốc hội đề ra[5] hoặc cắt giảm lãi suất thực.

Rất may là tình hình đáng lo ngại này mới chỉ diễn ra trong những năm từ 1998-1999 đến nay, khi mà nền kinh tế nước ta đang tăng trưởng thấp, cung lớn hơn cầu, tỷ lệ lạm phát quá thấp... nên chưa phát sinh hậu quả lớn. Tuy nhiên, để phòng ngừa tình trạng nguy hiểm bùng phát khi tăng trưởng kinh tế trở lên nóng hơn, NHNN cần đẩy nhanh tốc độ xây dựng các công cụ điều tiết trong chính sách tiền tệ của mình, đáp ứng yêu cầu thực thị một chính sách tiền tệ tích cực, chủ động, vì mục tiêu động viên đầu tư, tăng trưởng và ổn định lạm phát (tôi đặt vai trò của mục tiêu đầu tư, tăng trưởng lên trên vai trò của mục tiêu ổn định lạm phát). Đây mới là nhiệm vụ trung tâm của chính sách tiền tệ hiện nay chứ không phải là yêu cầu đòi sự độc lập của NHNN đối với Chính phủ. Một khi mà NHNN thực thi CSTT còn quá yếu kém như hiện nay thì càng trao cho NHNN sự độc lập thì NHNN càng không dám hành động vì lo sợ phải gánh chịu toàn bộ hậu quả do CSTT của mình gây ra.

          3) Về chính sách tỷ giá:
          Tôi xin nói thêm một chút về chính sách tỷ giá. Tại các nước phát triển, tỷ giá không phải là một công cụ của CSTT mà chỉ là một trong những chỉ tiêu (hay mục tiêu) mà chính sách tiền tệ phải chú ý đến, giống như tăng trưởng kinh tế hay cân bằng cán cân thanh toán quốc tế... vì trong các nước đó người ta chỉ sử dụng nội tệ để giao dịch, thanh toán. Đồng tiền ở các nước đó cũng đã được tự do chuyển đổi. Chỉ có ở một số ít nước như nước ta, do tỷ lệ đô la hoá nền kinh tế quá cao và ngoại tệ đã được sử dụng trực tiếp làm phương tiện thanh toán như nội tệ thì tỷ giá mới được xem là một công cụ (hoặc mục tiêu) của CSTT.

          Ở nước ta, việc sử dụng công cụ tỷ giá có quá nhiều vấn đề cần nghiên cứu sâu sắc và toàn diện. Tỷ giá danh nghĩa ở nước ta đã trải qua giai đoạn được thả nổi hoàn toàn (1989-1991) dẫn tới nội tệ bị mất giá nghiêm trọng (cuối năm 1991 đạt 14.500 đồng/ USD, và phải 10 năm sau mới quay lại mức này), đến chỗ bị kiểm soát quá chặt (1992-1997) và rồi được nới lỏng trong giai đoạn từ sau khủng hoảng tiền châu á, rồi lại được quản lý chặt trong vài năm gần đây... Hậu quả là nội tệ bị đánh giá cao như tác giả đã đánh giá, ảnh hưởng bất lợi tới tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tiếc rằng báo cáo viết về tỷ giá quá sơ sài và tôi không có thời gian nên không thể trình bày dài ở đây.

          Đáng tiếc là cũng như trong trường hợp lãi suất, NHNN trong điều hành chính sách tỷ giá chỉ chú trọng tới tỷ giá danh nghĩa mà hầu như không xét tới tỷ giá thực trong khi tỷ giá thực mới là công cụ để duy trì và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, đảm bảo sự cân đối dài hạn giữa giá cả hàng hoá trên thị trường trong nước và giá cả hàng hoá đó trên thị trường quốc tế[6].

Mặt khác, phương thức xử lý mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tỷ giá ở nước ta còn rất bất cập và đã kéo dài trong suốt một thập kỷ qua: Do tham vọng muốn kiểm soát đồng thời tỷ giá và tổng cung tiền tệ (qua đó thực hiện mục tiêu cuối cùng là ổn định lạm phát), NHNN đã tự mình làm méo mó CSTT và khó có thể có được cơ chế truyền tải CSTT đúng đắn và ổn định vì lý thuyết cán cân thanh toán quốc tế cũng như lý thuyết tiền tệ đã chỉ rõ muốn kiểm soát tỷ giá thì phải tự do hoá cung tiền tệ, hoặc ngược lại muốn kiểm soát cung tiền tệ thì phải tự do hoá tỷ giá; tức là không thể để hai biến này cùng ngoại sinh hoặc cùng nội sinh nhưng với 2 mục tiêu tính toán hoàn toàn độc lập nhau như NHNN mong muốn.




[1] TS. Lê Vit Đức, V Tng hp KTQD, B Kế hoch và Đầu tư, 18/11/2003.

[2] Tôi cho rng có nhiu nguyên nhân làm cho t l lm phát nước ta có th cao hơn so với trung bình của các nước có điều kiện tương tự. Đó là vì:
Mt là, nhà nước còn tiếp tc phi tăng giá các sn phm ca khu vc kinh tế nhà nước theo chương trình chuyn đổi sang kinh tế th trường để tăng thu ngân sách và gim bù l cho các doanh nghip đang sn xut các sn phm cơ bn phc v dân sinh như đin, nước nên giá c chung phi tăng. 
Hai là, do tính thi v ca ca mt s loi hàng hoá, nht là hàng lương thc thc phm, s còn xy ra nhng mt cân đối cung và cu thi v, làm cho mt bng giá b đẩy lên. 
Ba là, nh hưởng ca tăng giá trên th trường quc tế ti mt bng giá ni địa trong quá trình hi nhp và m ca ngày càng mnh. 
Bn là, cht lượng hàng hoá tăng lên khá nhanh trong nhng năm ci cách, ít nht cũng 5-7% mi năm vì khong 40-50% t l tăng trưởng ca nước ta có ngun gc t vn nhp khu t nước ngoài trong khi cht lượng sn phm ca khu vc này tăng lên rt nhanh do bi cnh cnh tranh ngày càng khc lit. Để tăng cht lượng sn phm, rõ ràng các doanh nghip trong nước phi tăng chi phí sn xut và đầu tư nên vic giá c tăng thêm 5-7% là hoàn toàn hp lý. 
Năm là, cn phi có mt t l lm phát nht định để kích thích tiêu dùng... Theo kinh nghim quc tế, t l này khong 2-3% hàng năm là hp lý.
T các phân tích trên, mt t l tăng giá 7-8% trong giai đon phát trin bình thường và khong 10% trong giai đon tăng trưởng cao là hp lý cho trường hp nước ta. Trên thc tế, trong giai đon kinh tế phát trin n định 1992-1998, t l lm phát trung bình ca ta là 9,6%/năm. Chúng ta còn thy trong nhng năm t l lm phát quá cao hoc quá thp, nn kinh tế đều có nhng biu hin không bình thường (tăng trưởng quá nóng hoc tăng trưởng quá chm). Chính vì vy, t l lm ch 3-4% là quá thp, gây nh hưởng rt tiêu cc ti tăng trưởng kinh tế.

[3] T gia năm 1993, NHNN đã đưa vào lưu thông các loi ngân phiếu vi mnh giá 5 triu, 1 triu và 500.000 đồng; thc cht đây là tin mt có mnh giá cao. Tuy nhiên, loi tin này có nhược đim ln là giá tr lưu hành ngn (3 tháng) và chi phí phát hành cao, nên có nhiu ý kiến đề ngh sm chm dt s dng loi tin này. Đáng tiếc là công c này đã được s dng kéo dài đến tn tháng 4 năm 2002 mi chm dt. Sau khi b ngân phiếu, NHNN yêu cu mi thanh toán các khon ln đều phi được thc hin qua tài khon; nhưng trong thc tế đã không làm được nhiu. Trước nhu cu khách quan ca cuc sng và sc ép ca hot động kinh tế, t 17/12/2003, NHNN đã đưa vào lưu thông loi tin có giá tr cao nht t trước đến nay là 500.000 đồng.

[4] Thc ra, đây chính là giai đon cn tiếp tc m rng chính sách ni lng tin t. Nhưng do cách điu hành méo mó hin nay ca NHNN làm cho phân b tín dng rt bt hp lý như hin nay, ví d như không cp tín dng cho nhng nơi s dng có hiu qu như doanh nghip tư nhân, nông nghip và nông thôn, mà ch chú trng cp tín dng cho các doanh nghip nhà nước; hoc tiếp tc cho các DNNN thua l vay để nuôi con n; hoc c tình cho vay không tính đến hiu qu kinh tế để thu li cá nhân..., thì thà không m rng CSTT còn hơn càng m rng, càng kém hiu qu và càng có nguy cơ dn ti khng hong toàn din h thng ngân hàng.

[5] Ch s giá tiêu dùng 2 năm 2002-2003 tăng lên ch yếu do tăng giá nông sn thế gii và chiến tranh I Rc; đây là nhng nguyên nhân bên ngoài.

[6] Vì t giá là công c để chuyn h thng giá trong nước thành giá quc tế và ngược li.