Showing posts with label kinh tế thế giới. Show all posts
Showing posts with label kinh tế thế giới. Show all posts

Wednesday, August 14, 2013

Truy tìm Tên & Tài sản của các lãnh đạo...

Truy tìm Tên & Tài sản của các lãnh đạo...
Việc “thua lỗ“ từng tiền tỉ đô-la của những Tập đoàn Kinh tế nhà nước là chủ ý ăn cướp của chung thành của riêng. Nhà nước chỉ xử và kết tội như cách chức, thuyên chuyển.
Đối với dân, điều quan trọng không phải là những tên ăn cướp đó mất chức hay bị thuyên chuyển, mà chính là phải tìm ra những tiền ăn cướp đó nằm ở đâu để hoàn trả lại cho dân vì đó là tài sản của quốc gia và do tiền đóng thuế của dân.
Những tên lãnh đạo ăn cướp đó tìm mọi cách để chuyển tiền ăn cướp ra nước ngoài cất giấu. Làm thế nào tìm ra xem chúng cất giấu ở đâu để có thể thâu hồi lại cho dân.
Việc truy tìm này không phải là dễ dàng vì chính các Ngân Hàng giữ BÍ MẬT NGÂN HÀNG không tiết lộ ra.
TUẦN VỪA RỒI, MỘT DỊP MAY MẮN XẨY RA, đó là cuộc họp G8 tại Ái Nhĩ Lan đặt chính yếu vấn đề phế bỏ BÍ MẬT NGÂN HÀNG. Các Nguyên thủ của G8 đồng ký một Quyết Định đòi hỏi THÔNG TIN TỰ ĐỘNG NGÂN HÀNG (Informations automatiques bancaires) đối với những người nước ngoài chuyển tiền cất giữ tại một Ngân Hàng nước khác.
Nhật báo TRIBUNE DE GENEVE ngày 19.06.2013, trang 3, đã tóm tắt Quyết Định này mà chính Hoa kỳ đang đòi hỏi Thụy sĩ phải thực hiện:
“La loi FACTA, pour “Foreign Account Tax Compliance Act“, implique que les établissements financiers (banques, fonds de placement ou simples fiduciaires) déclarent au fisc américain les avoirs de leurs clients américains, quel que soit leur pays de résidence. En résumé, la loi américaine s’étendra partout dans le monde“ (Luật FACTA (Foreign Account Tax Compliance Act) hàm ngụ rằng những những cơ sở tài chánh (ngân hàng, quỹ đầu tư hay tổ chức lãnh chuyển di sản đơn giản) phải khai trình cho sở thuế Mỹ những tài sản của khách hàng Mỹ của mình cho dù những khách hàng ấy cư ngụ ở một nước khác. Tóm lại, Luật Hoa kỳ sẽ lan rộng ra mọi nơi trên khắp Thế giới).

Với Quyết Định như vậy của G8, người (...) ta có quyền đòi hỏi chính những Ngân Hàng thuộc G8 phải thực hiện THÔNG TIN TỰ ĐỘNG NGÂN HÀNG (Informations automatiques bancaires) để phải khai ra TÊN và TÀI SẢN của những lãnh đạo tham nhũng.

Tại Thụy sĩ, chúng tôi đã bắt đầu tham khảo với một Luật sư Thụy sĩ về tiến trình phải đấu tranh trong vấn đề này.


THÔNG TIN TỰ ĐỘNG TỪ NGÂN HÀNG: ĐẶT NGƯỢC LẠI VẤN ĐỀ CHO MỸ & G8

Cuộc Họp G8 mà chúng tôi trình bầy về quyết định chính yếu là THÔNG TIN TỰ ĐỘNG NGÂN HÀNG về những tài sản ký gửi của những công dân một nước cho Chính quyền nước ấy. Quyết định này sẽ được phổ quát hóa cho mọi nước trên Thế giới. Như vậy vấn đề BÍ MẬT NGÂN HÀNG sẽ không còn nữa.

Bí mật Ngân Hàng

Thực ra sự kín đáo về tài sản, tiền bạc là tính tự nhiên của mỗi người. Một trong những tính chất của Tiền tệ là khả năng tồn trữ trong thời gian. Việc tồn trữ này có mục đích bảo đảm tương lai, nhất là ở thời kỳ một cá nhân đã giảm hoặc mất khả năng làm ra tiền. Đối với những người làm được nhiều tiền, đến một mức nào đó, họ tìm cách cất giữ cho kỹ đồng tiền đã cực nhọc làm ra. Những người giầu thực sự, họ trở thành kín đáo. Ngay cả giữa vợ chồng, cũng có sự kín đáo cất giữ riêng tiền bạc này. Đối với súc vật, cũng có sự giấu cất kín đáo đồ ăn thu lượm được. Con sóc trong mùa có nhiều trái khô, ăn không hết, cũng mang cất giấu đồ ăn, lấy đất và lá phủ đi để lúc thiếu đồ ăn, đến đó tìm lại. Có lẽ chỉ những người không giầu có, lại muốn phô trương vòng vàng, khoe khoang tiền bạc tiêu pha để lòe thiên hạ.

Xem như vậy, vấn đề bí mật ngân hàng có cái nguồn gốc tự nhiên của nó thuộc về bản tính con người. Khi có tiền, nếu tự mình cất giữ không được bảo đảm an toàn, có thể ký thác gửi ở một người hay một tổ chức mà mình thấy an toàn hơn. Nếu người hoặc tổ chức được tín nhiệm ký thác giữ tiền mà đi rêu rao khắp thiên hạ về tên người đã gửi tiền, thì chắc chắn người này không hài lòng và sẽ rút tiền ra để đi gửi người khác hay một tổ chức khác cất giữ dùm và kín miệng hơn.

Chính vì tính tự nhiên của con người và việc kín đáo của người được ký thác giữ tiền mà dân chúng Thụy sĩ đã bầu phiếu quyết định về BÍ MẬT NGÂN HÀNG.
Tại sao G8 quyết định Ngân Hàng phải TỰ ĐỘNG nói toang ra tên người gửi tiền
Nhiều người dân bình thường đã cắt nghĩa đòi hỏi ồn ào này của G8 theo sự hiểu đơn giản của họ: 
- Gặp thời kỳ nợ công chồng chất tại mỗi nước, các Chính phủ G8 gặp khủng hoảng Ngân sách, đã tìm hết cách để moi ra tiền.
- Người ta thường than rằng tại Hoa kỳ, Luật sư đông như rươi. Mỹ nhiều Luật sư nhất Thế giới tính theo đầu người. Luật sư không sản xuất, nhưng sống với những khúc mắc của người khác. Cái bé xé ra to và càng to bao nhiêu thì Luật sư càng có việc làm và được thù lao cao. Luật LEX AMERICANA mà Hoa kỳ muốn áp đặt Quốc Hội Thụy sĩ phải bầu phiếu chấp thuận gồm đầy những lý do đe dọa trừng phạt tiền tỉ cho một số Ngân Hàng Thụy sĩ.
- Riêng về FACTA mà Bà Bộ trưởng Tài chánh Thụy sĩ Eveline WIDMER-SCHLUMPF đã ký kết và thảo luận tiếp với Hoa kỳ về chi tiết thực hiện, nhật báo TRIBUNE DE GEGEVE ngày 19.06.2013 đã viết ở trang 3 như sau:

“La loi FACTA, pour “Foreign Account Tax Compliance Act “, implique que les établissements financiers (banques, fonds de placement ou simples fiduciaires) déclarent au fisc américain les avoirs de leurs clients américains, quel que soit leur pays de résidence. En résumé, la loi américaine s’étendra partout dans le monde“ (Luật FACTA (Foreign Account Tax Compliance Act) hàm ngụ rằng những những cơ sở tài chánh (ngân hàng, quỹ đầu tư hay tổ chức lãnh chuyển di sản đơn giản) phải khai trình cho sở thuế Mỹ những tài sản của khách hàng Mỹ của mình cho dù những khách hàng ấy cư ngụ ở một nước khác. Tóm lại, Luật Hoa kỳ sẽ lan rộng ra mọi nơi trên khắp Thế giới).

Mộ số đảng của Thụy sĩ đang đe dọa đưa Luật này ra cho dân chúng bầu phiếu thuận hay không.

Trụ sở Ngân hàng Trung ương Thụy Sĩ

Đặt ngược vấn đề lại cho Mỹ và G8

Đã từ lâu, tiền từ những nước nhược tiểu, kém mở mang hay bắt đầu phát triển chuyển sang các Ngân Hàng Mỹ, Anh, Pháp… để cất giấu cho an toàn. Những nhà độc tài của Nam Mỹ, của Phi châu của cận đông, của Á châu ăn cướp tiền của dân, lấy tài sản quốc gia làm của riêng, đã chuyển những tiền đó về các Ngân Hàng thuộc G8 để cất giấu. Tài sản của Saddam Hussein có 5 tỉ Mỹ kim cất giấu ở Luân Đôn. Tài sản của Khadaffi, của Ben Ali, của Moubarak… cũng đã được cất giấu khắp nơi tại các Ngân Hàng thuộc G8.

Đây là những món tiền ăn cướp từ một xứ nghèo, còn nặng tội hơn nhiều sánh với những món tiền mà công dân Mỹ làm ăn công khai kiếm được, nhưng vì muốn tránh thuế cao mà chuyển đi nơi khác. Vậy nếu nhân danh trong sạch và trong sáng Ngân Hàng mà Mỹ đưa ra Luật FACTA, thì tại sao Mỹ và G8 không áp dụng đúng đắn Luật FACTA này để THÔNG TIN TỰ ĐỘNG cho những Chính phủ hoặc dân chúng của các nước nghèo biết TÊN những đứa độc tài, cướp của giết người của những nước nghèo đang gửi tiền ở những Ngân Hàng Mỹ hoặc của G8.
Nếu Mỹ và G8 muốn Luật FACTA lan rộng khắp Thế giới, thì Mỹ và G8 hãy đưa Luật này ra Liên Hiệp Quốc để các nước nghèo chính thức đòi buộc các Ngân Hàng Mỹ hoặc của G8 phải cho Chính phủ và dân chúng các nước nghèo biết Tên Tuổi những người Lãnh đạo tham nhũng thuộc các nước đó.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN
(xin lỗi GS là tôi đã cắt bỏ và chỉnh sửa một chút)

10 đồng tiền rẻ nhất thế giới

Hơi lạ khi vnexpress.net đưa tin này, ngang bằng trát phân vào mặt mấy đời Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trong đó có cả đương kim thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (27 tháng 6, 1998 – 27 tháng 6, 1999). Đau nữa là không thấy kíp Lào hay real Campuchia nằm trong danh sách các đồng tiền đáng xấu hổ này.
10 đồng tiền rẻ nhất thế giới
Bằng cách so sánh giá trị quy đổi của một đồng tiền ra bảng Anh, Telegraph cho rằng tiền Việt có giá thấp nhất khi 33.000 đồng mới đổi được một bảng.
Theo Telegraph, một xu (Anh) ngày nay chẳng mua được gì nhưng vẫn có giá hơn đồng tiền
Việt Nam. Nếu đổi ngang, khoảng 33.000 đồng mới bằng một bảng Anh (1,54 USD).
Xếp sau đó là đồng rupiah của Indonesia. Một bảng Anh đổi được 15.300 rupiah.
Giữ vị trí thứ 3 là tiền Columbia, 2.880 peso cho một bảng.
Tiền của Tazanian thấp hơn một chút so với Columbia. Mỗi bảng Anh có giá 2.500 shilling.
Một bảng Anh tương đương 1.730 won (đơn vị tiền của Hàn Quốc).
Dưới mốc 1.000 là tiền của Chile với 760 peso đổi một bảng.
Có giá trị gần bằng một nửa peso Chile, tiền forint của Hungary được đổi với tỷ giá 350 đồng
cho một bảng.

Rupee của Pakistan có tỷ giá 152 đồng ăn một bảng.


Bạn cần 135 shilling Kenya để đổi lấy một bảng.


Trong danh sách của Telegraph, tiền yen của Nhật là đồng có giá trị nhất so với
bảng Anh, 126 yen tương đương một bảng.

Theo Phương Linh (VnExpress.net)

Kinh tế Trung Quốc hạ cánh nặng nề: Nhiều nước âu lo

Kinh tế TQ hạ cánh đã làm khối nước âu lo. Do đó lúc nó phá sản thì hậu quả tàn phá còn khủng khiếp hơn. Tuy nhiên cũng đừng quá lo vì sau đó thế giới sẽ rũ bùn, đứng dậy sáng lòa. Đồng thời nguy cơ bành trướng của TQ cũng giảm hẳn, đây mới là hậu quả tích cực của sự sụp đổ của TQ.

Kinh tế Trung Quốc hạ cánh nặng nề : Nhiều nước âu lo
Cảng container Doanh Khẩu, Liêu Ninh. 
Ảnh chụp 9/08/ 2013. (REUTERS/Stringer)
Sau nhiều đợt báo động liên tiếp, gần đây nhất là của tập đoàn ngân hàng Pháp Société Générale, về khả năng suy trầm sắp tới của nền kinh tế Trung Quốc, ngày 08/08/2013 vừa qua, công ty thẩm định tài chánh quốc tế Standard & Poor's vừa loan tin : Nếu Trung Quốc "hạ cánh nặng nề" với tốc độ tăng trưởng chỉ còn là 5% một năm, thì sẽ khiến nền kinh tế của Úc bị suy trầm và thất nghiệp tăng vọt lên mức 10%. Theo giới phân tích, trong kịch bản đó, không chỉ có Úc, mà nhiều quốc gia khác cũng chịu tác động.

Phải nói là sau nhiều thập niên tăng trưởng vượt bậc, kinh tế Trung Quốc đã bắt đầu có dấu hiệu co thắt, và lãnh đạo mới của nền kinh tế đứng hạng nhì thế giới đã phải điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng là 7,5% trong năm nay (2013) và 7% trong mấy năm tới.

Thế nhưng giới quan sát kinh tế quốc tế cho rằng đà tăng trưởng ấy vẫn còn cao so với thực tế, và một kịch bản « hạ cánh nặng nề - hard landing » có thể xảy ra. Trong trường hợp đó, hiệu ứng suy trầm của Trung Quốc có thể lan rộng ra nhiều xứ khác, kể cả Úc hay Việt Nam.

Phân tích của Standard & Poor's chỉ tập trung vào trường hợp nước Úc vì lẽ Bắc Kinh là đối tác thương mại chủ chốt của Canberra, chuyên mua các loại khoáng sản, nguồn xuất khẩu chính của Úc. Trong nghiên cứu của mình, S&P đã dự trù ba kịch bản cho nền kinh tế Trung Quốc, và các tác động có thể có trên nền kinh tế Úc.

Kịch bản thứ nhất gọi là « trường hợp căn bản – base case », có nghĩa là kinh tế Trung Quốc tăng trưởng theo tỷ lệ 7,3% trong tài khóa 2013, gần đúng với ước tính của chính quyền Bắc Kinh. Trong trường hợp này, kinh tế Úc sẽ chỉ đạt tăng trưởng 2,5% trong năm 2013, và 2,9% năm 2014, còn tỷ lệ thất nghiệp lần lượt ở mức 5,7% và 6%.

Kịch bản thứ hai là « hạ cánh trung bình – medium landing », tức là tăng trưởng Trung Quốc giảm manh hơn, chỉ đạt 6,8%. Hệ quả đối với Úc sẽ là một tỷ lệ tăng trưởng 2,1% cho năm 2014 và một mức thất nghiệp 6,5%.


Kịch bản tệ hại nhất gọi là « hạ cánh nặng nề - hard landing », với GDP của Trung Quốc bất ngờ chỉ tăng trưởng 5%. Trong trường hợp này, kinh tế Úc sẽ bị co thắt với tỷ lệ âm 1% trong năm 2014, còn tỷ lệ thất nghiệp tăng vọt lên thành 10% . Không những thế, Úc sẽ còn bị mất điểm cực tốt ba chữ A, dùng để đánh giá các nền kinh tế phát triển lành mạnh.


Standard & Poor's cũng công nhận là kịch bản « hạ cánh nặng nề » là một khả năng « khó xẩy ra ». Cho dù vậy, hãng thẩm định tài chánh này cho rằng nhiều mối lo ngại về kịch bản đó đang xuất hiện vào lúc kinh tế Trung Quốc bộc lộ một số điểm yếu kém.

Trả lời phỏng vấn hôm nay của RFI, chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa tại Hoa Kỳ sẽ giải thích thêm về tình trạng hạ cánh không an toàn của một nền kinh tế, cũng như tác động có thể có của hiện tượng này đối với các nền kinh tế khác trên thế giới.


RFI: Xin thân ái chào anh Nghĩa. Là người nhiều lần dự báo rằng kinh tế Trung Quốc sẽ sa sút vì những vấn đề chồng chất ở bên trong, hiển nhiên là anh không mấy ngạc nhiên với kịch bản "hạ cánh nặng nề" của Trung Quốc mà công ty Standard & Poor's vừa nhắc tới. Kỳ này, xin đề nghị anh phân tích hậu quả quốc tế từ nạn suy trầm kinh tế của một quốc gia đang có nền kinh tế hạng nhì thế giới sau Hoa Kỳ và Nhật Bản. Trước hết, thưa anh giới kinh tế cứ nói đến chuyện "hạ cánh nặng nề", thì đấy là cái gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Sau một giai đoạn tăng trưởng cao kéo dài khá lâu, nếu sản lượng kinh tế lại đột nhiên co cụm mạnh thì đấy là một vụ "hạ cánh nặng nề". Muốn tính ra một con số để định nghĩa về hạ cánh nhẹ nhàng, hạ cánh nặng nề, thậm chí hạ cánh tan tành thì còn tùy tốc độ tăng trưởng nguyên thủy, thí dụ như 9-10% của Trung Quốc trong 20 năm liền. Theo định nghĩa của S&P thì nếu kinh tế xứ này chỉ tăng 5% đã là hạ cánh nặng nề.

- Với Trung Quốc, ta khó xác định một con số chính xác vì nhiều lý do. Thứ nhất, số liệu kinh tế của họ thiếu sự chuẩn xác đáng tin mà chỉ phản ảnh một trào lưu. Thứ hai, xưa nay lãnh đạo xứ này vẫn coi 7% là đà gia tăng tối thiểu để tránh động loạn và nay đành chấp nhận một chỉ tiêu thấp hơn trong khi phải tiến hành cải cách để tìm lực đẩy khác hơn là đầu tư và xuất cảng. Thứ ba, dù phải chuyển hướng như vậy, họ vẫn sợ gây ra hốt hoảng nên có những lý luận hay dữ kiện tô hồng, và nhiều tổ hợp đầu tư quốc tế đang làm ăn tại Hoa lục cũng nói theo để trấn an thị trường, vì vậy định mức "hạ cánh nặng nề" trở thành cái gì đó khá co giãn.

- Tuy nhiên, sự thể khách quan là sau Nhật Bản năm 1991, Anh quốc năm 92, Nam Hàn năm 97 và Hoa Kỳ năm 2008, Trung Quốc khó tránh khỏi một vụ khủng hoảng tài chánh vì mắc nợ quá nhiều. Sau đó là giai đoạn co rút kéo dài. Nếu lãnh đạo xứ này thành công trong việc cải cách từ lượng sang phẩm và nâng sức tiêu thụ nội địa từ 35% hiện nay lên 50% thì kinh tế Trung Quốc chỉ có đà tăng trưởng khoảng 3-4% trong mươi năm tới. Sau giai đoạn tăng trưởng ngoạn mục và mua vào nguyên nhiên vật liệu để sản xuất đến dư thừa, khi kinh tế Trung Quốc bị thoái trào thì quả thật là thế giới có thể bị ảnh hưởng. Nhưng thật ra thế giới không chỉ có Trung Quốc.

RFI: Anh nói thế giới không chỉ có Trung Quốc vì nghĩ đến các khối kinh tế khác hay sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi nghĩ rằng nếu muốn nhìn ra bối cảnh rộng lớn của một vụ suy trầm, thậm chí suy thoái, là dépression tại Trung Quốc, chúng ta cũng nên nhìn ra nhiều chuyển động lớn của các nền kinh tế khác sau năm năm khá đặc biệt vừa qua.

RFI: Anh nói về những chuyển động lớn sau năm năm vừa qua, đấy là gì và có ảnh hưởng thế nào đến tình trạng co thắt tại Trung Quốc?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Sau vụ khủng hoảng và Tổng suy trầm 2008-2009, người ta vội chôn sống khối kinh tế đã phát triển Âu-Mỹ-Nhật và đặt kỳ vọng vào các nước đang phát triển, đứng đầu là nhóm B.R.I.C, gồm có Brazil, Liên bang Nga, Ấn Độ và Trung Quốc. Vì sự hồ hởi sảng đó, tiền đầu tư đã từ Tây phương trút về Đông và tìm lực đẩy của các nền kinh tế đang lên.

- Bây giờ tình hình lại đảo ngược. Khối công nghiệp hoá Tây phương là Âu, Mỹ, Nhật, đã chấn chỉnh lại thất quân bình và tạm hồi phục. Dù chưa mạnh thì cũng đóng góp đến 60% vào sản lượng phụ trội của kinh tế thế giới. Ngược lại, các nền kinh tế đang lên đều có triệu chứng hụt hơi và hết là đầu máy tăng trưởng toàn cầu, kể cả nhóm BRIC này.

- Vụ Trung Quốc hạ cánh cần đặt trong bối cảnh rộng hơn vì liên hệ đến chiều hướng tái cân bằng chung. Tất nhiên là một xứ chuyên bán quặng sắt cho tiến trình công nghiệp hoá và đô thị hóa của Trung Quốc như nước Úc phải hụt hẫng và sợ nạn suy trầm cùng thất nghiệp. Nhưng vấn đề không chỉ có vậy. Về không gian, các nước sống nhờ bán nguyên liệu hay thương phẩm đệ nhất đẳng đều bị thiệt hại. Về thời gian thì sự thoái lui của Trung Quốc không chỉ là một chu kỳ co cụm đột ngột và nhất thời mà có thể kéo dài cả chục năm.

RFI: Thưa anh, trong bối cảnh rộng lớn và lâu dài như anh vừa có ý nhấn mạnh thì người ta vẫn tự hỏi vì sao riêng Trung Quốc có thể bị suy sụp nặng như vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Một cách ngắn gọn thì Trung Quốc có ưu thế số một là dân số rất đông và họ khai thác thành lợi thế lương rẻ để sản xuất các mặt hàng chế biến rẻ hơn thiên hạ, nhất là các nước công nghiệp hoá. Vì thế họ tổ chức hệ thống sản xuất quanh lợi thế này và vì cả nước còn nghèo nên chẳng mua nổi sản lượng quá lớn đó thì họ phải xuất cảng. Mặt kia, họ còn phải tiếp tục đầu tư và sản xuất cực rẻ với mức lời thật thấp để tạo ra việc làm và tránh động loạn. Hai yêu cầu trái ngược đó dẫn tới sự thể là họ dựng lên một hệ thống sản xuất kém hiệu năng, đầy lãng phí mà cứ tính vào số tăng trưởng làm thế giới khâm phục.

- Thế rồi, khi kinh tế toàn cầu bị suy trầm làm xuất cảng sa sút, Trung Quốc phải bơm tiền kích thích, mà lại kích thích nạn sản xuất thừa và trợ cấp cho sự bất tài rồi chất lên núi nợ thối. Vì vậy, khủng hoảng tài chánh dễ bùng nổ. Sau đó là nạn suy trầm, cho đến ngày nào đó mà họ có thể kích thích tiêu thụ thay vì kích thích sản xuất loại hàng kém phẩm chất và gây ô nhiễm và lỗ lã. Chuyện hạ cánh nặng nề là kịch bản có xác suất cao của tình trạng quái đản này.

RFI: Câu hỏi cuối, thưa anh, nếu sự thể xảy ra như vậy thì tình hình các nước sẽ ra sao?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta có thể nhìn từ hai vế khác nhau.

- Trung Quốc bán ra hàng chế biến với giá rẻ nên cạnh tranh với các nước đang phát triển cùng trình độ kỹ thuật hay kém hơn khi thu hút đầu tư và tăng gia sản xuất. Nhưng khốn nỗi xứ này "chưa giàu đã già" và lợi thế nhân công rẻ của họ đã hết. Khi kinh tế suy trầm thì cả triệu doanh nghiệp phá sản, ngân hàng vỡ nợ và cả chục quốc gia sẽ có cơ hội trám vào khoảng trống của Trung Quốc nếu có nhân công tương đối rẻ và có tay nghề. Cơ hội đó cũng khiến các nước ấy có thể tiếp nhận thêm đầu tư của nước ngoài. Đó là trong trung hạn vài ba năm, chứ trước mắt thì vẫn là nhiều biến động đột ngột thất thường. Nhưng đột ngột hơn cả lại thuộc về vế kia.

- Để duy trì đà tăng trưởng ảo và sản xuất đến dư thừa, Trung Quốc ào ạt mua vào nguyên nhiên vật liệu, như năng lượng, nguyên liệu gốc kim loại cho công nghiệp, làm giá thương phẩm tăng vọt và đem lại mối lợi cho các nước xuất cảng. Khi kinh tế sa sút thì giá thương phẩm sụt mạnh, các nước xuất cảng đều vừa mất thị trường vừa mất mối lợi là bán ra loại hàng cao giá. Các nước như Brazil, Nga, Nam Phi hay Venezuela, chứ không chỉ có Úc Đại Lợi mới bị điêu đứng nặng vì bán nguyên liệu. Và mấy dự án bauxite tại Việt Nam lại càng sớm vỡ nợ! Giá dầu thô cũng có thể giảm vì Trung Quốc là nước ngốn dầu nhiều nhất nên gây họa cho các nước bán dầu từ Đông Nam Á qua Trung Đông.

- Song song, Trung Quốc lại mắc cái tật là "chưa hùng đã hung" nên mua vào rất nhiều võ khí và quân cụ. Khi kinh tế suy trầm thì khoản nhập cảng quân sự ấy cũng giảm. Liên bang Nga sẽ bị thiệt hai lần vì hết là nơi tiếp liệu võ khí và lại thất thế vì năng lượng sụt giá. Dầu thô mà rớt dưới 90 đô la một thùng là ngân sách của ông Putin bị lủng.

- Trong khi đó, nhà nước Trung Quốc vẫn có tiền. Khi có biến thì họ càng tẩu tán tài sản ra ngoài để khỏi sợ lỗ, nhưng không qua ngả đầu tư vào các nguồn tiếp vận thương phẩm hay năng lượng ở các nước Á Phi hay Nam Mỹ, mà chạy vào Mỹ và các nước công nghiệp hoá vì an toàn hơn.

- Nói chung, tôi nghĩ rằng người ta mới chỉ chớm thấy một sự xoay chuyển mấy chục năm mới có một lần nên sẽ còn thời giờ quan sát và điều chỉnh những dự đoán sau này.

RFI: Đài RFI xin cảm tạ chuyên gia Nguyễn-Xuân Nghĩa đã trả lời từ Hoa Kỳ.

Mai Vân (RFI)

Monday, August 12, 2013

Đảng CS Trung quốc sẽ Sụp đổ vào Năm 2016

Đọc cho vui. Không dễ khi đánh vào nền kinh tế khổng lồ và có nguồn ngoại tệ dự trữ cũng rất khổng lồ như Trung Quốc. Nếu không tính toán cẩn thận và không đủ tiềm lực, chính giới đầu tư quốc tế sẽ là người thua thiệt. Không những thế, khi Trung Quốc tung ngoại tệ (USD, trái phiếu chính phủ Mỹ...) ra cứu nguy thì cuộc đại khủng hoảng đồng đô la sẽ bùng nổ, kéo theo tổng khủng hoảng kinh tế toàn cầu thì chính các cường quốc hàng đầu cũng rơi vào một cuộc tổng khủng hoảng kinh tế xã hội mới, trong khi chính họ vẫn chưa thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay bắt đầu từ năm 2008.
Truyền thông Hồng Kông:
Đảng CS Trung quốc sẽ Sụp đổ vào Năm 2016
Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ sụp đổ qua ba giai đoạn, trong ba năm tới, và triều đại của nó sẽ chấm dứt vào năm 2016, theo Hồng Kông Frontline, một tạp chí chuyên mục về chính trị Trung Quốc.
Theo tạp chí Frontline, sụp đổ đầu tiên sẽ là nền kinh tế của Trung Quốc, vào năm 2014, và tiếp theo trong năm 2015, “cơ cấu chính trị” của Đảng sẽ bị phá hủy, và trong năm 2016, toàn xã hội sẽ sụp đổ, bài báo nói, trích dẫn các tiền lệ lịch sử. Với một kích hoạt đủ lớn, sự sụp đổ có thể đến sớm hơn, theo Frontline.

Mặt trời mọc trên chân trời Bắc Kinh sáng sớm ngày 06 tháng 11, 2012. Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ sụp đổ trong ba giai đoạn trong ba năm tới và triều đại của nó sẽ chấm dứt vào năm 2016, theo Hồng Kông tạp chí Frontline. (Ed Jones / AFP / Getty Images)Các nhà kinh tế đang nhìn thấy một sự đảo ngược trong dòng chuyển lưu vốn toàn cầu—tiền đang chuyển ra khỏi Trung Quốc, có thể gây ra biến động tài chính, Frontline nói.
Trong tất cả các mối đe dọa, ba tai họa nguy hiểm nhất là những bất động sản bong bóng, ngân hàng ngầm, và những món nợ chính quyền địa phương, do ở sự phổ biến và quy mô rộng lớn của nó sẽ như thế nào, tiến sĩ Frank Tian Xie, một giáo sư đại học kinh doanh tại University of South Carolina Aiken.



Trung Quốc sẽ chứng kiến sự tăng trưởng đầu tư tiêu cực trong năm tới và tiêm thêm tiền vào hệ thống sẽ không cải thiện tình hình nhưng vẫn rất cần thiết cho việc duy trì chuỗi nợ địa phương, theo báo cáo.

Theo bài báo, cuộc khủng hoảng kinh tế Trung Quốc bắt nguồn từ các vấn đề chính trị sẽ thể hiện rõ ràng trong một sự sụp đổ vào năm 2015. Nhiều nhóm quyền lợi phức tạp ở Trung Quốc không quan tâm đến số phận của Đảng hoặc đất nước, và chỉ tập trung vào việc tích lũy của cải, Frontline nói.

Theo báo cáo của Hồng Kông, các nhóm quyền lợi đang sẵn sàng chứng kiến sự kết thúc của Đảng Cộng sản Trung Quốc hơn là chạy theo những cải cách được đề xuất bởi Tập Cận Bình và các nhà lãnh đạo hàng đầu khác hiện nay, bởi vì họ đã chuẩn bị chiến lược rút lui của mình.

Như một phương sách cuối cùng để tự cứu mình, Đảng có thể sử dụng một công ty đa quốc gia để rót tiền trở lại Trung Quốc và duy trì đồng nhân dân tệ (yuan) của Trung Quốc trong khi chấm dứt sử dụng ngoại tệ tiền tiết kiệm nước ngoài và trái phiếu của Mỹ, theo Tạp chí Frontline suy đoán trong một số báo ra tháng Sáu.
Đề tài về một sự sụp đổ của Đảng đã được phổ biến trong năm qua, với một cuốn tiểu thuyết về ngày tận thế lấy Trung Quốc làm trọng điểm, xuất bản vào tháng Giêng, tựa đề “2014: Cuộc Sụp đổ Lớn” trở thành một trong những sách bán chạy nhất trong một cửa hàng Hồng Kông bán sách bị cấm.
(Đại Kỷ Nguyên)

Phục hưng "Made in USA"

Phục hưng "Made in USA"

Thế giới phẳng có khép lại hay không khi nhiều doanh nghiệp lớn của Mỹ đang đưa nhà máy từ Trung Quốc trở về Mỹ? 
Tổng thống Obama từng hỏi cố lãnh đạo của Apple là Steve Jobs: "Tại sao iPhone không được sản xuất tại Mỹ?". Steve Jobs đưa ra câu trả lời không rõ ràng: "Việc làm đó không thể trở lại nước Mỹ được". Tuy nhiên, quan điểm về vấn đề này đối với người quyết định tương lai của Apple rất rõ ràng: Apple tin vào quy mô của các nhà máy ở nước ngoài cũng như sự linh hoạt, nhanh nhạy, kỹ năng công nghiệp tốt của người lao động nước ngoài hiện đã hơn cả người lao động Mỹ. "Made in USA" vì vậy không thể trở thành lựa chọn cho sản xuất sản phẩm của Apple.

Tuy nhiên, đây là chuyện 5 năm về trước. Cuối năm ngoái, hãng Apple bắt đầu xây dựng một dây chuyền sản xuất máy tính Mac tại Mỹ. Lý do không phải là lời kêu gọi của Tổng thống Obama mà Apple thấy nhiều lợi ích khi đưa dây chuyền sản xuất trở lại quê hương. Hiện nay, nhiều công ty Mỹ nhận ra rằng họ đã đi quá xa với mô hình gia công ở nước ngoài và cần thiết phải trở lại quê nhà. Các hãng công nghệ và sản xuất lớn như Google, General Electric, Caterpillar và Ford đang chuyển dần sản xuất trở về nước Mỹ hoặc cho xây thêm nhà máy ở Mỹ.

Bởi vì, theo một cuộc khảo sát của Tổ chức Tư vấn Boston, 80% trong số 5.000 người dùng sẵn sàng chi thêm tiền để mua những sản phẩm được sản xuất tại Mỹ, trong đó có các thiết bị điện tử. Thậm chí người Trung Quốc cũng sẵn sàng bỏ thêm tiền để được sở hữu những sản phẩm được sản xuất tại Mỹ.

Cuộc hồi hương của hàng loạt thương hiệu Mỹ diễn ra trong bối cảnh chi phí lao động tại các "công xưởng thế giới" như Trung Quốc, Ấn Độ tăng. Chẳng hạn, lương của người lao động ở Trung Quốc và Ấn Độ đã tăng từ 10-20%, trong khi lương ở Mỹ và châu Âu bắt đầu bị các nước bắt kịp. Theo nghiên cứu của công ty cố vấn kinh doanh toàn cầu AlixPartners, đến năm 2015, chi phí sản xuất tại Trung Quốc sẽ ngang bằng với chi phí tại Mỹ.

Do vậy, theo Scott Paul, Chủ tịch Liên minh Sản xuất Mỹ (AAM), quay trở lại sản xuất tại Mỹ là một bài toán thông minh về lâu dài. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp giờ đây nhận ra việc gia công ở nước ngoài có những nhược điểm về khoảng cách địa lý, khiến chi phí vận chuyển tăng vọt, thời gian giao hàng chậm trễ. Họ cũng nhận ra rằng việc thuê gia công ở nước ngoài trong khi tiếp tục duy trì nghiên cứu và phát triển (R&D) ở quê nhà có ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động đổi mới.

Trong xu hướng này, các doanh nghiệp Mỹ và phương Tây đang nhanh chóng từ bỏ mô hình sản xuất mọi thứ tại chỗ với chi phí thấp để cung cấp cho phần còn lại của thế giới. Trung Quốc giờ đây không còn được xem là địa điểm sản xuất giá rẻ như trước, mà đã trở thành một thị trường tiêu thụ khồng lồ. Khi chuyển nhà máy tới những thị trường mới, các công ty thường đặt mục tiêu để nhanh chóng nắm bắt nhu cầu khách hàng và nhanh chóng đáp ứng sự thay đổi trong nhu cầu ở địa phương.

Hãng máy tính Lenovo cũng đã có những sản phẩm sản xuất tại Mỹ vì muốn nắm bắt nhu cầu của khách hàng Mỹ và nhanh chóng đáp ứng. Không chỉ các doanh nghiệp phương Tây mới tìm cách đem dây chuyền sản xuất về quê nhà, ngay cả các công ty lớn ở những thị trường mới nổi như Tata Group cũng đang tìm cách khuếch trương thương hiệu, năng lực sản xuất và nhân công ở phương Tây.

Đây không phải là một xu hướng nhất thời mà là một trào lưu trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế toàn cầu sau hai thập kỷ phát triển trong mô hình "thế giới phẳng". Các nhà máy Mỹ ngày càng được tiếp cận với năng lượng giá rẻ nhờ vào dầu và khí đốt từ đá phiến sét bùng nổ.

Ngược lại, các công ty bên ngoài nước Mỹ lại bị đội chi phí vận chuyển do giá nguyên liệu cao, nghĩa là chi phí tiết kiệm từ nhân công thấp tại Trung Quốc sẽ "bốc hơi" khi phải vận chuyển hàng hóa sang Mỹ. "Sản xuất sẽ trở lại, nhưng nó phát triển thành một loại rất khác ngày hôm nay.

Trước đây, trong làn sóng chuyển cơ sở sản xuất sang những nước như Trung Quốc, các công ty lập luận họ cần phải chuyển công việc ra nước ngoài để có đủ lợi nhuận và tiền chi trả cho nghiên cứu đổi mới công nghệ. Tuy nhiên, việc đưa cơ sở sản xuất ra nước ngoài về tổng thể lại làm nền kinh tế Mỹ suy yếu.

Willy Shih, giáo sư Trường Kinh doanh Harvard trong cuốn sách "Tại sao Mỹ cần phục hưng sản xuất" cho biết: "Khi từ bỏ công đoạn sản xuất sản phẩm, bạn sẽ mất rất nhiều giá trị gia tăng". Mỗi 1 đồng của hoạt động sản xuất trả 1,48 đồng cho nền kinh tế. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trên thực tế, Mỹ vẫn là quốc gia với kỹ nghệ sản xuất hùng mạnh nhất hoàn cầu. Theo Viện McKinsey Global, mỗi năm, kỹ nghệ sản xuất đạt doanh số 1.800 tỷ USD. Mỗi USD của hoạt động sản xuất mang lại 1,48 USD cho nền kinh tế.

Chính sách ở mọi cấp độ đang dành khá nhiều ưu đãi hấp dẫn để thu hút giới chủ quay về Mỹ. Chẳng hạn, các viện nghiên cứu đã nhận được tài trợ 30 triệu USD để kết nối với 32.000 nhà sản xuất và các trường đại học hàng đầu trong chiến dịch tăng tốc đổi mới trong lĩnh vực công nghệ cao.

Hãng General Electric năm ngoái đã đưa công việc sản xuất máy giặt, tủ lạnh, và máy nước nóng từ Trung Quốc về tiểu bang Kentucky. Nhà bán lẻ khổng lồ Walmart cũng vừa ra tuyên cáo sẽ bày bán lượng hàng hoá trị giá 50 tỷ USD với nhãn hiệu "Made in USA" trong vòng 10 năm tới. Có 37% những công ty với doanh số 1 tỷ USD đang cân nhắc đưa các dây chuyền sản xuất từ Trung Quốc về lại Mỹ trong thời gian tới.

Theo Lam Hồng, Doanh nhân SG

Sunday, August 11, 2013

Kinh tế Pháp sắp tăng trưởng âm

Kinh tế Pháp sắp tăng trưởng âm
Pháp đã điều chỉnh giảm triển vọng kinh tế năm 2013, dự báo tăng trưởng âm lần đầu tiên kể từ năm 2009. Bộ trưởng Tài chính Pierre Moscovici hôm thứ Bảy nói nền kinh tế Pháp có thể giảm 0,1% trong năm nay, sau khi dự đoán tăng trưởng 0,1% trong năm 2013. Nhưng ông dự đoán tăng trưởng phục hồi ở mức 0,3% trong năm 2014.
Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) vào tháng Sáu kêu gọi Pháp giảm chi phí lao động và ngăn chặn tăng thuế để thúc đẩy cả tăng trưởng và khả năng cạnh tranh của nước này.
IMF dự báo GDP của Pháp sẽ giảm 0,2% trong năm nay.
"Sau hai quý tăng trưởng âm ... quý hai và quý ba năm 2013 sẽ tăng trưởng dương", ông Moscovici nói. 
"Điều quan trọng là xu hướng đã đảo ngược.". "Tôi có mọi lý do để tin rằng năm 2014 sẽ là năm đầu tiên tăng trưởng thực tế trong ba năm."
Ông nói với một tờ báo Pháp rằng nước này cần phải giảm thâm hụt ngân sách "nhưng ở một tốc độ mà không gây khó dễ cho tăng trưởng".
"Đầu tiên, phù hợp với khuyến nghị của Quỹ Tiền tệ Quốc tế, chúng tôi sẽ giảm chi tiêu công, sau đó là một mức gia tăng có hạn chế trong gánh nặng thuế là 0,3%, cùng lúc với công bằng xã hội."
Trong tháng sáu, Ủy ban châu Âu, cho Pháp hai năm để cắt thâm hụt ngân sách từ mức 3,7% của Tổng Sản phẩm Quốc nội (GDP) vào cuối năm 2012 xuống còn 3%.
'Mất tính cạnh tranh'

Quý tư năm ngoái, tổ chức xếp hạng tín dụng Moody's vừa hạ bậc tín nhiệm Pháp từ mức xếp hạng cao nhất.

Pháp bị giảm xuống bậc AA1 từ mức AAA trước đó, với triển vọng tài khóa bị đánh giá ở mức tiêu cực.

Trước đó, Standard & Poor's, một tổ chức xếp hạng tín nhiệm khác, cũng đã hạ bậc Pháp hồi Quý một.

Moody's nói lý do chính cho việc hạ bậc là do "thử thách dài hạn từ cơ cấu kinh tế" đem lại ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng và ngân sách chính phủ.

"Những điều này bao gồm sự đình trệ trên thị trường lao động và khu vực dịch vụ cũng như độ sáng tạo đang ở mức thấp khiến nền công nghiệp phụ thuộc nặng vào xuất khẩu mất dần tính cạnh tranh," báo cáo của tổ chức xếp hạng nói.

Khi đó, Bộ trưởng Moscovici nói việc bị hạ bậc là 'động cơ' thúc đẩy chính phủ thực hiện các cải cách hệ thống.

Hiện tại, tỷ lệ thất nghiệp của Pháp, quốc gia đang là nền kinh tế lớn thứ hai của khu vực đồng Euro sau Đức, đang ở mức 11%.

Wednesday, August 7, 2013

Liệu tăng trưởng kinh tế Trung Quốc có rơi xuống 3-4% mỗi năm?

Liệu tăng trưởng kinh tế Trung Quốc có rơi xuống 3-4% mỗi năm?
 
Nền kinh tế Hoa Lục đang phát triển chậm lại từ 10% trong thập niên vừa qua xuống còn 7.7% vào đầu năm 2013. Thủ tướng Lý Khắc Cường đã trấn an sẽ giữ trên mức 7% trong những năm sắp tới, nhưng đã có vài chuyên viên bắt đầu đưa ra con số 2-3% cho tương lai và còn dự đoán Trung Quốc có thể đi vào thập niên không tăng trưởng (lost decade).Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và nhu cầu tiêu thụ chậm lại của Âu-Mỹ làm nổi bật tính cách bất cân đối tại Trung Quốc khi phát triển dựa quá nhiều vào đầu tư nội địa và xuất cảng ra nước ngoài thay vì nhu cầu tiêu thụ của dân chúng trong nước. Đa số các nền kinh tế lớn đều có tiêu thụ nội địa chiếm từ 60-70% GDP, chỉ riêng Hoa Lục cho dù phát triển nhảy vọt nhưng chỉ số tiêu thụ lại sút giảm từ 55% vào năm 1985 xuống một con số không thể tưởng tượng nổi là dưới 35% năm 2012 – tức là rơi vào trường hợp không có tiền lệ vì nằm 1/2 của mức trung bình! Nói một cách đơn giản là con số này cho thấy lợi tức của dân chúng Trung Quốc bị nhà nước thu tóm cho mục tiêu tăng trưởng trong hai lãnh vực xuất cảng ra ngoại quốc và đầu tư nội địa, và chính sách nói trên được thực hiện với ba biện pháp:

1. Giữ đồng NDT (Nhân Dân Tệ) 15-30% dưới giá thị trường: năng suất lao động của người dân Hoa Lục được cải tiến gấp ba trong lúc đồng NDT chỉ tăng 25% từ năm 2005 đến nay. Giữ giá trị đồng NDT thấp giúp cho các công ty xuất cảng hàng hoá, nhưng bù lại dân chúng Hoa Lục phải trả giá cao hơn cho xăng dầu, lương thực là những thứ mà Hoa Lục phải nhập cảng cho nhu cầu trong nước.

(Bắc Kinh lập luận rằng tăng giá đồng NDT ảnh hưởng đến xuất khẩu và công ăn việc làm của dân chúng; nhưng một mặt, khủng hoảng kinh tế toàn cầu khiến xuất khẩu suy giảm; hơn nữa, tăng trưởng tiêu thụ nội địa sẽ tạo ra công ăn việc làm bù đắp cho các mất mát trong xuất khẩu)

2. Kềm lương bổng: người ta thường nghe rằng lương bổng tại Trung Quốc không còn rẻ nữa mà ít ai nhớ rằng năng suất của người lao động Hoa Lục còn tăng nhanh hơn mức lương hiện thời.

Nhưng nhà nước đã có chính sách kềm lương bổng để bóc lột công nhân và hỗ trợ cho doanh nghiệp qua nhiều biện pháp gián tiếp mà chính yếu là hộ khẩu: dân quê từ nông thôn lên thành thị làm việc không xin được hộ khẩu nên không có quyền tham gia công đoàn tranh đấu tăng lương; lại không được hưởng các dịch vụ y tế và giáo dục cho con cái như người dân thành thị. Kết quả là lương đã thấp mà họ lại càng không dám tiêu xài.

3. Giữ lãi xuất ngân hàng mức thấp: dân chúng Hoa Lục dành dụm tiền bạc không có chỗ nào khác để gởi ngoại trừ ký thác cho ngân hàng với mức lời thấp do nhà nước quy định (nhà cửa thành thị giá quá mắc để đầu tư; còn chứng khoáng thì đủ mánh khoé lường gạt). Kết quả là ngân hàng có được một nguồn vốn khổng lồ với giá rẻ để một mặt giữ đồng NDT ở giá thấp, mặt khác cho các doanh nghiệp và chính quyền địa phương vay với điều kiện ưu đãi – kết quả vẫn là hút tiền của dân chúng cho nhà nước và doanh nghiệp sử dụng.

Tình trạng bất cân đối này không thể kéo dài. Xuất cảng khó mà tăng trong lúc kinh tế Âu-Mỹ còn suy yếu, còn đầu tư nội địa mất dần hiệu quả vì các khoản tín dụng bị tiêu dùng mờ ám trong lúc nợ công của các chính quyền địa phương tăng nhanh. Muốn tiếp tục tăng trưởng thì nhà nước chỉ còn cách nâng cao tiêu thụ nội địa.

Nhưng tiêu thụ nội địa hiện đang ở mức cực kỳ thấp (35% GDP) nên muốn nâng lên 50% GDP trong 10 năm tới thì sức mua của các hộ gia đình phải tăng nhanh hơn GDP là 3-4% mỗi năm. Nếu giữ GDP phát triển 7% thì sức mua của dân chúng phải nhảy vọt 10% một năm – con số hoang tưởng! Trong 30 năm qua hoàn cảnh thuận lợi nên sức mua của các hộ gia đình tăng 6-7% mỗi năm, giả sử vẫn giữ được đà này trong hoàn cảnh xuất cảng thấp và đầu tư nội địa giảm thì GDP tăng trưởng không thể hơn 3-4% nếu muốn tái cân bằng kinh tế.

Bù lại trong suốt 30 năm nay nhà nước, doanh nghiệp và giới tài phiệt Trung Quốc đã quen với mức tăng trưởng dựa trên bóc lột thặng dư lao động của quần chúng. Nay tiến trình bị đảo ngược lại là trả lợi nhuận về cho nhân dân, liệu chính sách mới này sẽ gặp các phản ứng mãnh liệt như thế nào từ các khối lợi ích mới chính là vấn đề chính trị nan giải cho giới cầm quyền giải quyết.

© Đoàn Hưng Quốc

© Đàn Chim Việt

Monday, August 5, 2013

(2) THẾ KỶ 21 CÓ TRỞ THÀNH KỶ NGUYÊN CHÂU Á?

Dân số châu Á chiếm 60,3% tổng dân số địa cầu.
Báo Le Monde mới đây đã có cuộc phỏng vấn Bertrand Badie, giáo sư thuộc Viện nghiên cứu chính trị Paris (Sciences Po) và là chuyên gia uy tín hàng đầu thế giới về quan hệ quốc tế, về các vấn đề thời sự nổi cộm hiện nay. Nội dung chính như sau:
+ Một số người nhắc tới “sự bất ổn của trật tự thế giới”, vậy thực ra khái niệm này là thế nào? Sau khái niệm “trật tự thế giới mới” do G. Bush cha khởi xướng thì hiện tại là cái gì?
- Chưa bao giờ có trật tự thế giới, xét cả ở khía cạnh chuẩn mực lẫn khía cạnh thể chế. Nói về trật tự thế giới là nói về một nỗ lực mô tả hệ thống quốc tế và cố áp đặt những giả thuyết nào đó về sự vĩnh cửu tương đối của nó.
Xét theo quan điểm cổ điển, trật tự thế giới là nói về “cân bằng quyền lực”. Nhưng trong cuộc trao đổi này, chúng ta sẽ gạt bỏ tầm nhìn này bởi vì quyền lực không còn là thành tố duy nhất của các trật tự khu vực và xa hơn, trật tự toàn cầu. Như vậy, trật tự quốc tế có thể được mô tả như một hệ thống bao gồm các mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng mạnh mẽ giữa các nhà nước với nhau và giữa các nhà nước với các nhân tố phi nhà nước có những chức năng nhất định trên trường quốc tế.

+ Tại sao nhắc tới bất ổn trật tự thế giới mà không nói tới sự tái điều chỉnh chuyển hướng sang châu Á?

- Cần phải thiết lập châu Á thành một trung tâm trong bối cảnh hệ thống toàn cầu hóa như hiện nay cần thực sự được trang bị một trung tâm. Nếu châu Á chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong trật tự thế giới hiện nay thì đơn giản là châu lục này đã thể hiện được mình trong khi khái niệm cổ điển về quốc tế từ lâu chỉ giới hạn ở châu Âu, sau đó mở rộng sang Mỹ cùng với Chiến tranh Thế giới thứ Nhất.

Thế giới lưỡng cực từ đó đã khẳng định châu Âu là trung tâm trong đời sống quốc tế, phủ nhận hoặc coi châu Á là ở ngoại biên trong một vị thế thiếu chắc chắn. Chỉ có Nhật Bản được nhìn nhận phân biệt nhưng dần dần được gọi là một quốc gia “Viễn Tây”. 

Việc Trung Quốc chiếm vị trí cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, tiếp đến là sự tự khẳng định mình của các nước mới nổi như Ấn Độ hay việc Inđônêxia đã góp phần toàn cầu hóa các mối tương quan quốc tế, đặt châu Á vào một vị trí đặc biệt của mổi tương quan này. Ngược lại, châu Âu ngày càng thiếu thích ứng với quá trình toàn cầu hóa, gặp khó khăn trong việc nhìn nhận trật tự toàn cầu này.

+ Không phải châu Á mà chỉ riêng Trung Quốc sẽ gây bất ổn định cho trật tự thế giới? Trên thực tế, các nước ASEAN và Ấn Độ dường như có ít tham vọng địa chính trị hơn.

- Rõ ràng là Trung Quốc nằm ở trung tâm của quá trình tái định hình rộng lớn của trật tự thế giới hiện nay. Đừng quên một vài con số mấu chốt: xuất khẩu của Trung Quốc từ 18 tỉ USD năm 1980, hiện đã vượt ngưỡng 1.200 tỉ USD … về ngân sách quân sự, con số được nhắc đến hiện nay là 130 tỉ USD, lớn gấp 8 lần so với thời điểm những năm cuối của thế kỷ 20.

Tác động của sự tái sắp đặt này là rất lớn và về sâu xa, lôgích phụ thuộc lẫn nhau được thể hiện rất rõ ở việc Trung Quốc nắm giữ 1.250 USD trái phiếu kho bạc Mỹ. Với sự “thăng tiến” của Trung Quốc, không chỉ bản đồ quyền lực thế giới bị điều chỉnh. Trên thực tế, một khái niệm mới ra đời về một thế giới không chỉ tính đến vai trò của các nhà nước mà còn phải nhìn nhận các nền kinh tế và xã hội. Với những biến động này, sự kỳ diệu của Nhật Bản không còn sức nặng quyết định như trước.

Về trường hợp Ấn Độ, cùng có lý khi nhận định khả năng làm thay đổi khu vực, chứ chưa nói tới quốc tế, là kém hơn cho dù Ấn Độ hiện được xếp hàng thứ 7 thế giới về mặt quân sự… Quan trọng hơn, chúng ta đang chứng kiến một châu Á bùng nổ tự giải thoát mà tương lai bị kìm hãm: một mặt là sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các xã hội và các nền kinh tế, mặt khác là tác động của sự ganh đua ngày càng gay gắt giữa các cường quốc khu vực mà chúng ta rất khó hình dung khả năng hội nhập của họ trong một tổng thể khu vực rộng lớn được cho là có thể hình thành một liên minh kiểu EU.

+ Có học giả nói về “địa chính trị cảm xúc”, vậy liệu có sự chuyển biến từ căng thẳng tư tưởng sang căng thẳng cảm xúc?

- Chắc chắn căng thẳng cảm xúc có một vai trò rất quan trọng ở châu Á ít nhất vì 3 lý do. Lý do thứ nhất gắn với những tranh chấp xưa cũ đối lập ký ức châu Á với ký ức phương Tây: từ việc cướp phá Di Hòa Viên ở Bắc Kinh đến cuộc kháng chiến hòa bình chống thực dân Anh ở Ấn Độ, ký ức về những ô nhục đến nay vẫn rất mạnh mẽ. Lý do thứ hai lại gắn với cuộc chơi nội bộ châu lục: đó là nhũng gì đối lập mạnh mẽ giữa Nhật Bản với Trung Quốc, Bắc Triều Tiên với Nhật Bản và tất nhiên, Việt Nam với Trung Quốc, và thế giới Ấn Độ với thế giới Trung Hoa, sẽ rất nguy hiểm nếu việc xây dựng một trật tự khu vực không tính đến các ký ức này. Cuối cùng, lý do thứ ba có tính đương đại hơn, châu Á hiện không quan tâm nhiều đến việc điều hành toàn cầu mà ngược lại, chỉ chú ý làm sao không bị bên ngoài thống trị.

Chúng ta không thể thiết lập rõ ràng cách thức mà 3 cảm xúc mạnh mẽ nêu trên đè nặng lên một thực tế kép ít nổi bật hơn: thực tế của tương quan quyền lực đối lập một cách cổ điển nhưng mạnh mẽ của các quốc gia chủ chốt của châu Á và một thực tế khác làm đổi chiều cuộc chơi tàn nhẫn, không chỉ là cạnh tranh kinh tế mà còn là sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng nặng nề. Vì thế những nước thù địch nhau vẫn buộc phải coi nhau là đối tác để không phá hoại các thị trường vốn tuyệt đối cần thiết cho bất cứ quốc gia nào.

+ Châu Á có thể gây bất ổn cho trật tự thế giới như thế nào?

- “Bất ổn châu Á” trước hết phải được xét ở quy mô khu vực, và từ xuất phát điểm này tới quy mô toàn cầu với những tham số mới của quá trình toàn cầu hóa. Phải lấy đó làm xuất phát điểm để hiểu được một bàn cờ quốc tế mới, trong đó sự phụ thuộc lẫn nhau sẽ quy định mối quan hệ bạn – thù, trong đó các đòi hỏi về phát triển kinh tế sẽ chiếm ưu thế như thế nào trước các dự án chính trị thuần túy, và trong đó cái đầu lạnh với lý trí cao sẽ giành ưu thế trước thuyết cứu thế từng cấu thành nền ngoại giao phương Tây từ lâu.

Bên cạnh các diễn biến này, cần phải thêm vào nguy cơ từ các mối căng thẳng mới. Nhưng cũng cần hết sức thận trọng. Mối nguy hiểm dường như không đến từ tham vọng bá chủ thế giới của Trung Quốc mà cụ thể hơn, từ nguy cơ gắn với sự ganh đua bất khả kháng để có được một vị trí bá chủ khu vực.

+ Nên hình dung như thế nào về cách tiếp cận chủ nghĩa hiện thực ở châu Á, nhất là ở Trung Quốc?

- Có thể nói rằng Trung Quốc sẽ không dễ dàng trên con đường hình thành một vị thế bá chủ thế giới mới. Trên thực tế, khi Bắc Kinh hành động, đặc biệt tại châu Phi và cả ở Mỹ Latinh, thì đó chủ yếu là để thỏa mãn các nhu cầu cung ứng nhưng phải vì ý đồ hình thành một trật tự thế giới mà họ muốn kiểm soát.

Chủ nghĩa hiện thực mà chúng ta nhắc tới ở đây, liên quan đến Trung Quốc, chính là của một cường quốc đang lên không thể hiện thực hóa tham vọng toàn cầu nếu không tìm cách áp đặt bằng được vị thế bá chủ khu vực. Ở đây có một Trung Quốc dường như đang tìm cách áp đặt chính sách cường quyền trên quy mô Đông Á và Trung Á, trong khi tạm thời từ bỏ mọi tham vọng ngoại giao toàn cầu.

Như chúng ta đã thấy, Trung Quốc đang theo đuổi các lý luận kinh tế thị trường và hiểu rõ sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngày càng lớn. Lôgích này được áp dụng cho cả lĩnh vực xã hội và một trong những ví dụ tiêu biểu là chính sách xuất khẩu thành công hàng loạt sinh viên để khi những người này trở về, chẳng hạn từ California, sẽ mang theo các công nghệ mới kết hợp với công nghệ trong nước, góp phần thúc đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế. Đây là cách Trung Quốc hòa nhập với quá trình toàn cầu hóa.

Bằng cách khéo léo tuân theo các mối quan hệ “liên kinh tế” và bây giờ là “liên xã hội”, Trung Quốc đang đi theo một hướng không hoàn toàn là định hướng được vạch ra theo thuyết hiện thực. Hơn nữa, Bắc Kinh cũng thận trọng xen lôgích này vào các không gian khu vực, thông qua các đặc khu kinh tế và các hình thức hội nhập mới của các thị trường địa phương. Tuy nhiên, cùng cần đặt vấn đề về tương lai của cách tiếp cận này: triệt tiêu để kết thúc một giai đoạn quá độ; có thể kéo dài và tạo thành một yếu tố mới trong sự cân bằng khu vực và thế giới; hay bị chệch hướng do những căng thẳng chính trị-quân sự gắn với sự kình địch giữa các cường quốc khu vực?

+ Đâu là giới hạn khoan nhượng của Mỹ đối với Bắc Triều Tiên? Nếu giới hạn này bị vượt qua và Mỹ tấn công Bắc Triều Tiên, thì Trung Quốc và Nga sẽ phản ứng như thế nào?

- Tôi cho rằng đội ngũ ngoại giao của Barack Obama đã biết cách hành động sáng suốt với con kịch phát này. Với các tổng thống khác, có thể chúng ta đã được chứng kiến một cuộc chiến tranh với những hậu quả thảm khốc…

Trên thực tế, Bắc Triều Tiên không nằm ở trung tâm tình trạng bấp bênh của châu Á mà chỉ là hiện thân, theo cách gần như châm biếm, cho một mô hình ngoại giao có thể chúng ta sẽ gặp nhiều hơn trong thế giới phức tạp và “vô cực” hiện nay. Đó là ngoại giao xử sự rất sai lệch, có nghĩa là kiểu ngoại giao lấy sự tồn tại và biểu hiện của mình làm chỗ dựa cho thái độ thách thức các cân bằng quyền lực và các chuẩn mực chính thức hoặc không chính thức chúng ta đã được biết. Vì những lý do chính trị nội bộ, nhà độc tài mới của Bắc Triều Tiên có nhu cầu cấp bách là khẳng định quyền lực của mình. Và vì những lý do chính trị đối ngoại, nhân vật trẻ này cũng rất cần bảo đảm một vị trí nào đó trên bàn cờ quốc tế.

Bằng việc “khua chiêng đánh trống”, đôi khi quá đà, nhà độc tài này đã ít nhiều thỏa mãn các nhu cầu của mình. Nhưng như thường thấy trong các tình huống như vậy, kiểu giễu võ giương oai quá đà đã dẫn đến sự tầm thường hóa của cách cư xử.

Điều đáng nói là Bắc Triều Tiên thường trực bị đe dọa bởi nguy cơ bùng nổ xã hội thực sự và nguy cơ này có thể được cụ thể hóa đặc biệt bằng một nạn đói nghiêm trọng hơn bất cứ tình trạng thiếu an ninh lương thực nào chúng ta được biết trong xã hội hiện đại. Bùng nổ xã hội bởi những nhân tố lệch lạc chắc chắn là nguồn gốc tiềm tàng của bạo lực và bất ổn. Đó là lý do tại sao phải tìm bằng được các sáng kiến thúc đẩy sự tái hòa nhập của Pyongyang trong bàn cờ khu vực ngay sau khi cơn kịch phát suy giảm, cho dù là thông qua tái khởi động dự án KEDO (Tổ chức phát triển năng lượng Triều Tiên) hay tái kích hoạt các đặc khu kinh tế kiểu đặc khu Kaesong, nơi Bắc Triều Tiên không thể từ chối mãi.

+ Liệu Trung Quốc và Ấn Độ có thể bình thường hóa quan hệ để đảm nhận vai trò động lực kép của quá trình khu vực hóa ở châu Á hay các lợi ích của họ quá khác biệt để có thế thiết lập một quan hệ hợp tác như vậy?


- Có vẻ như giai đoạn nguy kịch nhất trong quan hệ Trung-Ấn đã trôi qua. Quả vậy, rất khó hình dung làm thế nào để phát động lại một cuộc chiến kiểu chiến tranh năm 1962 giữa hai người khổng lồ châu Á này. Chắc chắn sẽ có một sự hòa nhập kinh tế mạnh mẽ hơn trong những năm tới, khi Ấn Độ ngày càng nhìn về hướng Đông và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thị trường lớn chỉ có thể thúc đẩy mạnh mẽ điều này. Mô hình ASEAN + 3 cũng nằm trong tiến trình vận động này.

Tuy nhiên, cần nói rằng Ấn Độ và Trung Quốc có nhiều điểm khác biệt, mặc dù có điểm tương đồng về dân số, nhưng hai quốc gia khổng lồ này có rất nhiều điểm trái ngược nhau về lợi ích. Vì vậy, cần hướng tới một châu Á phải làm việc nhiều hơn cho nhu cầu cân bằng khu vực và bất luận ra sao, không quốc gia nào muốn đảm nhận hoàn toàn trách nhiệm đối với khu vực.

+ Có thể chúng kiến sự trở lại của Nhật Bản trong nền kinh tế toàn cầu và tại các hội nghị cấp cao quốc tế?

- Rõ ràng Nhật Bản không còn đủ phương tiện để cạnh tranh với sức mạnh của Trung Quốc và cơ chế phát triển vốn là đặc trưng của nước láng giềng này hiện nay. Sự mất thăng bằng về dân số là rất to lớn và sự khác biệt về trọng lượng kinh tế chắc chắn sẽ ngày càng lớn, trong khi lợi thế công nghệ Nhật Bản đang bị thu hẹp không ngừng trước sự tiến triển của người láng giềng khổng lồ Trung Quốc.

Có rất nhiều lý do để nghĩ rằng trong những năm tới, cốt lõi của sự kình địch đặc biệt này sẽ thể hiện ở bình diện chính trị. Khả năng quân sự của Trung Quốc chắc chắn khiến Tokyo lo ngại bởi Nhật Bản không có phương tiện tái cân bằng. Tình trạng mất cân bằng này có thể đẩy Mỹ vào cuộc chơi do gót chân Asin của châu Á chính là nơi quy tụ các bấp bênh trong tương lai.

+ Liên minh châu Âu và Pháp có thể rút ra lợi ích gì từ sự mất ổn định này?

- Sẽ khôn ngoan hơn nếu các nước châu Âu như Pháp thay đổi quy tắc, tức là thay vì đặt ra một câu hỏi như vậy, chúng ta nên khéo léo tìm cách thích ứng với những chuyển biến như vậy. Châu Âu hiện vẫn sống với tinh thần Hội nghị Viên và với ảo ảnh về một khả năng thống trị độc quyền, và chỉ nhận biết các mối quan hệ quốc tế qua tính nhất nguyên. Rồi sẽ đến lúc châu Âu phải khám phá các mối quan hệ này qua tính đa nguyên.

Sẽ hữu ích hơn khi làm việc để xác định các điều kiện của một quan hệ đối tác thực thụ với các cường quốc đang trỗi dậy, đặc biệt là các nước ở châu Á, và tìm cách thích ứng với các phân chia vai trò mới./.

(1) THẾ KỶ 21 CÓ TRỞ THÀNH KỶ NGUYÊN CHÂU Á?

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)Thứ Ba, ngày 30/7/2013 TTXVN (New York 29/7)Theo “Tạp chí Á-Âu”, nhiều người cho rằng thế kỷ 21 là thế kỷ châu Á. Châu Á có dân số lớn hơn dân số của tất cả các châu lục khác cộng lại. Như bản báo cáo “các xu hướng toàn cầu đến năm 2030” của cộng đồng tình báo Mỹ nhận định, châu Á sẽ có sức mạnh toàn cầu về GDP, chi phí quân sự và đầu tư lớn hơn Mỹ và châu Âu cộng lại, vì vậy châu Á xứng đáng với danh hiệu đó.
Ngoài ra, tài liệu mới nhất của Ngân hàng Thế giới cũng dự đoán so với tổng đầu tư toàn cầu của tất cả các nước có thu nhập cao, Trung Quốc và Ấn Độ sẽ là hai nhà đầu tư lớn nhất và chiếm khoảng 38% tổng đầu tư toàn cầu vào năm 2030.
Nếu Trung Quốc và Ấn Độ có đủ sức mạnh để xác định thế kỷ 21 là kỷ nguyên châu Á, hai nước phải phát triển các giá trị nhiều hơn nữa và phổ biến chúng trên toàn cầu.
Ấn Độ và Trung Quốc đã áp dụng hệ thống chính trị, kinh tế và các giá trị kèm theo do người châu Âu và Mỹ đã phát triển. Các nền văn minh và văn hóa của người Mỹ và châu Âu đã ảnh hưởng rất lớn đến con người và cách sống của người dân trên toàn châu Á, kể cả Trung Quốc và Ấn Độ. Khi nói về nền giáo dục, khoa học, công nghệ, kinh tế và hệ thống tài chính hiện đại cũng như các hoạt động phát triển, các giá trị dân chủ và tự do… tất cả đều xuất phát từ các nước phương Tây. Tất cả mọi đồ dùng và thiết bị hiện đại trong cuộc sống hiện nay của con người đều sử dụng các công nghệ phương Tây. Nhà kinh tế Jacques Attali của Pháp ví Internet là “lục địa thứ tám” và cũng là thuộc địa của Mỹ. Các tập đoàn Apple, Microsoft, Google, Facebook, Twitter, Yahoo – một phần cuộc sống của con người – cũng là của người Mỹ. Bất cứ thứ gì mang thương hiệu Mỹ và châu Âu đều đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. Chỉ đến khi Trung Quốc và Ấn Độ có thể cạnh tranh với Mỹ và phương Tây trên các lĩnh vực đó, họ mới có thể xác định sự phát triển của khu vực như một kỷ nguyên châu Á. Vì vậy, chỉ riêng sự tích lũy của cải và thịnh vượng của một số nước châu Á thì không thể làm nên một kỷ nguyên châu Á. Có những trường hợp như: Canada không hề lo lắng trước sức mạnh kinh tế và quân sự của Mỹ; Đức là nước mạnh nhất châu Âu nhưng không hề gây bất cứ lo lắng nào cho Pháp, Anh hay tất cả các nước châu Âu khác. Nhưng theo tờ “New York Times” ngày 24/5, khi Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe chụp ảnh trong buồng lái của một máy bay chiến đấu, sự kiện này đã khiến Trung Quốc và Hàn Quốc tức giận. Tương tự, sự phát triển của Trung Quốc đã tạo nên mối quan ngại sâu sắc ở tất cả các nước láng giềng từ Nhật Bản và Hàn Quốc đến Việt Nam và Ấn Độ. Đối với Ấn Độ, gần như tất cả các nước láng giềng ngày càng bất bình đối với nước này và muốn Trung Quốc đứng về phía họ để đối trọng với Ấn Độ. Ngược lại, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Philíppin cũng muốn Ấn Độ đóng vai trò chiến lược quan trọng trong khu vực của họ để có thể kiểm soát sự thống trị quân sự của Trung Quốc.

Một biên giới được phân định giữa các cường quốc châu Á có thể là sự mở đầu của kỷ nguyên châuÁ: Cách đây 100 năm ở Shimla-Ấn Độ, tháng 10/1914, Ấn Độ, vẫn là thuộc địa của Anh, và Tây Tạng đã đàm phán về một thỏa thuận biên giới. Biên giới được phân định thời gian đó được gọi là đường McMahon, tên của trưởng đoàn đàm phán người Anh Sir Henry McMahon. Các đại biểu của Chính phủ Trung Quốc cũng tham dự cuộc đàm phán nhưng sau khi hiệp ước được Ấn Độ và Tây Tạng ký kết, các đại biểu Trung Quốc không ký hiệp ước vì cho rằng Tây Tạng là nước chư hầu của Trung Quốc nên không có quyền kỳ bất cứ văn kiện nào với nước khác. Sau khi sáp nhập Tây Tạng năm 1949, Trung Quốc trở thành láng giềng của Ấn Độ. Cuộc tranh cãi tiếp tục và tháng 10/1962, Trung Quốc xâm lược Ấn Độ. Sau khi Ấn Độ bị thất bại, Trung Quốc đã rút lực lượng của họ. Nhưng hiện nay biên giới Trung Quốc-Ấn Độ vẫn là “biên giới nguy hiểm nhất trên thế giới”. Giữa tháng 4/2013, một số binh sĩ Trung Quốc đã tiến sâu khoảng 19 km bên trong Đường Kiểm soát Thực tế và chỉ trở về vị trí đóng quân trước đó của họ sau 3 tuần căng thẳng kéo dài. Vài ngày sau khi hai nước đạt được một thỏa thuận về biên giới ở độ cao khoảng 5.000 mét trên dãy Himalaya, tạp chí TIME đã đăng bài viết nhan đề: “Sau cuộc giao tranh trên các dãy núi, Ấn Độ và Trung Quốc chuyển sang cạnh tranh ở Ấn Độ Dương”. Một báo cáo ngày 16/5 của Bộ Quốc phòng Ấn Độ cảnh báo các mối đe dọa thường xuyên nghiêm trọng từ lực lượng hải quân Trung Quốc ở khu vực biển sân sau của Ấn Độ do hải quân Trung Quốc phát triển mạnh hạm đội tàu ngầm. Cùng ngày, tờ “TIME” đăng bài viết của tác giả Kirk Spitzer từ Tokyo đề cập đến một cuộc thảo luận công khai hiếm có giữa các chuyên gia hải quân đến từ Nhật Bản, Mỹ và Trung Quốc. Trích dẫn phát biểu của ông Yang Yi, cựu giám đốc Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Đại học Quốc nhòng ở Bắc Kinh, bài báo của ông Spitzer cho biết 80% dân số Trung Quốc muốn sử dụng sức mạnh quân sự và đang đặt câu hỏi: “Tại sao chúng ta lãng phí tiền bạc cho hải quân nếu chúng ta không sử dụng nó?” Bài báo cũng dẫn lời ông Michael McDevitt, cựu Đô đốc Hải quân Mỹ từng chỉ huy một nhóm tàu sân bay ở Thái Bình Dương: “Sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia châu Á đều phụ thuộc vào an ninh hàng hải. Nhưng gần như tất cả các vấn đề an ninh hiện nay trong khu vực là hàng hải và điều đó có nghĩa sự cạnh tranh các khả năng quân sự chủ yếu cũng ở trên biển”. Thực tế, thái độ khác nhau của Trung Quốc và Ấn Độ được hình thành bởi lịch sử của mỗi nước và chi phối đặc điểm của hai nước như các nhà nước hiện đại, mâu thuẫn với nhau về chế độ chính trị, tranh chấp lãnh thổ và cạnh tranh địa chính trị. Rõ ràng, các tranh chấp lãnh thổ như vậy và sự cạnh tranh địa chính trị giữa hai cường quốc châu Á sẽ tiếp tục cản trở cả Ấn Độ và Trung Quốc trong việc xây dựng khả năng để lãnh đạo một kỷ nguyên châu Á.

Các khu vực xung đột mới xuất hiện, các cuộc xung đột cũ chưa được giải quyết và kỷ nguyên chân Á: Trung Quốc và Nhật Bản có các tranh chấp về chủ quyền một số đảo nhỏ hơn. Các cuộc tranh cãi tương tự đã ảnh hưởng không tốt đến mối quan hệ của hai nền dân chủ và hai nền kinh tế châu Á phát triển: Nhật Bản và Hàn Quốc. Trung Quốc đang can dự vào cuộc tranh cãi gay gắt với Việt Nam và Philíppin về một số hòn đảo ở Biển Đông. Ngày 8/5, Nhân dân Nhật báo công bố một bài xã luận đặt dấu hỏi về vị thế của chuỗi đảo lớn hơn rất nhiều là Okinawa – nơi cư trú của vài triệu người dân Nhật Bản cùng với các căn cứ quân sự lớn của Mỹ. Theo Nhân dân Nhật báo, Nhật Bản đã sáp nhập vương quốc độc lập trước đây là quần đảo Ryukyu, kể cả Okinawa vào năm 1879. Nhân dân Nhật báo cho rằng quần đảo Ryukyu cũng từng là một quốc gia chư hầu của Trung Quốc, từ đó đem lại cho Bắc Kinh tiếng nói về các vấn đề chính trị. Điều này đã gây khó khăn hơn cho Nhật Bản trong quan hệ với Trung Quốc. Chuỗi đảo đó kéo dài từ đảo Kyushu đến Đài Loan được gọi là “quần đảo Nansei” ở Nhật Bản.

Bắc Kinh đã áp dụng các biện pháp trên biên giới với Ấn Độ trong các tuyên bố chủ quyền mới về quần đảo Ryukyu như một phần của chiến lược nhằm gia tăng áp lực cho các nước láng giềng bằng sức mạnh kinh tế và xây dựng quân đội. Tất cả hành động đó của Bắc Kinh đã đem lại cho Mỹ vị thế như một lực lượng ổn định lâu dài ở châu Á. Hiện nay Mỹ đang nỗ lực hợp pháp hóa sự hiện diện của họ ở châu Á, và bắt đầu khẳng định như một quốc gia Thái Bình Dương và có lợi ích lâu dài tại châu Á. Chiến lược “Trở lại châu Á” khẳng định Chính quyền Obama sẽ chú trọng châu Á hơn châu Âu và châu Phi. Nhưng phần lớn các nhà nghiên cứu chiến lược và hoạch định chính sách ở Mỹ và châu Âu thừa nhận hơn bao giờ hết, hiện nay châu Á không những quan trọng về kinh tế mà cả quân sự với Mỹ. Vì vậy, không đồng minh nào của Mỹ đặt dấu hỏi về quyết định tái cân bằng sức mạnh quân sự của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Hiện nay châu Á tồn tại rất nhiều khu vực xung đột giữa các quốc gia cũng như trong các nhà nước kéo dài từ Đông Á đến Trung Đông; từ Bắc Á và Trung Á đến Nam Á và Đông Nam Á, Hầu như tất cả các khu vực ở châu Á đều có các hệ thống vũ khí hiện đại nhất, kể cả vũ khí hủy diệt hàng loạt. Nếu có một kỷ nguyên châu Á, ‘Trung Quốc và Ấn Độ sẽ trở thành những đầu tàu của khu vực. Do có nguồn nhân lực rất lớn và cơ sở sức mạnh công nghệ tiên tiến hơn nhiều so với Trung Quốc và Ấn Độ, vai trò của Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ nổi lên mạnh mẽ trong một kỷ nguyên như vậy. Sự xuất hiện của Inđônêxia như một cường quốc kinh tế đầy triển vọng và dự trữ các nguồn tài nguyên khổng lồ sẽ đóng một vai trò không kém phần quyết định trong kỷ nguyên châu Á. Một kỷ nguyên châu Á đòi hỏi có một nền văn minh châu Á mới. Đó là vấn đề thiếu nhất ở châu Á. Theo ông Lý Quang Diệu, các nền văn minh xuất hiện khi xã hội loài người có thể đối phó với những thách thức một cách khôn ngoan và thành công. Nghĩa là, một “đội ngũ lãnh đạo kiên quyết”, một chính quyền hiệu quả nhất và kỷ luật xã hội mạnh mẽ hơn là nhũng điều cần thiết nhất ở các nước sẽ lãnh đạo kỷ nguyên châu Á. Nhưng thật đáng tiếc, cả Trung Quốc và Ấn Độ đều thiếu những điều kiện đó. Người châu Á thường thích sống với quá khứ cay đắng và muốn truyền lại những cay đắng đó cho con cái, cháu chắt của họ. Họ đang làm tương tự ở tất cả các khu vực châu Á từ Đông sang Tây và từ Bắc vào Nam. Họ muốn trở thành một nhà lãnh đạo thế giới và chỉ huy thế kỷ 21 được gắn liền với tên của châu Á, nhưng lại ít quan tâm và lắng nghe tiếng nói và nhân phẩm của những người hàng xóm. Hơn nữa, một kỷ nguyên châu Á đòi hỏi một số giá trị, văn hóa và truyền thống châu Á. Một nền văn hóa chung sống với nhau và cùng nhau chia sẻ lợi ích, nền văn hóa phi bạo lực, hòa bình và khoan dung – các giá trị văn hóa riêng của châu Á đang ràng buộc các xã hội của người châu Á qua nhiều thế kỷ, hiện chỉ hạn chế ở một số lĩnh vực của lục địa lớn nhất thế giới.

Các giá trị của người châu Á nhằm phát triển nền dân chủ cộng đồng và ý thức trách nhiệm giải trình mạnh mẽ hơn để bảo đảm xã hội châu Á phát triển mạnh qua hàng nghìn năm lịch sử không còn nữa. Các giá trị phổ quát như dân chủ, tự do cá nhân, và trách nhiệm giải trình của phương Tây được các chính phủ nhập khẩu và sao chép thuần túy mà không hề nỗ lực xây dựng và phát triển các giá trị đó trên mảnh đất của họ, vì vậy chúng trở thành hình thức bị xuyên tạc nhất như đã thể hiện ở nhiều nước châu Á và châu Phi. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, tiếp theo là Ấn Độ, có xu hướng tạo nên nhiều mâu thuẫn hơn trong khu vực. Như nhà khoa học chính trị người Mỹ Ian Bremmer nhấn mạnh trong cuốn sách nhan đề “Every Nation for Itself states” được xuất bản năm 2012: “Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản khó có thể cùng tồn tại trong thời gian dài và các nước như Inđônêxia, Hàn Quốc, và Thái Lan đủ mạnh để không bị lôi kéo hoàn toàn vào quỹ đạo của một nước khác. Châu Á có thể phát huy vai trò như một đầu tàu tăng trưởng kinh tế toàn cầu, nhưng khu vực này vẫn có quá nhiều thách thức an ninh tiềm tàng”. Nhiều người biết Trung Quốc phát triển thế nào, nhung không biết liệu Trung Quốc có thể vượt Mỹ để trở thành cường quốc kinh tế số một thế giới hay không. Sự giàu có của Trung Quốc được tích lũy qua các công ty nhà nước, nhưng chừng nào sự thịnh vượng đó vẫn chưa được thúc đẩy thông qua các chương trình và chính sách tư nhân, Trung Quốc không thể vượt Mỹ và duy trì sự phát triển bền vững. Mặt khác, cũng không ai biết Ấn Độ sẽ phát triển ra sao. Thực tế, chính sức mạnh của xã hội Ấn Độ đã giải quyết rất nhiều yếu kém, mâu thuẫn và phe phái trong nước, từ đó thúc đẩy nước này trở thành một nền dân chủ cùng với một nền kinh tế phát triển mạnh. Trung Quốc có một nhà nước mạnh và Ấn Độ có một xã hội mạnh. Nhà nước mạnh hơn nhưng phải trả giá bằng cách hy sinh các lợi ích xã hội và ngược lại xã hội mạnh hơn nhưng phải hy sinh các lợi ích của nhà nước, do đó hai nước lãnh đạo khu vực phải tìm được các mô hình thích hợp để hợp tác và thúc đẩy lẫn nhau. Thực hiện được điều đó sẽ hạn chế cuộc khủng hoảng niềm tin giữa các lãnh đạo chính trị của hai nước. Nếu đạt được một số niềm tin, họ có thể có những ý đồ táo bạo trong việc giải quyết các vấn đề của hai nước với các nước láng giềng. Nhưng những nỗ lực táo bạo đó đòi hỏi phải có các kỹ năng và nỗ lực ngoại giao dũng cảm hơn mới giải quyết được các vấn đề với các nước láng giềng. Hai nước phải hiểu rằng mức độ sức mạnh kinh tế và quân sự của họ khó có thể biến thành sức mạnh khiêm tốn bao gồm: sức mạnh chính trị, sức mạnh tri thức và sức mạnh đạo đức. Nếu không có các nhà lãnh đạo quyết đoán và có tầm nhìn xa trông rộng cộng với sự ủng hộ mạnh mẽ của dân chúng trong nước, sức mạnh khiêm tốn như vậy không thể được tạo ra. Chính sách ngoại giao được thúc đẩy bởi sức mạnh khiêm tốn như vậy cộng với giới lãnh đạo quyết tâm có thể được gọi là nền ngoại giao khiêm tốn – một vấn đề cấp thiết nhất trong trường hợp Trung Quốc và Ấn Độ muốn can dự và lãnh đạo một kỷ nguyên châu Á.

Nguồn: Anhbasam.

Kinh tế chính trị của quan hệ tiền tệ quốc tế

Nguồn: J. Lawrence Broz & Jeffry A. Frieden (2001). “The Political Economy of International Monetary Relations”, Annual Review of Political Science 2001, No.4, pp. 317–343. >>PDF
Biên dịch: Phan Thị Ngọc Mai | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp
Download: KTCT cua quan he tien te quoc te.pdf
Tóm tắt: Cấu trúc của quan hệ tiền tệ quốc tế đã trở thành vấn đề nổi bật trong suốt hai thập kỉ qua. Cả chính sách tỷ giá hối đoái trong nước và đặc tính của hệ thống tiền tệ quốc tế đều cần được giải thích. Ở cấp độ quốc gia, lựa chọn chế độ tỷ giá và mức độ kì vọng của tỷ giá hối đoái đều liên quan đến sự đánh đổi về phân phối lợi ích. Vì thế, áp lực từ các nhóm lợi ích và các đảng phái, cấu trúc của các thể chế chính trị, và động cơ tranh cử của các chính trị gia đều ảnh hưởng đến quyết định chọn chế độ tỷ giá và mức tỷ giá. Ở cấp độ quốc tế, tính chất của hệ thống tiền tệ quốc tế phụ thuộc vào sự tương tác chiến lược giữa các chính phủ, điều này vốn chịu tác động từ lợi ích quốc gia và bị ràng buộc bởi môi trường quốc tế. Đặc biệt, chế độ tiền tệ cố định quy mô toàn cầu hay khu vực đều đòi hỏi ít nhất có sự phối hợp và hợp tác rõ ràng giữa chính phủ các quốc gia.
Giới thiệu
Nghiên cứu về quan hệ tiền tệ quốc tế từ lâu đã được coi là thuộc phạm vi của các nhà kinh tế và một số ít các nhà khoa học về chính trị. Người ta thường cho rằng, không giống như quan hệ thương mại quốc tế, các khoản nợ, hay đầu tư nước ngoài, tỷ giá hối đoái hay các chính sách tiền tệ đối ngoại có liên quan đều quá chuyên môn hoặc xa vời so với mối quan tâm của công chúng và các nhóm lợi ích đặc biệt, vì thế ít thu hút sự quan tâm trực tiếp của các nhà kinh tế chính trị (Gowa 1988). Điều này không thực sự chính xác theo như minh họa từ lịch sử về khía cạnh chính trị đầy bất ổn của chế độ bản vị vàng và gần đây hơn là mối quan tâm đến chính sách tiền tệ của các quốc gia nhỏ có nền kinh tế mở như ở Bắc Âu và các nước đang phát triển. Tuy nhiên, đúng là việc giá trị tiền tệ dễ dự đoán tới mức tẻ nhạt dưới thời kì hệ thống Bretton Woods đã khiến nhiều học giả thờ ơ không để ý tới lĩnh vực này (ngoại trừ Cooper 1968, Kindleberger 1970, Strange 1971, Cohen 1977, Odell 1982 và Gowa 1983)

Sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods đã khiến các nhà khoa học chính trị quan tâm nhiều hơn đến vấn đề này, và trong những năm 1980, vấn đề tiền tệ quốc tế đã thu hút sự quan tâm của giới chính trị trong nước và quốc tế cũng như giới học thuật. Đồng đôla tăng giá 50% cùng với các quan ngại bùng nổ trong nước và quốc tế do nó gây ra, sự sụp đổ hệ thống tiền tệ ở các quốc gia đang phát triển mắc nợ nhiều, cùng những nỗ lực gây nhiều tranh cãi xung quanh việc cố định tỷ giá hối đoái Châu Âu, tất cả đều khiến các nhà nghiên cứu quan tâm hơn đến vấn đề này.
Từ năm 1990, quan hệ tiền tệ quốc tế trở nên nổi bật hơn trong thực tiễn, và nghiên cứu về khía cạnh kinh tế chính trị của nó cũng vì thế mà gia tăng tầm quan trọng. Chính sách tỷ giá trở thành trọng tâm của cả hai sự kiện có thể nói là đáng chú ý nhất trong nền kinh tế quốc tế gần đây: đó là việc thiết lập đồng tiền chung châu Âu và làn sóng các cuộc khủng hoảng tiền tệ lây lan qua các nước Châu Á, Mỹ Latinh và Nga trong giai đoạn từ năm 1994 đến năm 1999.
Mặc dù phần lớn các nghiên cứu về khía cạnh kinh tế chính trị của quan hệ tiền tệ quốc tế chủ yếu là trong thời gian gần đây nhưng nó đã đem đến những cách tiếp cận thú vị và quan trọng về mặt lý thuyết, các tranh luận mang tính phân tích và các kết luận thực nghiệm. Chúng tôi tóm tắt các nghiên cứu này nhưng không thể bao quát thấu đáo hết các văn liệu phức tạp với số lượng ngày một tăng lên. Trong mục này, chúng tôi phác thảo vấn đề phân tích, vạch ra phạm vi các kết quả cần được giải thích. Phần tiếp theo tập trung vào một nhóm các vấn đề cần giải thích, các lựa chọn chính sách của chính phủ các quốc gia, các nghiên cứu điều tra về khía cạnh kinh tế chính trị trong nước đối với lựa chọn về tỷ giá hối đoái. Phần thứ ba xem xét nhóm các vấn đề thứ hai cần được giải thích, sự hình thành và quá trình phát triển của các thể chế tỷ giá khu vực và toàn cầu.
Hai nhóm có liên quan với nhau trong các hiện tượng tiền tệ quốc tế đều cần được giải thích. Nhóm đầu tiên ở phạm vi quốc gia: chính sách của từng chính phủ cụ thể đối với tỷ giá hối đoái. Nhóm thứ hai ở phạm vi quốc tế: đặc tính của hệ thống tiền tệ quốc tế. Cả hai có tương tác với nhau theo các hướng quan trọng. Lựa chọn chính sách trong nước, đặc biệt là các nước lớn, có tác động mạnh mẽ đến bản chất của hệ thống tiền tệ quốc tế. Vương quốc Anh và Hoa Kì theo thứ tự là các nhà tạo lập nên hệ thống bản vị vàng cổ điển và trật tự tiền tệ Bretton Woods, và việc hai nước trên quyết định rút ra khỏi các hệ thống này đã đặt dấu chấm hết cho chúng. Tương tự như vậy, chế độ tiền tệ quốc tế cũng có tác động mạnh mẽ đến lựa chọn chính sách của các quốc gia. Một nước nhỏ như Bỉ hoặc Costa Rica sẽ dễ có khả năng cố định tỷ giá theo vàng trước năm 1914, theo đôla hoặc một loại tiền tệ khác kể từ năm 1945, khi phần lớn các nước láng giềng cũng làm như vậy. Hai nhóm vấn đề quốc gia và quốc tế tương tác với nhau rất phức tạp, nhưng để dễ dàng phân tích chúng ta sẽ quan sát hai biến phụ thuộc tách biệt: các lựa chọn chính sách quốc gia của các chính phủ và đặc tính của hệ thống tiền tệ quốc tế.
Chính sách tỷ giá hối đoái quốc gia
Chính phủ mỗi quốc gia phải quyết định xem nên cố định đồng tiền vào đôla, vào một đồng tiền khác, hoặc vào vàng (trong những giai đoạn trước đó) hay thả nổi. Nếu quốc gia đó chọn cách thả nổi đồng tiền, nó phải quyết định xem có nên để thị trường tự do định giá đồng tiền hay nên nhắm đến một phạm vi tỷ giá cụ thể. Nếu là phương án thứ hai thì chính phủ phải quyết định mức giá mong muốn, nói khái quát là nên để tỷ giá hối đoái “mạnh” (tương đối tăng giá) hay “yếu” (tương đối giảm giá). Trong những trường hợp cụ thể, chính phủ phải quyết định ngay lập tức xem sẽ bảo vệ hay phá giá đồng tiền khi bị tấn công. Nhìn chung là có hai loại quyết định phải được đưa ra. Một là chế độ tỷ giá (ví dụ, cố định hay thả nổi) và hai là mức giá của đồng tiền (mạnh hay yếu).
Các lựa chọn này đều có tác động quan trọng về kinh tế và chính trị, và cũng không có một quan điểm kinh tế áp đảo nào về thế nào là một chính sách tỷ giá quốc gia tối ưu. Về điểm này, chính sách tiền tệ quốc tế khác với chính sách thương mại. Có nhiều quan điểm kinh tế thuyết phục xoay quanh lợi thế về của cải được tạo ra nhờ tự do thương mại, và tự do thương mại có thể được coi là đường cơ sở mà chính sách các quốc gia xoay quanh, và khoảng cách từ chính sách quốc gia tới tự do thương mại là điều cần được lý giải. Đối với chính sách tiền tệ, không có một lập luận rõ ràng nào về hiệu quả kinh tế để ủng hộ hay phản đối một mức độ cụ thể nào đó của tỷ giá hối đoái thực tế. Một loại tiền tệ mạnh (tăng giá) có giá trị tương đối so với các loại tiền tệ khác, vì thế mà các cư dân của quốc gia đó có sức mua cao hơn. Tuy nhiên, một đồng tiền mạnh sẽ khiến các nhà sản xuất trong nước các mặt hàng (hàng hóa và dịch vụ) có thể buôn bán trên thế giới vấp phải cạnh tranh nhiều hơn từ nước ngoài vì đồng tiền mạnh làm cho giá cả hàng hóa nước ngoài rẻ hơn một cách tương đối. Mặc dù các chính trị gia chắc chắn quan tâm đến các hiệu ứng này – cân nhắc mặt tích cực của việc thu nhập chung tăng lên so với hiệu ứng tiêu cực do cạnh tranh với nước ngoài tăng lên- cũng không có một lý do kinh tế thuần khiết nào là thắng thế hoàn toàn về việc chọn một chính sách nào đó. Trong văn liệu về một số khu vực tiền tệ tối ưu tồn tại một cách tiếp cận kinh tế chiếm ưu thế đối với vấn đề liên minh tiền tệ (và vì vậy, đối với tỉ giá hối đoái cố định). Nhưng văn liệu này không mang tính bao quát toàn diện, do đó chỉ có ít yếu tố thuần kinh tế có thể giải thích các chính sách của chính phủ các quốc gia.
Điều này có nghĩa là chính sách tỷ giá hối đoái của các quốc gia cần được cân nhắc cùng với các hệ quả chính trị của nó, vì sự đánh đổi mà các chính phủ phải cân nhắc là giữa các giá trị có tầm quan trọng khác nhau đối với các chủ thể chính trị – xã hội khác nhau. Chính phủ phải cân nhắc tầm quan trọng tương đối của sức mua của người tiêu dùng, sức cạnh tranh của nhà sản xuất các mặt hàng có thể buôn bán quốc tế, và tính ổn định của các biến kinh tế vĩ mô danh nghĩa. Sau đây chúng tôi khảo sát các cân nhắc chính trị tác động đến chính sách, nhưng trước tiên là miêu tả cấp độ quốc tế của việc phân tích các vấn đề tiền tệ quốc tế.
Các hệ thống tiền tệ quốc tế
Có hai loại chế độ tiền tệ quốc tế lý tưởng, và hệ thống tiền tệ hiện nay có xu hướng đi theo một trong hai loại này. Một là hệ thống tỷ giá cố định, theo đó đồng nội tệ được neo vào một đồng tiền khác tại một tỷ suất ngang bằng được công bố chính thức (và được thiết lập rõ ràng về mặt pháp lý). Một số hệ thống tỷ giá cố định có đồng tiền neo vào một loại hàng hóa như là vàng hay bạc, một số khác lại được neo vào một đồng tiền khác như đồng đôla Mỹ. Một chế độ tiền tệ điển hình mang tính lý tưởng khác là thả nổi hoàn toàn, theo đó giá trị của đồng tiền thay đổi theo điều kiện của thị trường và các chính sách kinh tế vĩ mô của quốc gia. Có thể có nhiều cấp độ khác nhau nằm giữa hai thái cực này.
Trong vòng 150 năm qua, thế giới đã trải qua ba trật tự tiền tệ quốc tế được biết đến rộng rãi. Trong khoảng 50 năm trước Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, và sau đó lặp lại trong một dạng thức được cải tổ đáng kể vào những năm 1920, phần lớn các quốc gia chủ chốt trên thế giới sử dụng chế độ bản vị vàng, một hệ thống tỷ giá cố định điển hình. Dưới chế độ bản vị vàng, chính phủ các quốc gia tuyên bố một giá trị tương đương vàng cố định cho đồng tiền của họ và cam kết sẽ trao đổi tiền với vàng theo tỷ lệ này. Từ cuối những năm 1940 đến đầu những năm 1970, thế giới tư bản đã được hệ thống theo trật tự tiền tệ Bretton Woods, một hệ thống tỷ giá cố định đã được sửa đổi. Dưới trật tự Bretton Woods, đồng nội tệ được cố định theo đồng đôla và đồng đôla được cố định theo vàng. Tuy nhiên, chính phủ các quốc gia có thể và thực tế đã thay đổi tỷ giá hối đoái trong những trường hợp đặc biệt, vì thế tỉ giá không cố định hoàn toàn như dưới chế độ bản vị vàng cổ điển. Từ năm 1973 đến nay, và trong khoảng thời gian ngắn vào những năm 1930, đã có một trật tự thống trị khác trong đó các quốc gia lớn nhất không ít thì nhiều đã thả nổi hoàn toàn đồng nội tệ và không có một cột neo danh nghĩa nào, trong khi các nước nhỏ hơn lại có xu hướng cố định theo một trong những đồng tiền mạnh hoặc để đồng tiền thả nổi với các mức độ khác nhau dưới sự quản lý của chính phủ.
Chế độ tiền tệ có thể mang tính khu vực hoặc quốc tế. Dưới chế độ tỉ giá hối đoái tự do (thả nổi) quốc tế phổ biến từ những năm 1973, một số hệ thống tỷ giá cố định mang tính khu vực vẫn đã xuất hiện hoặc được đưa ra xem xét. Một số hệ thống đơn giản là cố định đồng tiền của các nước nhỏ vào đồng tiền một nước lớn hơn, ví dụ, khu vực đồng frăng CFA (Cộng đồng tài chính châu Phi) đã neo tỷ giá 12 nước châu Phi với nhau và với đồng frăng của Pháp (hiện nay là đồng Euro). Một số nước khu vực Mỹ Latinh và vùng Ca-ri-bê tương tự đã neo đồng tiền của mình vào đồng đôla Mỹ và một số nước khác cũng đang cân nhắc điều này. Một loại khác của chế độ tỷ giá cố định trong khu vực là liên kết một số đồng tiền khu vực với nhau, thường là một bước đi hướng tới áp dụng một đồng tiền chung. Đó là trường hợp của đồng tiền chung châu Âu, vốn ban đầu dựa trên một thỏa thuận khu vực hạn chế, sau đó phát triển thành một kiểu liên kết với đồng Mác Đức, và cuối cùng trở thành một liên minh tiền tệ với một đồng tiền chung và một ngân hàng chung châu Âu. Các nước khu vực Đông Ca-ri-bê và Nam Phi cũng đã phát triển các liên minh tiền tệ.
Vì vậy, các biến phụ thuộc của chúng ta là, (a) chính sách tỷ giá của một số chính phủ quốc gia cụ thể, đặc biệt là lựa chọn mức và chế độ tiền tệ; và  (b) chế độ tiền tệ quốc tế, đặc biệt là mức độ mà các đồng tiền được cố định với nhau.  Sự thực là hai biến phụ thuộc này có liên quan với nhau. Chính sách tiền tệ quốc gia phụ thuộc vào đặc tính hệ thống tiền tệ quốc tế, và sự phát triển của các mối quan hệ tiền tệ quốc tế bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi quyết định của các quốc gia chính về thương mại và đầu tư. Tương tự như vậy, các mối quan hệ tiền tệ quốc tế cũng tương tác với các chính sách kinh tế khác. Các biện pháp định giá tiền tệ sai lệch thường dẫn tới áp lực bảo hộ nền công nghiệp trong nước và thậm chí là chiến tranh thương mại, tương tự như khi sự phát triển của quan hệ thương mại ảnh hưởng lại quyết định chọn chính sách tỷ giá hối đoái. Các chính sách đối với dòng tiền tài chính và đầu tư quốc tế đều bị ảnh hưởng bởi và tác động đến sự vận động của tỷ giá hối đoái. Hiệu ứng tương tác phức tạp này rất quan trọng, nhưng chúng ta không biết cần phải suy nghĩ về chúng như thế nào cho thống nhất và có hệ thống. Bài viết này tập trung vào khía cạnh kinh tế chính trị của bản thân chính sách tiền tệ quốc tế, nhấn mạnh vào các câu trả lời tiềm năng đối với hai câu hỏi mang tính giải thích được định nghĩa hẹp của chúng tôi.
Các tài liệu cùng nguồn gốc về khía cạnh kinh tế chính trị của các chính sách kinh tế quốc tế quan trọng khác cũng rất hữu ích cho việc phân tích chính sách tiền tệ quốc tế. Các phân tích chính sách thương mại và đầu tư quốc tế bắt đầu bằng một nhận thức cho trước về lợi ích phân phối bị ảnh hưởng, như các lợi ích theo ngành, theo lĩnh vực, và theo từng công ty cụ thể, vốn bắt nguồn từ lý thuyết hoặc các điều tra thực nghiệm. Sau đó các phân tích này tìm hiểu xem các lợi ích này được tập hợp lại và được dàn xếp như thế nào bởi các thể chế chính trị xã hội như công đoàn và các hiệp hội kinh doanh, các đảng phái chính trị, hệ thống bầu cử, cơ quan lập pháp và bộ máy hành chính. Cuối cùng, các phân tích này sẽ tìm hiểu mối tương quan giữa các chính sách bắt nguồn từ quốc gia và các chính sách bắt nguồn từ các nước khác, đặc biệt trong các tình huống tương tác chiến lược giữa các quốc gia có thể đóng vai trò quan trọng, như khi chính sách của một chính phủ này phụ thuộc vào phản ứng của các chính phủ khác. Cấu trúc đang hình thành về việc phân tích và giải thích khía cạnh chính trị của tiền tệ và tài chính quốc tế đều tuân theo mẫu hình này. Trong phần tiếp theo, chúng ta sẽ tóm tắt lại cấp độ phân tích trong nước, đặc biệt là cách thức mà các nhóm lợi ích và các thể chế tương tác với nhau trong quá trình thiết lập chính sách quốc gia.
Khía cạnh kinh tế chính trị trong nước của chính sách tỷ giá hối đoái
Các nhà hoạch định chính sách trong nước quyết định về chế độ tỷ giá hối đoái và mức kì vọng của tiền tệ. Quyết định về chế độ tiền tệ là liệu có nên để tiền tệ tự do thả nổi hoặc cố định nó theo một đồng tiền khác hay không. Chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn hoặc cố định bất biến chỉ là hai trong số nhiều lựa chọn có thể mà thôi. Có ít nhất là chín loại chế độ tỷ giá đang tồn tại, từ thả nổi hoàn toàn tới liên minh tiền tệ, thái cực cao nhất của hệ thống tỷ giá cố định (Frankel 1999). Với tất cả những chế độ tồn tại giữa hai thái cực này, các nhà hoạch định chính sách phải đối mặt với các lựa chọn liên quan đến mức giá của tỷ giá hối đoái. Quyết định mức giá bao gồm những chính sách ảnh hưởng đến giá trị của đồng nội tệ được định giá so với đồng ngoại tệ. Tỷ giá hối đoái này bản thân nó có thể là mục tiêu hướng đến của chính sách, với một tỷ giá cụ thể được xác định sẵn hoặc được tính theo một công thức rõ ràng nào đó. Lựa chọn khác là chính sách tỷ giá có thể được quản lý chủ động kết hợp với các thành phần khác trong chính sách tiền tệ. Một số chính phủ công bố một biên độ mà theo đó đồng tiền được phép vận động, hoặc họ hành động mà không tuyên bố chính thức nhằm giới hạn dao động của tỷ giá hối đoái trong phạm vi biên độ đó. Dù cơ chế là như thế nào, quyết định mức giá cũng nằm trong phạm vi giữa một đồng tiền được định giá cao hay thấp hơn. Mặc dù quyết định về chế độ tỷ giá và mức giá có liên quan đến nhau, chúng tôi sẽ phân tích riêng biệt để dễ tìm hiểu rõ ràng hơn. Chúng tôi cố gắng phác họa các yếu tố kinh tế chính trị trong nước có ảnh hưởng đến quyết định của chính phủ trong cả hai khía cạnh của vấn đề này.
Giống như các lĩnh vực khác của chính sách kinh tế, quyết định về tỷ giá hối đoái cũng bao gồm sự đánh đổi giữa các mục tiêu mong muốn. Một lượng văn liệu kinh tế hiện hữu đã nghiên cứu chi phí và lợi ích của các chính sách tiền tệ khác nhau từ góc độ của một nhà hoạch định xã hội “nhân từ”, vốn có thể coi là một điểm khởi đầu hữu ích để đánh giá mức độ hấp dẫn của chính sách trên phương diện phúc lợi quốc gia. Tuy nhiên, các nghiên cứu về kinh tế chính trị trong thời gian gần đây có xét đến vai trò của áp lực đến từ các nhóm lợi ích và các phe phái, các thể chế chính trị và các động cơ liên quan đến bầu cử của các chính trị gia. Một chủ đề quan trọng là các chính sách tiền tệ có tác động phân phối lại lợi ích trong nước và tạo thành môi trường chính trị xã hội mà trong đó các nhà hoạch định chính sách có thể đánh giá chi phí và lợi ích. Một chủ đề thứ hai là các thể chế bầu cử, lập pháp và hành chính trong nước ảnh hưởng đến động cơ của các chính trị gia khi họ phải đối mặt với những sự đánh đổi trong chính sách tiền tệ. Chúng tôi phát triển các chủ đề đó ở phần dưới đây, nhấn mạnh rằng các đánh đổi về kinh tế được định hình bởi các yếu tố chính trị và thể chế.
Cố định hay thả nổi
Cuộc tranh luận của chúng ta về lựa chọn chế độ [tỉ giá] tập trung vào hai thái cực: thả nổi hoàn toàn và cố định hoàn toàn – vì việc phân tích các trường hợp nằm giữa đều xuất phát từ việc phân tích hai thái cực này. Sự đánh đổi mà chúng tôi miêu tả cũng áp dụng đối với các lựa chọn nằm ở giữa – như khu vực mục tiêu (target zone), neo tỉ giá có điều chỉnh và neo tỉ giá với biên độ điều chỉnh (crawling peg and bands), v.v…,  mặc dù các đánh đổi này không nổi bật rõ như ở hai thái cực (Frankel 1999). Cách xử lý về kinh tế đối với lựa chọn chế độ tỉ giá đến từ hai góc nhìn chính (a) các cách tiếp cận vĩ mô của nền kinh tế mở, bao gồm việc xem xét các tiêu chí khu vực tiền tệ tối ưu; và (b) xử lý các kỳ vọng hợp lý đối với vấn đề niềm tin vào chính sách tiền tệ.
Từ góc độ nền kinh tế mở, lợi ích chủ yếu của một chế độ tỉ giá cố định là giảm thiểu rủi ro tỷ giá và chi phí giao dịch vốn có thể ngăn cản thương mại và đầu tư quốc tế (Mundell 1961, Mc Kinnon 1962, Kenen 1969). Tỷ giá không ổn định sẽ tạo sự không chắc chắn trong giao dịch quốc tế, gây thêm chi phí dự trù rủi ro được tính vào giá của hàng hóa và tài sản được buôn bán qua biên giới quốc gia. Mặc dù có thể phòng ngừa rủi ro này trên các thị trường phái sinh, hành động phòng ngừa này cũng luôn bao gồm chi phí, và chi phí này tăng lên tỉ lệ thuận với khoảng thời gian của giao dịch. Và các kinh nghiệm gần đây cho thấy có những sự bất ổn trên thị trường tiền tệ không thể giải thích được, vì thế phòng ngừa rủi ro càng trở nên khó khăn với tiền tệ của các quốc gia nhỏ. Bằng cách ổn định đồng nội tệ, chính phủ có thể giảm thiểu hoặc thậm chí loại bỏ rủi ro tỷ giá, khuyến khích thương mại và đầu tư – một mục tiêu đáng mong ước. Một bước tiếp theo tiến tới liên minh tiền tệ sẽ loại bỏ các chi phí giao dịch còn lại, tạo động lực thúc đẩy mạnh mẽ hơn việc hội nhập kinh tế.
Tuy nhiên việc cố định tỉ giá cũng có chi phí của nó. Để có thể đạt được lợi ích của việc hội nhập kinh tế bằng việc cố định tỷ giá hối đoái, các chính phủ phải hi sinh khả năng vận hành một chính sách tiền tệ độc lập. Nguyên tắc “bộ ba bất khả thi” (impossible trinity) giải thích rằng ở những nơi mà nguồn vốn có thể linh động di chuyển trên phạm vi quốc tế, các quốc gia không thể đạt được sự độc lập về chính sách tiền tệ và chế độ tỷ giá cố định cùng một lúc (Mundell 1962, 1963). Nguyên tắc này chỉ ra rằng một quốc gia phải từ bỏ một trong ba mục tiêu: ổn định tỷ giá, độc lập tiền tệ, và hội nhập thị trường tài chính. Khi nguồn vốn có thể tự do dịch chuyển trên phạm vi quốc tế, lãi suất trong nước không thể khác quá xa so với lãi suất trên thế giới, vì dòng vốn bị hấp dẫn bởi các cơ hội kinh doanh chênh lệch giá sẽ nhanh chóng làm loại bỏ sự khác biệt này. Có nhiều chứng cớ mạnh mẽ ở cả các quốc gia đã phát triển (Marston 1995) và các quốc gia đang phát triển (Edwards 1999) cho thấy hội nhập tài chính đã tiến triển rất nhiều khiến cho sự linh động vốn có thể ít nhiều được coi như điều đương nhiên, khiến cho chỉ còn hai lựa chọn là hi sinh ổn định tỷ giá hoặc từ bỏ độc lập về tiền tệ.[1] Một chế độ tỷ giá cố định cùng với dòng vốn linh hoạt di chuyển quốc tế làm cho chính sách tiền tệ trở nên không hiệu quả, cũng có nghĩa là không còn có thể sử dụng chính sách tiền tệ cho mục đích kiểm soát cầu hoặc điều chỉnh cán cân thanh toán. Điều đó đặt ra sự đánh đổi giữa hai giá trị xung đột lẫn nhau: ổn định và linh hoạt. Đạt được ổn định về tiền tệ là một lợi ích đáng kể cho các quốc gia đã gánh chịu lạm phát cao và biến đổi liên tục cũng như có các sự xáo trộn về tiền tệ trong nước. Nhưng vì đạt được sự ổn định này đồng nghĩa với việc phải từ bỏ sự linh hoạt về tiền tệ, nên đây có thể là một chi phí lớn cho các quốc gia đối mặt với cá cú sốc nặng nề từ bên ngoài mà khi đó [sử dụng] chính sách tiền tệ có thể là một cách ứng phó phù hợp.
Trong khi quan điểm truyền thống về tỷ giá ổn định phụ thuộc vào lợi ích của sự hội nhập, các phân tích gần đây lại có xu hướng nhấn mạnh vào vấn đề niềm tin và vai trò của chế độ tỷ giá cố định trong việc làm bình ổn các kì vọng lạm phát. Xuất phát từ văn liệu về kì vọng hợp lý, công trình này dựa vào các vấn đề mâu thuẫn về thời gian được miêu tả bởi Kydland và Presscott (1977), Barro và Gordon (1983). Vấn đề phát sinh khi chính sách tiền tệ được thiết lập trong điều kiện bảo mật và lương cùng với giá cả không hoàn toàn linh động. Trong các điều kiện như vậy, một nhà hoạch định chính sách có thể tìm cách đánh lừa các chủ thể tư nhân bằng việc tạo ra lạm phát bất ngờ, hi vọng tạo ra một sự tăng trưởng tạm thời về sản lượng. Tuy nhiên các chủ thể tư nhân đã lường trước xu hướng này và đưa nó vào xem xét khi đặt ra kì vọng về lạm phát. Các kì vọng này có thể tạo ra một xu hướng tính trước lạm phát vào việc mặc cả lương và thiết lập giá. Do đó, khi các nhà hoạch định chính sách gây ra lạm phát bất ngờ, kết quả là lạm phát cao hơn chứ không phải sản lượng cao hơn. Mấu chốt trong giải quyết vấn đề mâu thuẫn thời gian này là vấn đề niềm tin. Nếu khu vực tư nhân tin rằng chính sách sắp sửa được công bố là đáng tin cậy, lạm phát kì vọng có thể được kiểm soát mà không ảnh hưởng tới sản lượng.
Cố định tỷ giá hối đoái tạo nên một nguyên tắc tự động cho việc tiến hành các chính sách tiền tệ theo hướng phòng ngừa vấn đề mâu thuẫn thời gian và tăng mức độ đáng tin cậy trong cam kết của chính phủ nhằm giữ lạm phát thấp (Giavazzi và Pagano 1988, Canavan và Tommasi 1997). Trong chế độ tỷ giá cố định, chính sách tiền tệ phụ thuộc vào các yêu cầu để duy trì tỷ giá cố định, do đó loại bỏ quyền tự do quyết định của chính phủ. Các vấn đề trong nước như ổn định giá cả được đề cao hơn mục tiêu đối ngoại như cân bằng cán cân thanh toán và sức cạnh tranh. Trong lịch sử, cam kết của quốc gia đối với chế độ bản vị vàng là mục tiêu bên ngoài quan trọng nhất. Gần đây, nhiều quốc gia đã neo đồng nội tệ vào đồng tiền của một quốc gia lớn có lạm phát thấp (Mishkin 1999).
Mặc dù cố định tỷ giá không phải là cách duy nhất để cam kết chính sách lạm phát thấp – sự độc lập của ngân hàng trung ương với các mục tiêu về giá hoặc lạm phát có thể là phương án thay thế-  tính minh bạch khiến nó trở thành một biện pháp phổ biến trong trường hợp các giải pháp thay thế không thể được công chúng kiểm soát dễ dàng (Herrendorf 1999, Canavan và Tommasi 1997). Khi chính phủ cam kết neo tỉ giá, điều đó trở thành một lời hứa có thể xác thực dễ dàng. Hoặc chính phủ theo đuổi các chính sách kinh tế vĩ mô thống nhất với chế độ tỷ giá cố định, hoặc không, mà trong trường hợp đó chế độ tỷ giá cố định sẽ bị sụp đổ. Trên thực tế không có một lý do kỹ thuật nào khiến cho không thể duy trì được một chế độ tỷ giá cố định, ngay cả trong trường hợp bị tấn công đầu cơ quy mô lớn (Obstfeld và Rogoff 1995). Vì thế, phá giá đồng tiền là một chỉ dấu công khai cho thấy chính phủ không thể thực hiện lời hứa. Tính minh bạch của chế độ tỷ giá cố định làm tăng mức độ tin cậy vào cam kết của chính phủ nhằm giữ lạm phát thấp nhưng cũng có giá của nó, thể hiện ở sự mất đi tính linh động trong chính sách tiền tệ. Sự đánh đổi ở đây là giữa lòng tin và tính linh động.
Vậy liệu các quốc gia chọn chế độ tỷ giá cố định có thực sự chứng kiến sự tăng trưởng trong thương mại và niềm tin hay không? Các nghiên cứu chuỗi thời gian của mối quan hệ giữa sự thay đổi trong tỷ giá và thương mại (hoặc đầu tư) thường nhận thấy các hiệu ứng nhỏ và yếu (Frankel 1995). Tuy nhiên, các hiệu ứng mạnh mẽ hơn lại được tìm thấy trong các phân tích toàn bộ dân số nghiên cứu tại một thời điểm (cross-sectional evaluations). Các quốc gia dùng đồng tiền chung (hoặc có chế độ tỷ giá ổn định lâu dài) buôn bán nhiều gấp ba lần các quốc gia tương đương có đồng tiền riêng biệt (Rose 2000). Về vấn đề niềm tin, chế độ tỷ giá cố định được coi là biện pháp ưa dùng ở các quốc gia đang tìm cách giải quyết nhanh chóng cho vấn đề lạm phát kéo dài (Vegh 1992). Các bằng chứng mang tính hệ thống từ 136 quốc gia trong thời kì hơn 30 năm đã cho thấy rằng chế độ tỷ giá cố định đi kèm với lạm phát thấp nhưng sản lượng biến động nhiều hơn so với dưới chế độ tỷ giá linh hoạt (Ghosh et al 1997).
Lý thuyết và thực tiễn đã cho thầy rằng cố định tỷ giá vào đồng tiền của một quốc gia có tỷ lệ lạm phát thấp sẽ (a) thúc đẩy thương mại và đầu tư quốc tế và (b) tạo ra trật tự cho chính sách tiền tệ vì cung cấp một cột neo danh nghĩa có thể quan sát được để định giá đồng nội tệ. Mặt khác, lợi thế của chế độ tỷ giá thả nổi lại cho phép chính phủ độc lập về chính sách tiền tệ. Dưới chế độ tỷ giá thả nổi hoàn toàn, cung và cầu nội tệ so với đồng ngoại tệ là cân bằng trên thị trường. Ngân hàng trung ương không có nghĩa vụ hay cần thiết phải can thiệp. Vì thế, tổng lượng tiền nội tệ không bị ảnh hưởng bởi dòng tiền từ bên ngoài, vì thế một chính sách tiền tệ có thể được thực hiện mà không phải để ý nhiều đến chính sách tiền tệ các nước khác. Sự độc lập này là rất quan trọng vì nó cho phép có được sự linh hoạt để ứng phó với các cú sốc trong nước và nước ngoài, bao gồm các thay đổi trong điều kiện trao đổi thương mại bên ngoài và lãi suất. Tổng quát hơn, dưới chế độ thả nổi hoàn toàn, chính sách tiền tệ có thể tự thiết lập cho phù hợp với hoàn cảnh trong nước (ví dụ như mục tiêu ổn định) và tỷ giá hối đoái trở thành phụ thuộc, đi theo bất cứ con đường nào phù hợp với chính sách ổn định đó.
Một lợi thế liên quan khác của chính sách thả nổi là nó cho phép tỷ giá hối đoái có thể được sử dụng như một công cụ chính sách. Sự linh động này là rất đáng giá khi đồng tiền tăng giá thực, gây ra bởi nguyên nhân lạm phát do quán tính (inertial inflation) hoặc dòng vốn chảy vào trong thời gian ngắn, đe dọa ảnh hưởng đến sức cạnh tranh trên trường quốc tế và gây ra khủng hoảng cán cân thanh toán – một biểu hiện thường thấy ở các quốc gia đang phát triển hoặc có nền kinh tế đang chuyển đổi vốn sử dụng chế độ tỷ giá cố định như một chiếc neo danh nghĩa vì mục đích gây dựng niềm tin (Edwards và Savastano 1999).  Khi xuất hiện sự chênh lệch về mức lạm phát giữa quốc gia cố định tỷ giá và quốc gia neo, nó sẽ gây ra một sự tăng giá thật, mà nếu không có sự tăng lên về năng suất bù lại sẽ gây ra các vấn đề về cán cân thanh toán. Một chế độ tỷ giá linh hoạt sẽ cho phép các nhà hoạch định chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái danh nghĩa để đảm bảo tính cạnh tranh của khu vực sản xuất hàng hóa buôn bán được. Tuy nhiên, chế độ tỷ giá càng linh hoạt thì mức độ tin cậy càng hạn chế. Sự đánh đổi giữa niềm tin và sức cạnh tranh là đáng lưu tâm ở các quốc gia nơi mà lạm phát là vấn đề kéo dài (Frieden et al 2001).
Chế độ nào là tốt nhất cho một quốc gia cụ thể một phần dựa vào đặc điểm nền kinh tế của quốc gia đó. Các tài liệu về khu vực tiền tệ tối ưu chỉ ra một số yếu tố chủ yếu, trong đó tiêu biểu là mức độ mở cửa, quy mô nền kinh tế, độ nhạy cảm với các cú sốc, và độ linh hoạt của lao động khi dịch chuyển giữa các khu vực. Nói chung, khi một khu vực có đặc trưng là sự di chuyển dễ dàng của lao động, hoặc khi các quốc gia hội nhập mật thiết với các nước láng giềng đến mức cùng chịu các biến động chung thì lợi ích từ việc duy trì tỷ giá cố định sẽ lớn hơn chi phí do từ bỏ sự độc lập về tiền tệ (Frankel 1995). Các quốc gia dễ chịu ảnh hưởng từ những biến động bên ngoài (như sự thay đổi trong điều kiện mậu dịch) thì sẽ thích hợp hơn với chế độ tỷ giá thả nổi, trong khi các quốc gia lo ngại về cú sốc với đồng nội tệ nên duy trì tỷ giá cố định. Hơn nữa, khi các cú sốc ảnh hưởng tới một quốc gia và các nước lân cận có tính tương quan cao thì không cần thiết duy trì chính sách tiền tệ độc lập vì một chính sách duy nhất sẽ là phù hợp cho toàn bộ khu vực. Ngoài ra, có ít sự đồng thuận nhất trí về tiêu chí phúc lợi trong các sự lựa chọn chế độ tỷ giá (Frankel 1999). Khi mà các điều kiện kinh tế đối với việc chọn chế độ tối ưu là rất đa dạng, thật không có gì đáng ngạc nhiên khi các phát hiện về mặt thực nghiệm thường rất yếu ớt hoặc mâu thuẫn (Tavlas 1994, Edison và Melvin 1990).
Một nhược điểm cơ bản trong cách tiếp cận vấn đề niềm tin và nền kinh tế mở là giả định ngầm rằng các nhà hoạch định chính sách lựa chọn chế độ tiền tệ để tối đa hóa tổng phúc lợi xã hội. Có ít lí do để tin rằng chính sách tiền tệ ít mang yếu tố chính trị hơn các chính sách kinh tế. Trong phần tiếp theo chúng tôi sẽ rời khỏi giả định về nhà hoạch định xã hội “tốt bụng” và khảo sát các công trình nghiên cứu các động cơ chính trị và các ràng buộc có tác động đến quyết định chế độ tiền tệ.
Các nhóm lợi ích và lựa chọn chế độ tiền tệ
Một điều tối ưu cho cả một đất nước không có nghĩa là tối ưu cho một vài nhóm cụ thể trong phạm vi nước đó. Ví dụ như chính sách tự do thương mại, mặc dù được cho là tăng phúc lợi cho toàn bộ đất nước, nhưng lại có người được lợi và cả người chịu thiệt vì chính sách đó. Hiệu ứng phân phối này tạo nên nền tảng cho “lý thuyết thuế quan nội sinh”, giải thích cho việc trốn tránh tự do thương mại bằng cách vạch ra các nhóm ủng hộ và phản đối sự bảo hộ và các điều kiện mà theo đó họ có ảnh hưởng nhiều nhất (Milner 1999). Quyết định lựa chọn chế độ tiền tệ, cũng như lựa chọn giữa tự do thương mại và bảo hộ, đều có các hiệu ứng về phân phối ở trong nước.
Chúng tôi bắt đầu bằng việc xem xét các ưu điểm và nhược điểm của nhóm gây áp lực, hay cách tiếp cận “phía cầu” đối với lựa chọn chế độ tiền tệ, mà theo đó một trong những nguyên nhân giải thích cho nó là hiệu ứng phân phối gây ra bởi lựa chọn chế độ tỉ giá hối đoái. Sau đó chúng tôi sẽ trình bày các phân tích về “phía cung”, như tính chất của các thể chế chính trị và tiền tệ trong nước cùng với động cơ của các chính trị gia tư lợi làm việc trong các thể chế đó. Mặc dù các khía cạnh của mối liên hệ giữa các nhóm lợi ích, chính trị và chính sách vẫn chưa hoàn thiện, tài liệu này là những nền móng đầu tiên cho việc nghiên cứu khía cạnh kinh tế chính trị trong việc lựa chọn chế độ tiền tệ.
Quyết định lựa chọn chế độ tiền tệ bao gồm những sự đánh đổi giữa các mục tiêu như đã được nói đến ở trên. Các tranh luận nhấn mạnh đến nhu cầu cần có một chế độ tiền tệ cho rằng các nhóm xã hội có sự ưu tiên khác nhau trong việc đánh đổi giữa tính ổn định và sự linh động. Hãy nhớ lại rằng một trong những lợi thế quan trọng của tỷ giá ổn định là thương mại và đầu tư quốc tế có thể được tiến hành mà trong đó rủi ro mất mát về vốn do dao động tỷ giá sẽ được tối thiểu hóa. Sự đánh đổi ở đây là chế độ tỷ giá cố định yêu cầu hạ thấp tầm quan trọng của chính sách tiền tệ trong nước so với các quan tâm về đồng tiền và cán cân thanh toán. Có một khuôn khổ cơ bản nhận diện cách các nhóm trong xã hội nhìn nhận về sự đánh đổi giữa ổn định và linh động (Frieden 1991, Hekefer 1997).  Một cách đơn giản nhất, các nhóm này được sắp xếp theo thang đo mức độ tham gia vào hoạt động kinh tế trong nước hay quốc tế. Những nhóm tham gia nhiều vào thương mại và đầu tư quốc tế (như là nhà sản xuất các mặt hàng xuất khẩu, nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư tài chính, các nhà buôn quốc tế) sẽ thích sự ổn định trong tỷ giá hối đoái, vì sự thay đổi tỷ giá sẽ gây ra mối lo ngại khiến kinh doanh rủi ro và tốn kém hơn. Tương tự, họ không quan tâm nhiều đến sự đánh mất tự chủ về chính sách tiền tệ vì họ tiến hành hoạt động kinh doanh ở nhiều nước, cho nên khi điều kiện kinh tế vĩ mô trong nước không thuận lợi họ có thể chuyển hướng kinh doanh hoặc tài sản ra nước ngoài.
Ngược lại, các nhóm mà hoạt động kinh tế chủ yếu diễn ra trong phạm vi quốc gia thì có lợi hơn khi áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi. Khu vực sản xuất không giao dịch quốc tế được (như dịch vụ, xây dựng, giao thông vận tải) và các nhà sản xuất mặt hàng cạnh tranh với nhập khẩu đều thuộc nhóm này. Các nhà sản xuất mặt hàng không buôn bán quốc tế được không phải quan tâm quá nhiều đến tỷ giá hối đoái vì hoạt động kinh tế của họ chủ yếu hạn chế ở phạm vi trong nước. Vì thế, họ không phải chịu rủi ro và chi phí do thay đổi tỷ giá. Tuy nhiên, khu vực sản xuất mặt hàng không buôn bán quốc tế được lại rất nhạy cảm với các điều kiện kinh tế vĩ mô trong nước, vì thế họ ưu tiên sự tự chủ quốc gia tạo ra nhờ chế độ tỷ giá thả nổi. Logic này cũng đúng với nhà sản xuất các mặt hàng cạnh tranh với hàng nhập khẩu, với điều kiện là thay đổi trong tỷ giá có thể giảm sức cạnh tranh của hàng nhập khẩu bằng cách làm cho việc nhập khẩu trở nên rủi ro và tốn kém hơn.
Ưu điểm của cách tiếp cận dựa trên nhóm áp lực là nó đưa ra một dự đoán rõ ràng về ưu tiên của các nhóm xã hội khác nhau đối với chế độ tỉ giá theo hướng giống như lý thuyết thuế quan nội sinh (endogenous tariff theory). Nó cũng tạo lập nền tảng cho việc cải thiện dự đoán. Ví dụ, mức độ nhạy cảm của nền công nghiệp nhập khẩu với thay đổi tỉ giá phụ thuộc vào khả năng của nó trong việc chuyển chi phí sang cho người tiêu dùng dưới hình thức tăng giá. Thông thường, những ngành mà sự khác biệt sản phẩm và danh tiếng là điều quan trọng thì sẽ ít chuyển chi phí cho người tiêu dùng hơn so với các nhà sản xuất các mặt hàng tiêu chuẩn hóa nơi mà cạnh tranh chủ yếu là bằng giá cả (Goldberg và Knetter 1997). Điều đó hàm ý rằng nhà sản xuất các mặt hàng chuyên biệt hóa được buôn bán quốc tế sẽ quan tâm đến việc giảm thiểu biến động tỷ giá hơn là nhà sản xuất các mặt hàng chế tạo tiêu chuẩn hóa hoặc hàng hóa thông thường, vì thế họ sẽ thích chế độ tỷ giá cố định hơn.
Tuy nhiên, những tranh luận về các nhóm gây áp lực là rất khó để đánh giá. Một vấn đề là, không giống như chính sách thương mại, các quyết định về chế độ tỷ giá hối đoái ít khi là chủ đề được bỏ phiếu ở các cơ quan lập pháp (quốc hội) và cũng ít khi nổi bật trong các chiến dịch và kết quả bầu cử quốc gia. Nghiên cứu có tính hệ thống nhất về áp lực nhóm và sự lựa chọn chế độ tiền tệ cần đến các dữ liệu đáng tin cậy từ cuộc tranh cãi xoay quanh chế độ bản vị vàng hơn một thế kỉ trước. Vào những năm 1890, quốc hội Mỹ bỏ phiếu liên tục để chọn giữa chế độ bản vị vàng và bản vị bạc (Frieden 1997). Tương tự, cuộc bầu cử tổng thống năm 1896 là một cuộc bầu cử hiếm hoi mà trong đó vấn đề chính là chế độ tỷ giá hối đoái. William Jennings Byran ủng hộ chính sách tiền tệ hóa bạc và thả nổi đôla so với các tiền tệ bản vị vàng (Eichengreen 1995). Hội nhập tiền tệ châu Âu trong thế kỉ 19 cũng cung cấp thêm một vài trường hợp khác (Hefeker 1995). Các phân tích này, khi kiểm soát các yếu tố khác, nhận thấy rằng ảnh hưởng từ áp lực của các nhóm có liên quan nhiều đến kết quả bỏ phiếu.
Số lượng các trường hợp phù hợp cho nghiên cứu thực nghiệm có thể tăng lên khi vấn đề tỷ giá hối đoái tăng tầm quan trọng trong chính trị nội địa trong những năm gần đây. Sự nổi bật gần đây có thể do sự tăng lên của di chuyển dòng vốn quốc tế, bởi điều này làm nổi bật vấn đề “bộ ba bất khả thi” (Frieden 1996). Ở Châu Âu, thời kì hậu Hiệp định Maastricht được đặc trưng bởi sự tăng lên của tình trạng bất ổn và phân cực trong liên minh tiền tệ. Ở các nước đang phát triển, lựa chọn chế độ tiền tệ trở thành vấn đề nóng hổi trong các tranh luận về chính sách và bầu cử, và các nước đang thử nghiệm các chế độ tiền tệ khác nhau (Edwards và Savastano 1999). Sự thay đổi đáng kể trong chế độ tiền tệ ở Mỹ Latinh có thể được khai thác để nghiên cứu ảnh hưởng từ các áp lực của nhóm lợi ích. Trong trường hợp này, sự đánh đổi giữa niềm tin và sự linh động là đặc biệt quan trọng vì các vấn đề kiểm soát lạm phát ở khu vực này. Phù hợp với quan điểm nhóm lợi ích, các nền kinh tế với khu vực sản xuất lớn sẽ dễ có khuynh hướng áp dụng chế độ tỷ giá thả nổi hoặc chế độ tỉ giá cố định có điều chỉnh theo chênh lệch lạm phát trong quá khứ (backward-looking crawling pegs),[2] cả hai đều có xu hướng tạo ra tỷ giá hối đoái có sức cạnh tranh cao hơn (Frieden et al 2001). Ảnh hưởng của khu vực sản xuất với chế độ tỷ giá hối đoái cũng sẽ trở nên quan trọng hơn khi thương mại tương đối mở vì thương mại tự do sẽ khiến các nhà sản xuất gặp nhiều cạnh tranh từ các đối thủ nước ngoài hơn. Những nghiên cứu này củng cố thêm lập luận rằng mức độ mà các nhà hoạch định chính sách chấp nhận hi sinh niềm tin nhường chỗ cho sức cạnh tranh là kết quả ảnh hưởng chính trị của các nhà sản xuất các mặt hàng có thể buôn bán quốc tế được.
Cách tiếp cận phân tích toàn bộ dân số nghiên cứu tại một thời điểm (cross-sectional approach) có vẻ hứa hẹn, ngay cả với các quốc gia đã phát triển, nơi mà sự đánh đổi giữa sự ổn định và linh động nhiều khả năng xảy ra (Henning 1994, Frieden 2000). Tuy nhiên, đo lường mong muốn của các nhóm và ảnh hưởng của chính trị là không dễ dàng, và các hạn chế về dữ liệu khiến các nhà phân tích phải sử dụng các ước đoán gián tiếp (ví dụ dùng tỉ lệ của một ngành trong tổng sản lượng nội địa như một phương pháp đo lường mức độ ảnh hưởng của ngành đó). Một chiến lược thay thế khác là xem xét lập luận về phân phối (lợi ích của chế độ tỉ giá) ở cấp độ cá nhân trong phân tích và tận dụng dữ liệu ý kiến công chúng về ưu tiên chế độ tỉ giá và hành vi bầu cử (Scheve 1999). Scheve phát hiện thấy rằng sở hữu tài sản và lợi thế về kĩ năng cao đều có mối quan hệ tỉ lệ thuận với mức độ ủng hộ của cá nhân đối với việc thống nhất đồng tiền chung châu Âu và với hành vi bầu cử trong các cuộc bầu cử quốc gia. Điều này xác định mối liên hệ giữa mong muốn cá nhân về sự hội nhập tiền tệ với bầu cử, vì thế cung cấp một kiểm chứng trực tiếp đối với các tác động phân phối (lợi ích) mà cách tiếp cận kinh tế mở đề ra.
Bất chấp những bước tiến như vậy, hướng tiếp cận theo lợi ích nhóm cũng khó có khả năng tạo ra các nghiên cứu sâu và rộng như các công trình tương tự về chính sách thương mại. Hành động của các nhóm áp lực đối với tỷ giá hối đoái giới hạn hơn so với trong các vấn đề thương mại do bản chất kinh tế vĩ mô của tỷ giá hối đoái và các hạn chế đối với hành động tập thể liên quan đến vấn đề này. Tỷ giá hối đoái có hiệu ứng phân phối lợi ích quy mô rộng khắp, vì thế làm giảm thiểu động cơ vận động hành lang. Ví dụ, tỷ giá hối đoái ổn định đem lại lợi ích cho tất cả các ngành xuất khẩu; ngược lại, bảo hộ thương mại có thể chỉ nhằm để tạo ra lợi nhuận vượt trên mức bình thường cho một vài ngành cụ thể (Gowa 1988). Chính sách tỷ giá ít mang tính cục bộ hơn các chính sách thương mại, hàm ý có nhiều chủ thể không làm gì mà vẫn được hưởng lợi hơn (free riding) ( Olson 1971). Nhưng cũng như các nghiên cứu về thương mại đã bao hàm cả vấn đề ngồi không hưởng lợi (free rider), các phân tích về chính sách tiền tệ cũng có thể làm tương tự. Ví dụ, các ngành công nghiệp tập trung cao sẽ là những nhà vận động hành lang hiệu quả hơn cho chính sách tỷ giá hối đoái, cũng như chính sách thương mại (Trefler 1993). Mặc dù tỷ giá hối đoái có thể không cho thấy rõ ràng tác động của vận động hành lang như trong chính sách thương mại, vận động hành lang vẫn có thể xảy ra, thậm chí có thể đoán trước được đối với nhiều ngành và nhiều nước. Việc xem xét kỹ hơn các cân nhắc hành động tập thể sẽ giúp chúng ta phát triển một mối liên hệ giữa ưu tiên của các nhóm, hành động vận động hành lang với quyết định về chế độ tiền tệ của chính phủ.
Hướng tiếp cận dựa trên yếu tố đảng phái đối với quyết định chế độ tiền tệ
Các thể chế chính trị và quyết định chọn chế độ tiền tệ 
Tăng giá hay giảm giá?
Các nhóm lợi ích và mức tỷ giá hối đoái
Các thể chế chính trị và mức tỷ giá hối đoái
Khía cạnh kinh tế chính trị quốc tế của chính sách tỷ giá hối đoái
Phối hợp trong quan hệ tiền tệ quốc tế
Hợp tác trong quan hệ tiền tệ quốc tế
Kết luận
Tài liệu tham khảo
Xem toàn bộ nội dung văn bản tại đây: KTCT cua quan he tien te quoc te.pdf

[1] Các chế độ trung gian sẽ cho phép các quốc gia theo đuổi cùng lúc cả hai mục tiêu ở một mức độ nào đó (Edwards và Savastano 1999).
[2] Trong chế độ này, tỷ giá hối đoái danh nghĩa được điều chỉnh cơ học dựa trên khác biệt trong tỷ lệ lạm phát quá khứ.

http://nghiencuuquocte.net/2013/08/01/ktct-cua-qh-tien-te-quoc-te/