Showing posts with label Kinh tế đối ngoại. Show all posts
Showing posts with label Kinh tế đối ngoại. Show all posts

Sunday, August 11, 2013

Những bài học về viện trợ cho Việt Nam và Campuchia

Những bài học về viện trợ của phương Tây sau Việt Nam và Campuchia

Đã trải qua cả một thế hệ rưỡi từ khi Việt Nam mở cửa cho phương Tây, và cũng khoảng một thế hệ kể từ khi Campuchia làm những điều tương tự.

Campuchia
Cả hai đất nước này đã thay đổi mạnh mẽ, với mức tăng trưởng kinh tế nhanh như vũ bảo và sự xuất hiện các giai cấp trung lưu đẳng cấp quốc tế. Tuy nhiên, họ vẫn còn ngập chìm trong tham nhũng, và không được đáng tin cậy như những đối tác tới từ phương Tây của họ cũng như những vấn đề chính trị nghiêm trọng vẫn còn tồn đọng cho dù họ đã nhận được nhiều chương trình hỗ trợ từ các nước phương Tây – tại sao lại như thế?
Điểm yếu cơ bản về cách thức viện trợ của phương Tây nằm ở cách họ thực hiện. Họ tin rằng họ có thể suy diễn dễ dàng từ các bước cam kết nguồn tài nguyên tới những kết quả có thể dự đoán đượcNhưng các số liệu đã chứng minh rằng cách thức tiếp cận này sai lầm một cách trầm trọng (xem Fforde, Coping With Facts-A Skeptic’s Guide to the Problem of Development, Kumarian Press, 2009).

Một vấn đề nảy sinh dẫn đến phân chia khuynh hướng bè phái – nghĩa là các nhà tài trợ khác nhau có những niềm tin khác nhau, và do đó không có một nhân vật trung ương đưa ra quyết định cuối cùng cũng như nói lên bản chất của sự thật là gì. Bài học căn bản từ Campuchia là những người nhận viện trợ một cách khôn ngoan sẽ nhanh chóng nhận ra cách để “chia và trị”. Và một điều chắc chắn nữa là: những người nhận thì học bài học này nhanh hơn nhiều so với những người tài trợ.
Các nghiên cứu về tính hiệu quả trong các phương pháp viện trợ thường củng cố quan điểm của bất cứ ai trả tiền cho họ nhiều là đưa ra những nhận định một cách chính xác những gì đang xảy ra.
Một vấn đề cơ bản nằm ở “khả năng”, và điều này lại dính lứu tới sự hợp tác. Vì các nhà viện trợ bắt đầu cung cấp các nguồn tài nguyên (hỗ trợ kỹ thuật, tiền và nhiều thứ khác nữa), những thứ họ hi vọng sẽ nhanh chóng cải thiện kinh tế và xã hội, thì lúc đó dường như có một mối liên hệ giữa nguồn tài nguyên được cung cấp cùng với sự phát triển đạt được. Nhưng mối liên hệ này không mạnh. Các nhà viện trợ chi tiêu vội vã trong các giai đoạn đầu và liên tục tìm kiếm người để giải ngân vốn, bất cứ ai có khả năng đáp ứng được các yêu cầu như việc viết báo cáo, đề nghị và đánh giá thì đều có thể đạt tiêu chuẩn.
Việc này bao gồm săn đuổi những tổ chức và cá nhân với những kỹ năng ngôn ngữ, kỹ thuật cũng với một vài “kỹ năng khác” có đủ khả năng tuân thủ các yêu cầu. Và rồi nguồn vốn có thể được giải ngân và nhà tài trợ có thể tạo ra các hoạt động họ cần để báo cáo về những thành công cho chính phủ của họ. Bởi vì số lượng người đáp ứng được yêu cầu của bên viện trợ (hay nói theo cách khác “có khả năng” để giải ngân) thoạt đầu khá ít nên quá trình này gây ra nhiều tranh cãi, giá yêu cầu tài trợ được nâng lên, các nhà giải vốn thường thất bại trong việc chọn đối tác – những người này thường phù hợp làm việc trong thời gian dài (nhưng họ lại cần tìm người để giải ngân trong thời gian ngắn).
Phía nhận viện trợ nhận ra điều này một cách nhanh chóng, và sau một vài năm từ khi cuộc chơi được bắt đầu, những người được lựa chọn để giải ngân lúc đầu sẽ nắm quyền kiểm soát nguồn vốn đó trong một thời gian dài. Ngoài nạn tham nhũng này và quan hệ chính trị thân hữu, các nhà viên trợ phải đối mặt với những vấn đề mới đến từ các tầng lớp ưu tú mới trong giới chính trị. Các nhà viện trợ không sẵn sàng để tính toán các chương trình về thời hạn lâu dài. Những các giới tinh hoa tại đây thì có.
Sự nổi lên của các tầng lớp trung lưu địa phương hội nhập vào thế giới cũng đồng thời ngăn chặn các nhà viện trợ không thể hợp tác với những người dân địa phương bình thường. Tại cả Việt Nam và Campuchia, phần đồng người dân vẫn con nghèo (mặc dù tốt hơn nhiều so với những gì họ đã phải trải qua trước đây), không có quyền chính trị và bị thống trị bởi chế độ tham nhũng với khuynh hướng đàn áp công dân. Giáo dục phổ cập thì còn ở chất lượng thấp. Những nhà viện trợ thường tiếp cận được với người dân thường qua điều tra thăm dò (thường là về “nghèo đói”), và sử dụng các phương pháp dễ dàng bị đánh lạc hướng theo hướng có lợi cho các nhà viện trợ và tầng lớp chính trị địa phương. Việc tiếp cận những mong mỏi của người dân bình thường vẫn còn khá giới hạn. Những nhà đi du lịch bụi, các nhà nhân chủng học và những người khác thường làm các nhân viên viện trợ bang hoàng với những gì họ báo cáo.
Các tổ chức phi chính phủ địa phương phụ thuộc quá lớn vào các hỗ trợ từ bên ngoài; điều này có thể mang đến cả hai mặt xấu hoặc tốt. Sự khác biệt giữa Việt Nam và Campuchia ở điểm này cực kỳ lớn. Tại Việt Nam, các quyết định được đưa ra vào năm những năm 1990 cho phép nguồn tài nguyên viện trợ đi thẳng tới sự quản lý bởi những bàn tay “an toàn” – các tổ chức được điều hành bởi tầng lớp thống trị địa phương. Trong khi những tổ chức này có vẻ như đứng về phía các nhóm thiệt thòi, thì thực tế họ không hề dám đi những bước đi mạo hiểm nhưng cần thiết để thực sự hoạt động trong xã hội dân sự. Và do đó, những tổ chức có thể thực sự hỗ trợ công nhân, nông dân và các nhóm dân tộc thiểu số đã không được hình thành. Ở Campuchia, các nhà viện trợ đặt những nguồn tài nguyên chính vào tay các tổ chức phi chính phủ địa phương, và những tổ chức này thực sự hoạt động năng nổ vào các vấn đề chính trị nóng như tranh chấp đất đai. Do đó, các quyết định được đưa ra sớm cần được xem xét lại, và cũng có thể là chúng không cần. Các nhà viện trợ không được tổ chức để suy nghĩ thấu đáo về mặt chính trị. Những các tầng lớp tinh hoa địa phương thì có.
Các nhà viện trợ có quyền có những mục đích chính trị, nhưng họ lại được tổ chức dựa trên nền tảng sai lầm trong khâu dự đoán, và cùng với những thiếu sót trong khâu quản lý hiệu quả và lâu dài. Chính điều này giải thích tại sao họ thất bại.
Nguồn: Phiatruoc.info

Friday, August 9, 2013

Vẽ giùm tôi một người Việt Kiều

Vẽ giùm tôi một người Việt Kiều
Cổ Ngư dịch (Dựa theo tác phẩm Cậu Hoàng Con cuả A. de Saint-Exupéry
Cậu Hoàng Con hỏi viên phi công đang bị lạc giưã sa mạc: «Nè, anh ơi, làm ơn vẽ giùm tôi một người Việt Kiều đi... » Lúng ta lúng túng, viên phi công bắt đầu câu chuyện.
1. Vẽ giùm tôi một người Việt Kiều
"Nước mắm", "Nhà quê" là những từ Việt Nam đã được ghi trong tự điển Larousse. Có thể người ta sắp ghi thêm từ "Việt Kiều". Nhưng làm thế nào mà tìm được một định nghiã thâu gồm tất cả những người sống rải rác từ Paris, Los Angeles, Londres, Sydney, Genève, Hồng Kông cho đến Ouagadougou? Và người Việt gốc Hoa, sinh trưởng ở Chợ Lớn, di cư sang Thụy Sĩ thì sao, sẽ được gọi là Việt Kiều, Hoa Kiều hay người Thụy Sĩ đây? Tôi hay nghe người Việt Kiều Pháp nói cái kiểu: «Nhớ ranger cái camembert vào trong frigo» [2] .
Việt Kiều Mỹ cũng chẳng kém: “Phải reheat cái hamburger vào trong microwave, power một” [3] . Thật tình, tôi cảm thấy dễ chiụ hơn khi nghe thằng bạn người Bourgogne léo nhéo: “Passe-moi du nước mắm pour que je m'en mette dans mon phở” [4] .

Như đã thấy, người Việt Kiều này sáng chế ra một thứ ngôn ngữ điạ phương để dễ dàng phân biệt với những người Việt Kiều khác. Vì vậy, phải phân biệt nhiều loại Việt Kiều, dù rằng nhìn bên ngoài thì họ có vẻ hao hao giống nhau.

Sau vấn đề định nghiã, còn có vấn đề bản sắc nưã. Là những kẻ hợp chủng, kết quả cuả sự giao lưu giưã các nền văn hoá, các thế hệ khác nhau,

chúng tôi không thể không tự hỏi: "Chúng tôi là ai?"

Và viên phi công vẽ cho Cậu Hoàng Con xem bức tranh "Việt Kiều số 1". Cậu Hoàng Con hỏi: “Nhưng mà, hai cái trục này có nghiã là gì vậy hả anh?”

Viên phi công trả lời: “Ðơn giản lắm, tôi vẽ cho cậu xem những người Việt Kiều theo từng đặc điểm khác nhau. Tuỳ theo nơi đang sống, họ có những lối suy nghĩ khác nhau. Những lối suy nghĩ này được thành hình từ hai phương diện

Một số Việt Kiều sống trong những xã hội mà, càng lớn tuổi, họ càng được người khác kính trọng. Ðối với những Việt Kiều khác, tuổi tác và sự kính trọng không nhất thiết phải đi đôi với nhau.

Một số vẫn giữ quan niệm sống Đông phương, một số khác lại có quan niệm sống Âu hoá hơn. Người Việt Kiều ở Hồng Kông chẳng hạn, anh ta vẫn sống ở Á châu, do đó, cách suy nghĩ cuả anh ta rất gần với luận lý Á đông. Nền tảng triết lý cuả anh ta là Nho giáo và vì vậy, anh ta thấm nhuần niềm kính trọng những bậc cao niên.

Người Việt Kiều Mỹ châu sống trong một xã hội Tây phương đua chen và rất năng động. Anh ta nói tiếng Anh, gọi ông nội hay cậu em út trong nhà đều là "you" cả và không quan trọng hoá lắm vấn đề phân thứ bậc theo tuổi tác.

Tại Pháp, người Việt Kiều sống trong một xã hội được xây dựng trên nền tảng những giá trị cuả nền cộng hoà Tây phương tiêu biểu. Ða số đã định cư lâu năm và khuôn mẫu gia đình họ khá giống với khuôn mẫu gia đình truyền thống. Cấu trúc gia đình cuả người Việt Kiều Pháp tương đối gần với cấu trúc gia đình ở Việt Nam.

Còn người Việt Kiều trở về Việt Nam sinh sống lại là một trường hợp ngoại lệ: một lần nưã, anh ta bị phương Đông cuốn hút và nhờ đó, tìm về nguồn cội. Tuy nhiên, trong suốt thời gian sống ở Âu Mỹ, anh ta bị gán cho cái nhãn quan cuả kẻ ít tôn trọng những bậc trưởng thượng.

Hình vẽ cuả tôi có nghiã như vậy đó!” Cậu Hoàng Con lắc lắc cái đầu, nhăn nhó: “Tôi không thích hình anh vẽ, gì mà chặt chẽ cứng ngắc hà! Việt Kiều đâu có thể phân loại như vậy được! Gốc gác với cả ngàn năm văn hoá, làm sao mà nhét vô mấy cái vòng tròn tròn này nổi! Vẽ giùm tôi cái hình khác đi!” Viên phi công thở dài, đành tiếp tục câu chuyện.

2. Việt Kiều và ngôi làng toàn cầu

Chàng thi sĩ nói rằng: Mỗi chuyến viễn du là một loạt những vắng mặt không tài nào tránh khỏi

Cứ ra đi và vắng mặt, điều đó sẽ đem nhiều bổ ích đến cho anh. (Michel Tournier) [5]

Lịch sử Việt Nam trải dài qua hàng ngàn năm chinh chiến, và đã gây nên một cuộc ly hương quan trọng nhất trong lịch sử hiện đại. Hứng chiụ một định mệnh tàn khốc, dân di tản đành tự ghép mình vào cuộc sống cuả những xứ sở có một nền văn hoá gần như hoàn toàn khác biệt. Cắn răng chiụ đựng, cuối cùng họ đã chứng tỏ một khả năng hội nhập kỳ diệu. Nhìn chung, người Việt Kiều ra đi trong những hoàn cảnh khó khăn. Dù là đất lưu đày hay chốn tạm dung, "sự ra đi và vắng mặt" cuả họ đôi khi lại nảy sinh những vấn đề mới: họ nhận ra rằng, muốn cho con cái hiểu mình, phải nói chuyện với chúng bằng ngôn ngữ cuả Rabelais hay cuả Shakespeare, rằng, con dâu tương lai cuả họ có khả năng mang tên Sophie hay Tracy hơn là Hoàng Lan hoặc Ánh Mây, rằng, hình như Grunge là một kiểu thời trang rất chiụ chơi..., tóm lại, rằng họ không tài nào định đoạt nổi số phận cuả con cái họ nưã.

Tuy nhiên, vượt lên trên những xung khắc giưã các thế hệ, giưã những nền văn hoá, thế hệ Việt Kiều thứ hai không ngờ rằng có thể mình đang gặt hái những thành quả chuyến viễn du cuả cha anh họ. Chúng tôi có thể đi khắp thế giới, và hầu như ở đâu, cũng được một ông Bác hay một bà Cô - nhiều khi chưa biết mặt - đón tiếp.

Ðến xứ lạ mà lại có cảm tưởng mình là khách mời thì quả sướng thật! Việc gặp gỡ những người Việt Kiều khác trên xứ lạ lần đầu tiên thật đáng xếp vào loại kịch bản "Gặp gỡ với người ngoài trái đất"! Vẫn luôn là câu hỏi then chốt: "Tôi phải nói bằng thứ tiếng gì để ông ta hiểu đây?" Tại sao không nói tiếng Việt ? Nhưng lỡ ông ta không nói được tiếng Việt thì sao? Thử nói tiếng Anh xem.

Rồi tôi bắt chuyện. Ông ta trả lời. Chắc ông ta cũng hiểu tôi chút chút. Chừng mười lăm phút sau, ông ta bắt đầu chêm vài từ tiếng Việt vào. Tôi đáp lại và chợt nhận ra rằng đã đột ngột chuyển cách xưng hô từ "you and me" thành ra "bác và cháu". Ðột ngột thiết lập một mối quan hệ có thứ bậc mà trước giờ chưa hề có! Ðiệu này, chỉ để liên lạc với Việt Kiều không thôi, chắc tôi phải làm một luận án xã hội học, ngành UFO [6] quá!

Tôi vui vui khi thấy rằng, cứ sau một chuyến du lịch, tôi lại có thêm một lô một lốc những họ hàng thân thích. Tôi tìm thấy nước Việt Nam không phải chỉ ở Hà Nội, mà còn ở cả Chicago, Londres, Berlin, Montréal hay Paris. Giờ đây, tôi đoan chắc là Việt Kiều đã sáng lập ra Ngôi Làng Toàn Cầu. Viên phi công vẽ bức tranh "Việt Kiều số 2". «Này, hình vẽ cậu muốn đây này!


Thôi để cho tôi yên nhé, tôi bận lắm!» Ngẫm nghĩ một lúc, Cậu Hoàng Con lại hỏi: «Nhưng mà... đây là cái gì vậy?» Viên phi công hết còn kiên nhẫn, gắt lên: «Là nơi mà mấy người Việt Kiều cuả cậu sinh sống đó!» «Tôi nhớ năm 1962, tổng thống Kennedy nói rằng, tất cả chúng ta đều là dân Berlin cả, còn anh, anh phi công ơi, bây giờ, anh lại nói, tất cả chúng ta đều là Việt Kiều hết trơn. Nhìn hình vẽ này, tôi vẫn chưa hiểu được Việt Kiều là cái quái gì cả!»

3. Những người Việt Kiều... đại thụ

Vội chưã cho xong chiếc máy bay, viên phi công nghĩ thầm: "Cái Cậu Hoàng Con này quái thật, tò mò cứ y như một thằng Tây con vậy..." Người Việt Kiều thích ứng nhanh chóng với môi trường chung quanh. Tôi đã từng gặp những người Việt Kiều sống dưới cái lạnh cắt da 40 độ âm ở Canada, và cũng đã gặp những người khác sống trong cái nóng nung người 50 độ dương ở Qatar. Việt Kiều Mỹ mê Filet-O-Fish cuả MacDonald's (dĩ nhiên, với một chút nước mắm) và có những Việt Kiều Anh đã thề sống thề chết với tôi là họ khoái bánh pudding và jelly (cũng ăn với nước mắm, tôi chiụ thua, không biết họ làm thế nào!).

Cái khả năng thích ứng kỳ diệu này, rốt cuộc cũng lại là con dao hai lưỡi: cố gắng hội nhập, che giấu nguồn cội, cuối cùng, người ta gần như muốn quên luôn nó đi. Nhưng kẻ khác, họ không có quên đâu! Có vẻ ngược ngạo khi nói rằng, nhờ kẻ khác mà người Việt Kiều mới chợt nhớ ra gốc gác cuả mình. Tôi mới đi Ấn Ðộ, nơi có khá ít người Ðông Á đến thăm viếng. Ðưá bé nào cũng hỏi tôi: "Anh ở đâu tới vậy? Ở Nhật hả?". "Không, ở Pháp đến. Tôi người Pháp mà!". Nhìn vào những đôi mắt tinh quái cuả chúng, tôi hiểu rằng câu trả lời này chẳng làm chúng ưng chút nào.

Cuối cùng, tôi đành chỉ vào mặt trăng trên trời và xạo với chúng: "Tôi từ cung trăng xuống đó". Trong đám nhóc, có lẽ chưa đưá nào có hân hạnh gặp chị Hằng hay chú Cuội, nên thế nào chúng cũng sẽ kháo nhau là ở trên đó, dân Nguyệt cầu ai ai cũng giống Lý Tiểu Long hết trơn! Cậu Hoàng Con nói với viên phi công: «Ðừng có hòng mà lưà được tôi! Tôi sống ở trển nên biết chắc người Mặt trăng đâu phải là Việt Kiều.» «Ai mà biết được, biết đâu... mai mốt...» Viên phi công xếp giấy bút sang một bên, nhìn Cậu Hoàng Con: «Này cậu bé ơi, bây giờ hãy tưởng tượng ra một cái cây, với mớ rễ thật dài cắm sâu vào lòng đất, với một thân cây sần sùi và đám cành nhánh toả rộng vươn cao, cuối cùng là những chiếc lá xanh tươi ở đầu cành mỗi độ xuân về.» «Nhưng... anh đang tả một cây đại thụ đây mà!» «Ừ, cũng được.

Người Việt Kiều gần giống như một cây đại thụ vậy đó. Họ cùng có chung một cội rễ đã cắm sâu vào mảnh đất phì nhiêu cuả lịch sử Việt Nam. Tất cả Việt Kiều đều có gốc Việt cả. Gốc Việt, hay gốc, trong tiếng Việt, vưà có nghiã là nguồn gốc một dân tộc, cũng vưà có nghiã là gốc cây nưã. Họ đã từng trải qua những cảnh thương khó, đó chính là thân cây sần sùi u nần. Rồi sau khi rời khỏi Việt Nam, họ toả đi khắp nơi như những cành nhánh kia, vươn rộng ra mọi hướng. Rồi thì, ở đầu cành, chồi non lá mới nảy sinh khi xuân đến, đó là những thế hệ Việt Kiều bé con được sinh ra tại hải ngoại. Chính chúng cũng sẽ là tương lai cuả Việt Nam, những thành viên hành động như những người Tây phương, nhưng vẫn mang nặng tâm hồn đông phương Việt tộc.» Cậu Hoàng Con nhắm mắt lại, mơ mộng và mỉm cười.

Cổ Ngư dịch (Dưạ theo tác phẩm Cậu Hoàng Con cuả A. de Saint-Exupéry

[1] ) -----------
[1]A. de Saint-Exupéry: nhà văn kiêm phi công người Pháp. Ông sinh năm 1900 ở Lyon và tử nạn trong một phi vụ năm 1944. Tác phẩm đã xuất bản: Bay đêm (Vol de Nuit - 1931), Ðất người (Terre des Hommes - 1939), Phi công thời chiến (Pilote de Guerre - 1942...). Cậu Hoàng Con (Le Petit Prince - 1943) là một loại truyện ngụ ngôn-triết lý dành cho mọi lứa tuổi (xem bản dịch của Bùi Giáng tong Tủ sách talawas). Các chú thíchtrong bài đều của người dịch.
[2]Nhớ cho miếng phô-mai camembert vào trong tủ lạnh.
[3]Phải hấp cái bánh nhân thịt trong lò vi ba, vặn số một.
[4]Ê, đưa nước mắm để tao rưới vô phở, mày!
[5]Trích trong "Gaspard, Melchior và Balthazar".
[6]UFO, viết tắt từ Unidentified Flying Object: vật bay chưa xác định (loại điã bay).

Nguồn: Nguyên tác tiếng Pháp "S'il-te-plaît, dessine moi un Viêt Kiêu" đăng trên báo Sampan Lychee, bản dịch tiếng Việt đăng trên tạp chí Chủ Đề

http://www.phiem-dam.com/cphiem142.htm

Wednesday, August 7, 2013

Vài nét về quan hệ đối tác chiến lược

Vài nét về quan hệ đối tác chiến lược
TCCSĐT - Sau Chiến tranh lạnh, trong quan hệ quốc tế hình thành một số hình thức mới. Các quốc gia với thể chế chính trị, kinh tế khác nhau đã tìm những phương cách mới và áp dụng chúng một cách linh hoạt để thúc đẩy quan hệ với nhau. Một trong các hình thức quan hệ mới đó là việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược.

Đối tác chiến lược
Vấn đề hợp tác trong lý thuyết quan hệ quốc tế
Liên minh (Alliance): Là mối quan hệ hợp tác chính thức hoặc không chính thức giữa hai hoặc nhiều nước nhằm hỗ trợ lẫn nhau trên một mức độ nào đó về phối hợp chính sách liên quan đến các vấn đề về an ninh hiện tại và tương lai. Hình thái “an ninh tập thể” thường là cách thể hiện mô hình này. Theo đó các nước ký kết một hiệp ước (chính thức hoặc không chính thức) cam kết giúp đỡ nhau khi bất cứ thành viên nào bị đe dọa.

Chức năng của liên minh là để  “củng cố an ninh của đồng minh” thông qua việc hợp tác để “hợp lực” chống lại một thế lực khác. Lịch sử quan hệ quốc tế cho thấy, sự phát triển của mô hình liên minh là các đồng minh đánh giá nhau qua khả năng trợ giúp nhau về mặt quân sự nhằm răn đe hoặc trừng phạt một liên minh đối lập.
Đối tác (Partnership): Là thuật ngữ chỉ mối quan hệ cộng tác - hợp tác nhưng ở mức độ cao hơn và cụ thể hơn. Các nhà nghiên cứu định nghĩa: “Đối tác bao gồm hai hay nhiều bên hành động cùng nhau để nâng cao hợp tác bằng việc thực hiện những mục tiêu chung. Xây dựng những kênh/cơ chế giải quyết các bất đồng/tranh chấp, biện pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác và phương pháp đánh giá tiến bộ cũng như chia sẻ những thành tựu hợp tác”. 
Hành động cùng nhau chung mục tiêu và chung lợi ích là những tiêu chí của quan hệ đối tác. Một mối quan hệ đối tác bao gồm sự gần gũi, bình đẳng, có đi có lại, và thỏa thuận về những mục tiêu chung.
Chiến lược (Strategic): Nghĩa rộng là sự quan trọng có tính toàn cục, then chốt và có giá trị tương đối lâu dài về mặt thời gian, đặc biệt, trong các bối cảnh liên quan đến việc sử dụng sức mạnh quân sự. “Chiến lược” dùng để chỉ tính tổng thể, để tạo sự khác biệt với những chi tiết (chiến thuật); nghệ thuật sử dụng nguồn lực, kết hợp với các giá trị về đạo đức, để đạt được những mục tiêu. Trong nhiều tình huống, từ “chiến lược” thường liên quan đến các lĩnh vực an ninh - quân sự mặc dù không hoàn toàn là một thuật ngữ chỉ dùng trong lĩnh vực an ninh - quân sự.
Đối tác chiến lược (Strategic Partnership) chỉ một mối quan hệ hợp tác quan trọng (nhưng không nhất thiết chỉ tập trung trong lĩnh vực an ninh - quân sự) vừa có tính hướng vào mục tiêu cụ thể, vừa có hàm ý mong muốn quan hệ lâu dài (quan hệ “win - win” cùng có lợi). Đặc điểm của quan hệ đối tác chiến lược là không có giới hạn về không gian, thời gian; không hạn chế về đối tượng áp dụng; không hạn chế về lĩnh vực hợp tác, và không nhất thiết phải mang nội dung an ninh - quân sự.
Đối tác chiến lược là một dạng quan hệ hợp tác phong phú, trong đó thành phần, nội dung, hình thức, mức độ… hoàn toàn tùy thuộc vào sáng kiến của các bên. Các nhà nghiên cứu quốc tế cho rằng, hạn chế duy nhất đối với mối quan hệ đối tác chiến lược là “sức tưởng tượng của các bên tham gia”.
Thuật ngữ “đối tác chiến lược” lần đầu được sử dụng vào khoảng những năm 1990, 1991 để chỉ quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Từ đó, thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi.
Theo quan niệm của GS. Va-lê-ri Lót-xkin (Nga), “đối tác chiến lược” phải bao gồm những nội dung sau: không tấn công lẫn nhau; không liên minh chống lại các nước khác; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; phải có lòng tin lẫn nhau. Đối với Mỹ, đối tác chiến lược phải bao gồm hợp tác chặt chẽ về quân sự, an ninh.
Về hình thức: đối tác chiến lược có thể diễn ra linh hoạt (chính thức hoặc không chính thức, song phương hoặc đa phương, diện và mức độ tham gia rộng hoặc hẹp, nhiều hoặc ít…) và có tính mở vì không hướng tới một kết cục cụ thể.
Trong thực tế, có những mối quan hệ tuy không phải là đối tác chiến lược, nhưng thực chất lại còn hơn cả đối tác chiến lược. Ví dụ: Quan hệ Mỹ - EU tuy không phải là đối tác chiến lược, nhưng mối quan hệ hợp tác thì vô cùng chặt chẽ. Còn quan hệ Bra-xin - EU tuy là quan hệ đối tác chiến lược nhưng mức độ quan hệ không thể so sánh được với quan hệ Mỹ - EU.
Quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam
Với Việt Nam, đối tác chiến lược là mối quan hệ chiến lược gắn với ngoại giao, kinh tế. Theo TS. Lê Hồng Hiệp (Học viện Ngoại giao): Quan hệ đối tác chiến lược mà Việt Nam quan niệm bao gồm hợp tác về an ninh, thịnh vượng và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam.
- An ninh: quan hệ đối tác chiến lược đó sẽ giúp cho Việt Nam củng cố nền tảng ngoại giao và quốc phòng, hỗ trợ tích cực cho Việt Nam trong việc giữ gìn an ninh, bảo toàn chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.
- Thịnh vượng: mối quan hệ kinh tế với đối tác đó phải góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Nó thể hiện trên các lĩnh vực: quan hệ thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển (ODA) và chuyển giao công nghệ. Ví dụ như: thương mại song phương phải đạt kim ngạch tối thiểu 10 tỷ USD, đầu tư song phương đạt từ 5 tỷ USD trở lên,… Nếu các tiêu chí đó chưa đạt được thì phải xét đến quy mô và mức độ phát triển của quốc gia đó.
- Nâng cao vị thế của Việt Nam: quốc gia đối tác chiến lược phải là những nước lớn, hoặc cường quốc hạng trung tiêu biểu; có vị thế và ảnh hưởng quan trọng, đáng kể đối với đời sống chính trị thế giới và khu vực.
Ngoài 3 tiêu chí an ninh, thịnh vượng, nâng cao vị thế của Việt Nam cần phải có những tiêu chí khác nữa như quan hệ lâu dài, cùng có lợi (mức độ lợi ích có thể chia đều, hoặc hơn kém do hai nước quy định), có niềm tin tưởng vào nhau…
Tháng 1-2013, nhân chuyến thăm I-ta-li-a của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, hai nước đã ký tuyên bố thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - I-ta-li-a. Ngày 26-6-2013, Việt Nam và Vương quốc Thái Lan ra Tuyên bố chung Việt Nam - Thái Lan về chuyến thăm chính thức Thái Lan của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng theo lời mời của Thủ tướng Y. Si-na-oa-tra, theo đó, hai nhà lãnh đạo đã quyết định đưa quan hệ hai nước lên đối tác chiến lược. Trong buổi hội đàm ngày 27-6-2013 tại Gia-các-ta, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống In-đô-nê-xi-a S. B. Y-u-đô-y-ô-nô chính thức tuyên bố nâng cấp quan hệ Việt Nam - In-đô-nê-xi-a thành đối tác chiến lược, nhằm đưa quan hệ hai nước lên một tầm cao mới.
Đây là những mối quan hệ đối tác chiến lược mới nhất mà Việt Nam thiết lập với một nước khác. Trước đó, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Liên bang Nga (năm 2001), Nhật Bản (năm 2006), Ấn Độ (năm 2007), Trung Quốc (năm 2008), Hàn Quốc, Tây Ban Nha (năm 2009), Vương quốc Anh (năm 2010), và Đức (năm 2011). Trong các quan hệ đối tác chiến lược này, có một số mối quan hệ đã được nâng lên tầm “đối tác chiến lược toàn diện” như với Trung Quốc và Liên bang Nga.
Bên cạnh đó, từ năm 2009, Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ “đối tác toàn diện” với Ô-xtrây-li-a. Trong chuyến thăm gần đây tới Pháp của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh, hai nước cũng thống nhất sẽ sớm nâng quan hệ song phương lên tầm “đối tác chiến lược”.
Việc mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ với những quốc gia quan trọng trên thế giới phù hợp với lợi ích của mỗi nước, góp phần vào hòa bình, ổn định, thịnh vượng của khu vực và thế giới chính là sự thể hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế./. 
Đinh Công Tuấn
PGS, TS. Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên cứu châu Âu
http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2013/22829/Vai-net-ve-quan-he-doi-tac-chien-luoc.aspx

Tuesday, August 6, 2013

Ngân hàng Việt Nam gửi 2.5 tỉ đôla “ế” ra nước ngoài

Ngân hàng Việt Nam gửi 2.5 tỉ đôla “ế” ra nước ngoài
Tính đến đầu tháng 7, các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đã gửi 2.5 tỉ đô la vào các ngân hàng nước ngoài vì không tìm được nơi để cho vay.
Nhân viên một ngân hàng thương mại ở Hà Nội đếm các tờ 100 đô la Mỹ. Các ngân hàng không thể cho vay số tiền đang ôm, nên đã phải mua đô la rồi đem gửi ở ngân hàng nước ngoài kiếm lời, phản ảnh tình trạng kinh tế bế tắc của Việt Nam hiện nay. (Hình: HOANG DINH NAM/AFP/Getty Images)
Đó là thông tin mới nhất liên quan tới tình hình kinh doanh của hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam, gián tiếp minh họa nền kinh tế không có gì sáng sủa. Thông tin này do ông Lê Xuân Nghĩa, cựu Phó chủ tịch Uỷ ban Giám sát tài chính quốc gia công bố trong một hội thảo diễn ra tuần trước.
Tháng trước, Tổng cục Thống kê của Việt Nam công bố hàng loạt chỉ số thống kê của sáu tháng đầu năm để cả quyết, tình hình kinh tế vĩ mô đang được cải thiện. Tuy nhiên, phần lớn chuyên gia kinh tế và báo giới lại cùng cho rằng, niềm tin vào sự hồi phục kinh tế cả trong doanh giới lẫn công chúng Việt Nam đang tiếp tục suy giảm.

Cũng tháng 7, Ngân hàng HSBC công bố, trong hai tháng 5 và 6, chỉ số mua hàng của giới quản trị (PMI), sụt giảm đáng ngại, điều đó cho thấy doanh giới cũng vẫn hạn chế đầu tư.

Chuyện các ngân hàng thương mại ở Việt Nam đem 2.5 tỉ đô la đi gửi các ngân hàng nước ngoài vì không tìm được nơi để cho vay được xem là một bằng chứng minh họa cho sự phản bác tuyên bố của Tổng cục Thống kê về “tình hình kinh tế vĩ mô đang được cải thiện”.

Theo một số chuyên gia kinh tế, ngoài việc ngần ngại đầu tư, khu vực xuất khẩu vốn được phép vay ngoại tệ và vẫn được xem là “đầu kéo tổng cầu của nền kinh tế” cũng càng lúc càng bi đát nên không có nhu cầu vay vốn khiến các ngân hàng thừa mứa ngoại tệ.

Khác với Tổng cục Thống kê, Cục Thống kê Sài Gòn nhận định, lĩnh vực tín dụng không có chuyển biến đáng kể. Cơ quan này cho rằng các doanh nghiệp không muốn vay vốn vì lượng hàng tồn kho cao do “đầu ra” khó khăn. Cá nhân cũng hạn chế vay tiền do việc làm thu hẹp, thu nhập giảm.

Tiền “ế” nên các ngân hàng thương mại dùng tiền đồng mua ngoại tệ để gửi cho các ngân hàng nước ngoài. Ngân hàng Nhà nước nhận định, đây chính là nguyên nhân khiến giá đô la tại Việt Nam tăng trong hai tháng 6 và 7.

Một số lãnh đạo ngân hàng thương mại than rằng, dẫu lãi suất cho vay đã giảm từ 18%/năm – 19%/năm xuống còn 9%/năm – 10%/năm, thậm chí giảm xuống chỉ còn 7%/năm nếu vay để sản xuất hàng xuất khẩu nhưng “tăng trưởng tín dụng” của họ vẫn âm. Nhiều “khách hàng tốt” vẫn lắc đầu bởi… không có nhu cầu!

Chẳng riêng doanh nghiệp mà hệ thống ngân hàng thương mại cũng đang bế tắc vì kinh tế suy thoái. Trước đây, nếu tiền bị ứ, những ngân hàng này có thể gửi vốn cho thị trường liên ngân hàng để hưởng lãi suất 4%/năm – 5%/năm nhưng hiện nay, lối thoát này coi như đã tắc vì lãi suất tụt giảm chỉ còn từ 1%/năm – 1.5%/năm.

Tờ Sài Gòn Tiếp thị kể rằng, do doanh nghiệp chê vốn, gần đây, tuần nào các ngân hàng cũng giới thiệu những “gói cho vay tiêu dùng” kiểu mới, với đủ hình thức ưu đãi nhưng việc cho vay tiêu dùng vẫn không khả quan. Viên Tổng giám đốc Ngân hàng Nam Á than rằng, dù lãi suất cho vay mua nhà đã giảm hơn một nửa so với năm trước nhưng vẫn khó “khơi thông dòng chảy”, khách hàng vẫn chưa muốn vay tiền mua nhà.

Cũng theo mô tả của Sài Gòn Tiếp Thị, đã xuất hiện tình trạng các ngân hành tranh nhau giảm lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay của một số ngân hàng hiện chỉ còn 5%/năm – 6%/năm.

(Người Việt)

Monday, August 5, 2013

Đầu tư ra nước ngoài từ bài học Hoàng Anh Gia Lai

Đầu tư ra nước ngoài từ bài học Hoàng Anh Gia Lai
 
Nhiều cây gỗ ở Lào đã ngã xuống, nhường đất cho cao su.
Cách đây không lâu, Global Witness, tổ chức phi chính phủ hoạt động vì môi trường có trụ sở tại London, đã tung ra bản báo cáo có tên “Các ông trùm cao su”, trong đó nêu lên những tác động môi trường và xã hội gây ra bởi hoạt động đầu tư vào các đồn điền cao su quy mô lớn ở Campuchia và Lào.
Bản báo cáo đã thu hút sự chú ý của nhà đầu tư và giới truyền thông Việt Nam vì có 2 doanh nghiệp lớn đã được điểm mặt trong báo cáo là Tập đoàn Hoàng Anh Gia Lai (HAGL) và Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam (VRG). Theo báo cáo, hoạt động đầu tư của 2 công ty này đang phá hủy môi trường cũng như xâm hại đến người dân địa phương.
Vài ngày sau khi báo cáo được tung ra, giá cổ phiếu của HAGL và Công ty Cao su Đồng Phú, một công ty thành viên của VRG, đã giảm xuống. Điều này cho thấy nhà đầu tư lo ngại trước triển vọng của 2 công ty này.

Từ sau câu chuyện của HAGL và VRG, Global Witness đã có bài viết gửi đến NCĐT, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đầu tư có trách nhiệm. Trong bối cảnh ngày càng có nhiều doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, việc đầu tư có trách nhiệm, có cân nhắc đến tác động môi trường và xã hội càng trở nên quan trọng. Vì nếu không, cái họ mất không chỉ là tiền bạc, danh tiếng mà còn là cơ hội tiếp cận các thị trường vốn quốc tế.

Hiện nay, chính phủ ở nhiều nước đang phát triển đẩy mạnh thu hút đầu tư vào lĩnh vực đất đai mà không đánh giá đầy đủ các rủi ro về môi trường và xã hội. Trong khi việc này ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển ổn định không chỉ của quốc gia đó mà còn của cả thế giới.

Đầu tư vào đất đai trên toàn thế giới đã tăng mạnh kể từ năm 2000 và hiện ước tính tổng cộng lên tới 67,5 triệu ha. Những quốc gia bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi các hoạt động đầu tư này thường là những nước nghèo dưới mức trung bình. Luật pháp tại các nước này lại chưa rõ ràng về quyền sở hữu đất và 24% trong tổng số các giao dịch về đất đai là rơi vào những vùng có rừng.

Đất lại là một lĩnh vực thiếu sự giám sát và quản lý chặt chẽ của chính phủ. Mặc dù việc đầu tư vào nông nghiệp tại châu Á và châu Phi thường được khuyến khích (vì có thể giúp một quốc gia xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ phát triển kinh tế) nhưng thực tế các mô hình hiện tại chưa khai thác tối đa những cơ hội mang lại. Và việc thành lập, điều hành các đồn điền lớn thường gặp khó khăn do không lường được tính chất phức tạp của nó.

Chuyển nhượng đất đai ở Campuchia và Lào là những ví dụ điển hình cho thấy các khoản đầu tư đang ngày càng gây ra căng thẳng và bất ổn xã hội, thường là do thiếu tính minh bạch và chưa rõ ràng về quyền sở hữu, sử dụng đất đai.

Ngoài tác động tiêu cực về xã hội và môi trường, các hoạt động đầu tư như vậy mang lại nhiều rủi ro cho doanh nghiệp. Bởi lẽ, các hợp đồng chuyển nhượng đất đã ký hoàn toàn có thể trở thành vô hiệu lực. Trong năm 2012, đã có 4 hợp đồng chuyển nhượng đất tại rừng Prey Lang của Campuchia đã bị chính phủ nước này hủy bỏ do vấp phải sự phản đối của người dân.

Global Witness cũng chứng kiến một trường hợp khác đang diễn ra tại nơi này. Theo đó, một công ty nước ngoài đã đề nghị bồi thường 1,5 triệu USD cho 250 hộ dân nằm trong 300 ha, tương đương 5.000 USD/ha. Một ví dụ nữa là ở Tanzania. Cụ thể, một công ty Anh bị yêu cầu bồi thường cho cư dân địa phương gần 350.000 USD vì lấy đất làng.

Trong khi đó, vào tháng 12.2012, một báo cáo ước tính chi phí điều hành trung bình trên toàn cầu của một khoản đầu tư 3 năm với trị giá 10 triệu USD có thể gấp tới 29 lần so với mức bình thường nếu dự án đó buộc phải dừng do người dân địa phương phản đối.

Do đó, tại những quốc gia có cơ chế điều hành và khung pháp lý chưa hoàn thiện như Lào, Campuchia và Myanmar, các công ty cần phải chuẩn bị kỹ để tránh những rủi ro như trên. Ngoài việc tuân thủ luật pháp nước sở tại, doanh nghiệp nên làm cho nhà đầu tư yên tâm bằng cách thực hiện các quy trình kiểm tra, thẩm định, đánh giá đối với việc quản lý đất đai. Điều này không chỉ cho thấy dự án của họ có thể mang lại lợi ích cho địa phương và quốc gia mà họ đầu tư. Điều quan trọng hơn là cho thấy doanh nghiệp tuân thủ nguyên tắc không gây hại.

Đối với những công ty đầu tư vào lĩnh vực có rủi ro cao như đất đai, có thể tham khảo những bộ nguyên tắc quốc tế để giúp họ có trách nhiệm với môi trường và xã hội. Chẳng hạn, bộ nguyên tắc hướng dẫn về quyền của con người và doanh nghiệp của Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc. Hay bộ hướng dẫn tự nguyện về quản lý có trách nhiệm đối với việc sở hữu đất, ngư trường và rừng được Ủy ban An ninh Lương thực thế giới áp dụng.

Tựu trung, các bộ nguyên tắc này nhấn mạnh 3 điều quan trọng khi doanh nghiệp đầu tư ra nuớc ngoài.

Thứ nhất, phải đảm bảo việc ra các quyết định liên quan đến đất đai phải cụ thể, rõ ràng, minh bạch và có trách nhiệm. Nhiều bằng chứng cho thấy các công ty hưởng lợi rất lớn từ việc nâng cao tính minh bạch và có tham khảo ý kiến của công chúng trong suốt giai đoạn đầu tư. Hoạt động minh bạch cũng giúp doanh nghiệp tránh được những chỉ trích từ dư luận mà có thể ảnh hưởng đến hình ảnh và danh tiếng của doanh nghiệp, khiến cho những cuộc thương thảo đầu tư trong tương lai và thu hút tài trợ cho dự án gặp nhiều khó khăn hơn.

Thứ hai, cần lường trước những tác động về môi trường và xã hội bằng việc thực hiện bản đánh giá tác động dựa theo những tiêu chuẩn quốc tế.

Thứ ba, phải có được sự đồng tình ủng hộ của cư dân địa phương trong việc phát triển dự án trên đất của họ. Một sai lầm mà các nhà phát triển dự án thường mắc phải là cứ cho rằng họ biết điều gì mà người dân địa phương cần. Người dân trong khu vực phát triển dự án cần được cung cấp đầy đủ thông tin để có thể đưa ra các quyết định chính xác liên quan đến quyền lợi của họ.

Trung Quốc là một ví dụ. Doanh nghiệp Trung Quốc ngày càng bành trướng đầu tư ra nước ngoài. Vì thế, để tránh những rủi ro như trên, Chính phủ Trung Quốc gần đây đã ban hành bộ nguyên tắc hướng dẫn về hợp tác và bảo vệ môi trường. Từ trước đến nay, đây là bộ tiêu chuẩn đầu tiên được tung ra để các doanh nghiệp Trung Quốc dựa vào đó mà hành xử khi làm ăn ở nước ngoài.

Quay trở lại với câu chuyện HAGL và VRG. Sau khi báo cáo “Các ông trùm cao su” được công bố, VRG và HAGL đều đồng ý đánh giá lại tình hình môi trường xã hội liên quan đến các đồn điền của họ tại Campuchia và Lào, sau đó báo cáo lại với Global Witness và cùng tiếp tục làm việc với nhau. HAGL và VRG đang thực hiện các giải pháp để tránh những tác động tiêu cực về môi trường và xã hội.
http://nhipcaudautu.vn/article.aspx?id=17592-dau-tu-ra-nuoc-ngoai-tu-bai-hoc-hoang-anh-gia-lai

Chiến lược Hiệp định Thương mại Tự do của Trung Quốc

Nguồn: Guoyou Song & Wen Jin Yuan (2012). “China’s Free Trade Agreement Strategies”, The Washington Quarterly, 35:4, pp. 107-119. >>PDF
Biên dịch và Hiệu đính: Nguyễn Hoàng Mỹ Phương
Download: Chien luoc FTA cua Trung Quoc.pdf
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) là hiệp định thương mại tự do (FTA) đa phương với mục tiêu tự do hóa các nền kinh tế trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng của chương trình TPP đã khiến Trung Quốc lo lắng. Ban đầu, hiệp định được ký giữa bốn nước (Brunei, Chile, New Zealand và Singapore) vào ngày 3/6/2005 và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 28/5/2006. Năm 2008, năm nước khác (Úc, Malaysia, Peru, Mỹ và Việt Nam) bắt đầu đàm phán để gia nhập nhóm.[1] Ngày 12/11/2011, các nhà lãnh đạo của chín nước đối tác TPP đã công bố những nét chính của hiệp định TPP mở rộng: thúc đẩy sự đổi mới, nâng cao tăng trưởng kinh tế và phát triển, và hỗ trợ việc tạo ra và duy trì công ăn việc làm của chín nền kinh tế năng động trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.[2] Các cuộc đàm phán tiếp theo vẫn được tiến hành, với sự quan tâm tham gia sâu sắc của Nhật, Canada và Mexico.
Trung Quốc tích cực thúc đẩy hội nhập kinh tế khu vực Đông Á và sự hội nhập này phụ thuộc rất nhiều vào nền kinh tế của các nước láng giềng ở bên ngoài khu vực. Chương trình TPP được nhiều nhà hoạch định chính sách và các học giả Trung Quốc nhìn nhận như một nhân tố có thể ngăn cản hội nhập kinh tế khu vực Đông Á.[3] Hơn nữa, có tiếng nói mạnh mẽ trong giới học thuật và chính sách của Trung Quốc cho rằng lý do chính đằng sau sự hậu thuẫn của chính quyền Obama đối với chương trình TPP là mong muốn sử dụng TPP như một công cụ kiềm chế về mặt kinh tế đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc.[4]
Bởi tầm quan trọng cao về mặt tài chính, kinh tế và an ninh của các cuộc đàm phán TPP, bài viết này tập trung vào việc giới thiệu những đánh giá của Trung Quốc về chương trình TPP, nêu rõ các chiến lược mà Bắc Kinh có thể sử dụng để đối phó với sự phát triển nhanh chóng của TPP, và thảo luận về những khó khăn và hạn chế của các chiến lược FTA tương ứng của Trung Quốc cũng như cho thấy cách mà các chiến lược này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hệ thống thương mại thế giới trong dài hạn.
Đánh giá của Trung Quốc về TPP
Trung Quốc đã không quan tâm nhiều đến TPP khi những nước đầu tiên ký hiệp định này vào năm 2005. Tuy nhiên, khi Washington quyết định tham gia vào các cuộc đàm phán thì mối quan tâm của Bắc Kinh tăng dần. Khi Mỹ đưa ra đề nghị chính thức về chương trình đàm phán TPP –điều cho thấy chương trình TPP đã phát triển từ một ý tưởng thành một sáng kiến​​ chính sách quan trọng – tại Hội nghị Thượng đỉnh APEC tổ chức tại Hawaii năm 2011, cộng đồng học giả Trung Quốc đã phản ứng lại. Các học giả đã tiến hành một đánh giá toàn diện về ý định của Mỹ trong việc thúc đẩy đàm phán TPP, cũng như ảnh hưởng có thể có của hiệp định này đối với Trung Quốc.
Các quan điểm về ý định của Mỹ
Khi chương trình TPP tiến triển, một số học giả Trung Quốc đã cho rằng ý định chính của Mỹ đằng sau việc tham gia đàm phán chỉ đơn giản là để thúc đẩy nền kinh tế trong nước thông qua gia tăng xuất khẩu trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Du Lan, một nhà nghiên cứu tại Viện Nghiên cứu Quốc tế Trung Quốc (CIIS), cho thấy ý định thực sự của Mỹ là cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh xuất khẩu, hưởng lợi từ tăng trưởng kinh tế của Đông Á, và tạo điều kiện phục hồi kinh tế trong nước.[5] Wu Zhenglong, Tổng thư ký Ủy ban Quốc gia Trung Quốc về Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương, nhấn mạnh rằng bằng cách “tăng gấp đôi kim ngạch xuất khẩu trong vòng năm năm tới và tạo ra hai triệu việc làm mới, Mỹ mong muốn mở cửa thị trường trong nước hướng tới nhiều nước châu Á-Thái Bình Dương hơn và hạ thấp mức thuế quan thông qua nền tảng TPP”.[6] Pang Zhongying, giáo sư tại Đại học Nhân dân Trung Quốc, cũng nói rằng “TPP, cũng giống như những gì Tổng thống Mỹ, Bộ trưởng Ngoại giao và Đại diện Thương mại Mỹ công bố trước công chúng, chỉ đơn thuần là giúp cho Mỹ đang trong tình trạng suy thoái kinh tế “khai thác” thị trường của khu vực châu Á-Thái Bình Dương ngày càng thịnh vượng.”[7]
Theo nghiên cứu thực nghiệm được thực hiện bởi một số học giả Trung Quốc, nếu đàm phán và thực hiện TPP thành công, nền kinh tế Mỹ có thể có một số tác động kinh tế tích cực. Tuy nhiên, lợi ích kinh tế trực tiếp do TPP mang lại có thể nhỏ, đặc biệt là trong ngắn hạn.[8] Điều này khiến một số học giả tin rằng ý định thực sự của Mỹ là nhằm đạt được lợi ích kinh tế gián tiếp lâu dài, bao gồm tăng cường quan hệ thương mại giữa khu vực châu Á-Thái Bình Dương và Mỹ, giúp các doanh nghiệp Mỹ tận dụng môi trường FTA, và đảm bảo vai trò của Mỹ như một người thiết lập luật chơi trong các quy định thương mại khu vực.[9]
Mặc dù các quan chức Mỹ nhấn mạnh rằng mối quan tâm của họ trong TPP chủ yếu là mục đích kinh tế nhưng một số học giả Trung Quốc khác vẫn còn khá hoài nghi. Các học giả này cho rằng động cơ chính của Mỹ, cũng tương tự các FTA mà Mỹ đã thiết lập với các nước khác trong lịch sử, không phải là kinh tế mà là địa chính trị. Họ lưu ý một số xu hướng. Đầu tiên, Trung Quốc nên phân tích động cơ của Mỹ dưới góc độ chiến lược, gắn TPP với điểm then chốt gần đây của Mỹ đối với Châu Á. Fu Mengzi, Phó Chủ tịch Viện Quan hệ quốc tế Đương đại Trung Quốc (CICIR), nói rằng “TPP phản ánh thực tế rằng Mỹ đang tiến hành bước đi quan trọng trong chiến lược quay trở lại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương.”[10]
Thứ hai, Li Xiangyang, Giám đốc Viện Nghiên cứu châu Á-Thái Bình Dương thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc (CASS), cho rằng sự cạnh tranh giữa Trung Quốc và Mỹ nên được xem là một yếu tố quan trọng khi phân tích TPP, và rằng mục tiêu chính trị chính của Mỹ khi tham gia là nhằm kiểm soát sự trỗi dậy của Trung Quốc trong khu vực Đông Á.[11]Tương tự, Yang Jiemian, Chủ tịch Viện Nghiên cứu Quốc tế Thượng Hải, cho rằng chiến lược của Mỹ “pha loãng” và “làm giảm” ảnh hưởng của Trung Quốc trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, điều này có thể được xem như “cuộc đối đầu mềm”.[12] Trong một bài báo đăng trên Nhân dân Nhật báo, tờ báo chính thức của Đảng Cộng sản, nhà báo Ding Gang nói rằng “Mỹ không muốn bị Trung Quốc hất ra khỏi khu vực châu Á-Thái Bình Dương… TPP bề ngoài là một thỏa thuận kinh tế nhưng hàm chứa mục đích chính trị rõ ràng, đó là hạn chế sự trỗi dậy của Trung Quốc”.[13]
Thứ ba, một số học giả cho rằng ý định thực sự của Hoa Kỳ là nhằm can thiệp hội nhập kinh tế khu vực Đông Á, đạt thế thượng phong đối với Trung Quốc và trở thành cường quốc kinh tế chi phối trong khu vực. Giới nghiên cứu kinh tế lẫn quan hệ quốc tế đều ủng hộ lập luận này.[14]
Trước đây, hầu hết các chương trình hợp tác khu vực Đông Á không bao gồm Mỹ. Hội nhập kinh tế hiện nay của khu vực theo khuôn khổ “10 + 3” bao gồm ASEAN, Trung Hoa đại lục, Ấn Độ, Nhật và Hàn Quốc. Điều này khiến Mỹ không có một vị thế năng động trên bàn đàm phán, làm suy yếu hơn mối quan hệ kinh tế giữa Mỹ và Đông Á.
Để tăng cường quan hệ kinh tế với khu vực Đông Á, Mỹ đã một lần tích cực thúc đẩy sự phát triển của khuôn khổ Hợp tác Kinh tế Châu Á-Thái Bình Dương (APEC) và hy vọng rằng các cuộc đàm phán APEC cuối cùng có thể tiến triển thành thỏa thuận xây dựng Khu vực Thương mại Tự do châu Á-Thái Bình Dương (FTAAP). Tuy nhiên, ý tưởng này đã không hoạt động hiệu quả và APEC đã từng bước trở thành kênh liên lạc đa phương trên danh nghĩa của các bộ trưởng thương mại của các nước Châu Á-Thái Bình Dương.
Với ảnh hưởng suy giảm trong khu vực, Mỹ đối mặt với khả năng bị gạt ra bên lề. Do đó, theo một số học giả, Mỹ tham gia TPP để có thể cùng lựa chọn tiến trình hợp tác kinh tế Đông Á và đổi mới sự cộng tác với khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Một số đi xa hơn nữa, khẳng định rằng Mỹ không chỉ muốn kiềm chế Trung Quốc mà còn kết thúc sự hợp tác kinh tế khu vực Đông Á như một khối thống nhất, mở đường cho Mỹ giành vị thế thống trị đối với toàn bộ khu vực Đông Á.[15]
Ảnh hưởng của TPP đối với Trung Quốc
Đánh giá ảnh hưởng về mặt lý thuyết của TPP đối với Trung Quốc, hầu hết các học giả Trung Quốc đều cho rằng thực hiện thành công TPP sẽ có tác động tiêu cực đối với Trung Quốc. Tác động tiêu cực này bao gồm “chệch hướng thương mại”, khi FTA chuyển hướng thương mại từ một nước xuất khẩu hiệu quả hơn sang một nước kém hiệu quả hơn. Bởi vì một số nước thành viên TPP là các nước đang phát triển, xuất khẩu của họ cũng tương tự như của Trung Quốc nhưng với giá thấp hơn. Điều này gây nên sự cạnh tranh xuất khẩu giữa Trung Quốc và các nước đang phát triển này. Trong những trường hợp như vậy, TPP sẽ tạo ra mối đe dọa nghiêm trọng cho hàng xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ.[16] Mối đe dọa này sẽ tăng lên nếu Nhật tham gia đàm phán, bởi vì Nhật có tổng khối lượng thương mại rất lớn và quan hệ thương mại đã mang tính cạnh tranh với Trung Quốc. Sự tham gia của Nhật khiến TPP thậm chí trở nên nguy hiểm hơn đối với lợi ích kinh tế củaTrung Quốc.
TPP cũng có thể đe dọa tình hình địa chính trị của Trung Quốc trong dài hạn. Ví dụ, Shen Minghui, nhà nghiên cứu tại CASS, lưu ý rằng việc thực hiện TPP sẽ thu hút các nước ASEAN và các đồng minh khác của Mỹ ở Đông Á thông qua chính sách thân Mỹ, điều này sẽ hỗ trợ sự trở lại của Mỹ tại Đông Á và khiến Trung Quốc xa rời các nước đó. Qua đó, cho thấy mối đe dọa rất lớn đến chiến lược và địa vị của Trung Quốc trong khu vực Đông Á. Trung Quốc nên chú ý đến ý nghĩa địa chính trị tiềm tàng ​​của TPP, Shen cảnh báo, và đối phó với chúng một cách có chiến lược.[17]
Tuy nhiên, các học giả Trung Quốc khác lại tin rằng Trung Quốc không cần phải lo lắng về những thiệt hại tiềm năng do TPP mang lại. Ví dụ, Huang Renwei, Phó Chủ tịch SASS, và Zhu Feng, giáo sư tại Đại học Bắc Kinh, chỉ ra rằng TPP sẽ có ít tác động tới Trung Quốc bởi các nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương phụ thuộc vào Trung Quốc về kinh tế. Vì vậy, họ không thể để mất đi giá trị thương mại với Trung Quốc. Hơn nữa, nếu Trung Quốc thực sự có thể thúc đẩy cơ chế riêng của mình trong việc hợp tác kinh tế ở khu vực Đông Á, chẳng hạn như khuôn khổ 10 + 3, phát triển kinh tế khu vực sẽ được tiến hành liên tục và bù đắp sự ảnh hưởng thực tế của TPP. Do đó, Trung Quốc chỉ cần tiếp tục xây dựng lòng tự tin – đó là điều cần thiết để phát triển kinh tế dài hạn của chính mình.[18]
Những phân tích trên chủ yếu dựa trên giả định rằng TPP có thể được đàm phán và thực hiện thành công. Tuy nhiên, một số học giả Trung Quốc dự đoán rằng nó sẽ không thành công và do đó Trung Quốc không cần phải quan tâm tới TPP ngay bây giờ. Mei Xinyu, nhà nghiên cứu tại Học viện Thương mại Quốc tế và Hợp tác Kinh tế Trung Quốc thuộc Bộ Thương mại, lập luận rằng do các tiêu chuẩn cao mà TPP theo đuổi cũng như do trình độ phát triển kinh tế khác nhau của các nước tham gia sẽ khiến cho việc thực hiện TPP trở nên khó khăn.[19] Sheng Bin, giáo sư kinh tế tại Đại học Nam Khai, cũng cho rằng sự phân tách chính trị nội bộ Mỹ (chẳng hạn như giữa Quốc hội và Tổng thống, giữa hai đảng, và sự kháng cự của các nhóm lợi ích trong nước Mỹ) là những yếu tố then chốt hạn chế sự thành công của đàm phán TPP.[20]
Hơn nữa, một số học giả Trung Quốc liên hệ TPP với cuộc bầu cử tổng thống sắp tới của Mỹ. Yuan Peng, Giám đốc Viện nghiên cứu Mỹ tại CICIR, lập luận rằng đương kim Tổng thống Mỹ Barack Obama đã sử dụng TPP để thúc đẩy chiến dịch tranh cử của mình cho nhiệm kỳ mới và cũng là chiến thuật cố gắng đạt nhiều phiếu hơn. Nhưng ai biết được tổng thống Mỹ, hoặc thậm chí là công chúng Mỹ, sẽ hỗ trợ TPP sau cuộc bầu cử hay không?[21]
Chương trình FTA của Trung Quốc
Trở lại với việc hỗ trợ TPP gần đây của Mỹ, chính phủ Trung Quốc đang cố gắng tìm ra cách tốt nhất để đối trọng với sự ảnh hưởng kinh tế ngày càng tăng của Mỹ ở Đông Á. Theo một nhà nghiên cứu tại CASS, chiến lược quan trọng nhất của chính phủ Trung Quốc vào thời điểm này là tích cực thúc đẩy các chiến lược FTA của mình.[22] Li Wei, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Phát triển của Chính phủ, cho biết trong bài phát biểu tại Diễn đàn Tài chính châu Á rằng “chính sách không thay đổi” của chính phủ Trung Quốc là đẩy nhanh sự phát triển khu vực thương mại tự do với các đối tác thương mại lớn của Trung Quốc tại châu Á. Trong khi ông lưu ý rằng một số nước châu Á hiện đang cố gắng hợp tác với các nền kinh tế bên ngoài châu lục nhằm thiết lập quan hệ thương mại tự do liên khu vực với phạm vi rộng lớn hơn, Li cũng trích dẫn ngạn ngữ cổ của Trung Quốc: “Bà con xa không bằng láng giềng gần”. Ông cho rằng vị trí địa lý gần gũi giữa các nước châu Á là “một sự đảm bảo quan trọng cho sự ổn định và phát triển kinh tế của nhau” và “hợp tác với các nước xa có thể không có lợi cho sự phát triển kinh tế của chính các nước này”. [23] Liangliang, bình luận viên từ Hồng Kông, cho rằng bài phát biểu của Li có thể đang nói đến sự thay đổi chính sách gần đây của Nhật bày tỏ quan tâm tới TPP. Theo ông, bài phát biểu là một chỉ báo rõ ràng rằng Trung Quốc sẽ tích cực thúc đẩy việc thành lập các FTA mới với nhiều nước láng giềng châu Á nhằm đối trọng với chương trình TPP dưới sự thúc đẩy của Mỹ.[24]
Lợi ích trong TPP và sự xâm lấn sau đó của Mỹ vào khu vực đã thúc đẩy Bắc Kinh gia tăng tốc độ tiến hành FTA. Trung Quốc muốn chứng minh với các nước láng giềng rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục là một đối tác kinh tế song phương đáng tin cậy. Bắt đầu vào đầu năm 2012, Trung Quốc đã ký kết FTA song phương và đa phương với mười nước/vùng lãnh thổ: Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan, ASEAN10, Pakistan, Chile, New Zealand, Singapore, Peru và Costa Rica. Và cũng đang trong quá trình ký kết FTA song phương với một số nước/vùng lãnh thổ khác như Úc, Iceland, Hàn Quốc, Na Uy, Thụy Sỹ, Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) và Liên minh Hải quan Nam Phi (SACU).[25] Gần đây nhất, sau bảy năm đàm phán sơ bộ, Bộ trưởng Thương mại Trung Quốc Chen Deming và Bộ trưởng Thương mại Hàn Quốc Bark Tae Ho công bố vào ngày 2/5/2012 về việc bắt đầu đàm phán chính thức FTA Trung-Hàn.[26] Vào cuối tháng 5, các  bộ trưởng thương mại Hàn Quốc, Nhật và Trung Quốc, lần đầu tiên trong lịch sử, đã đồng ý khởi động đàm phán FTA ba bên vào cuối năm nay.[27]
…..
Hiệu quả của Chiến lược FTA của Trung Quốc
Kết luận
Xem toàn bộ nội dung văn bản tại đây: Chien luoc FTA cua Trung Quoc.pdf

[1] Ministry of Foreign Affairs & Trade, New Zealand, “Trans-Pacific Partnership (TPP) Negotiations,” http://www.mfat.govt.nz/Trade-and-Economic-Relations/2-TradeRelationships-and-Agreements/Trans-Pacific/index.php#history
[2] Office of the United States Trade Representative, “The United States in the Trans-Pacific Partnership,” November 2011, http://www.ustr.gov/about-us/press-office/fact-sheets/2011/november/united-states-trans-pacific-partnership
[3] Jianmin Jin, “China’s Concerns Regarding TPP No More than Empty Worries?,” Fujitsu Research Institute, January 11, 2012,http://jp.fujitsu.com/group/fri/en/column/message/2012/2012-01-11.html
[4] Li Zhongwei and Shen Jiawen, “Kua Taipingyang Huoban Guanxi: Yanjiu Qianyan yu Jiagou” [The Review of Research Frontier and Framewords of TPP], Dangdai Yatai[Contemporary Asia—Pacific], no. 1 (2012), pp. 44—45.
[5] Du Lan, “Meiguo Litui Kua Taipingyang Huoban Guanxi Lunxi” [On America’s TPP],Guoji Wenti Ynajiu [International Studies], no. 1 (2011), pp. 45—51.
[6] Wu Zhenglong, “Tackling trans-Pacific trade,” China Daily, September 16th, 2010,http://www.chinadaily.com.cn/opinion/2010-09/16/content_11309929.htm.
[7] Pang Zhongying, “TPP Jiushi Yichu Kongchengji” [TPP Is Just an Empty Fort Strategy], Huanqiu Shibao [Global Times], November 19, 2011.
[8] Wan Lu, “Meiguo TPP Zhanlve de Jingji Xiaoying Fenxi” [The Economic Implications of the New TPP Strategy], Dangdai Yatai [Contemporary Asia-Pacific], no. 4 (2011), pp. 60—73.
[9] Wei Lei, Zhang Hanlin, “Meiguo Zhudao Kua Taipingyang Huoban Guanxi Tanpan de Yitu ji Zhongguo de Duice,” [The Intensions of America’s TPP Strategy and China’s Responses], Guoji Maoyi [International Trade], no. 9 (2010), pp. 54—58.
[10] Fu Mengzi, “TPP yu Meiguo Yatai Zhanlve Tiaozheng ji dui Zhongguo de Yingxiang” [TPP, the Adjustment of America’s Asia-Pacific Strategy, and Its influence on China],Zhongguo Pinlun [China Review], March 2012.
[11] Li Xiangyang, “TPP, Zhongguo Jueqi Guocheng Zhong De Zhongda Tiaozhan” [TPP: A Serious Challenge for China’s Rise], Guoji Jingji Pinglun [International Economic Review], no. 2 (2012), pp. 17—27.
[12] Yang Jiemian, “Meiguo Shili Bianhua yu Guoji Tixi Chongzu” [The Change ofAmerica’s Power and Re-structure of International System], Guoji Wenti Yanjiu [International Studies], no. 2 (2012), p. 57.
[13] Ding Gang and Ji Peijuan, ‘‘ijuLicu Fan Taipingyang Huoban Guanxi’’ [The U.S. Attaches Great Importance to the Pan-Pacific Partnership], Renmin Ribao [People’s Daily], July 27, 2011, p. 3.
[14] Li Zhongwei and Shen Jiawen, pp. 44—45.
[15] Huangpu Liping, “Meiguo Weihe Jiji Tuidong TPP” [The Real Intention Behind theUnited States’ Proactive Promotion of TPP], Liaowang [Outlook], December 6, 2011,p. 58.
[16] Song Guoyou, “TPP shi Meiguo Qianzhi Zhongguo de Xin Fama” [The U.S. Sees TPPas a New Leverage to deal with China], Guoji Xianqu Daobao [International HeraldTribune], November 11, 2011.
[17] Shen Minghui, “TPP de Chengben Shouyi Fenxi” [A Cost Benefits Analysis of theTPP],Dangdai Yatai [Contemporary Asia-Pacific], no. 1 (2012), p. 34.
[18] “Bie Ba TPP Tai Dangzhen, Ta Zhishi Riben Hanguo Shiya Zhongguo de Gongju” [Don’t Take TPP too serious, it is just a tool for Japan and Korea to pressure China],http://world.people.com.cn/GB/16746633.html
[19] Mei Xinyu, “Mei Xinyu Xi TPP Qianshi Jinsheng” [Mei Xinyu Examines TPP],http://finance.jrj.com.cn/people/2011/11/23084111625502.shtml
[20] Shengbin, “Meiguo Shijiao xia de Yatai Quyu Yitihua Xin Zhanlve yu Zhongguo de Duice Xuanze” [American New Strategy of Asia-Pacific Regional Integration andChina’s Policy], Nankai Xuebao [Journal of Nankai University], pp. 70—80.
[21] Yuanpeng, “Mei Xie TPP Qiangshi Fan Ya, Yiyu Qiaodong Yatai Geju” [With the Entryinto TPP, the U.S. Intends to Reshuffle Asia Pacific Pattern], Guangzhou Ribao[Guangzhou Daily], November 18, 2011.
[22] Cuộc phỏng vấn qua điện thoại với nhà kinh tế học hàng đầu người Trung Quốc, ngày 14/3/2012. Các tác giả tôn trọng việc muốn ẩn danh của nhà kinh tế này và do đó đã không nêu tên ông ở đây.
[23] “State Research Center Director Li Wei: as soon as possible to achieve freely within the Asian region,” China Financial, January 2012, http://www.bboss-lamp.com/index.php/state-2.html
[24] “Zhongguo Yu Zhiheng TPP” [China plans to counter-balance the influence of TPP], Ibtimes.com.cn, January 17, 2012,http://www.ibtimes.com.cn/articles/20120117/050402_all.htm
[25] Jianmin, “China’s Concerns Regarding TPP No More than Empty Worries?”
[26]“Sino-Korea FTA a win-win arrangement for both countries,” China Daily, June 19, 2012, http://www.chinadaily.com.cn/business/2012-06/19/content_15513105.htm
[27]Leonid Petrov, “Northeast Asia: a region without regionalism,” East Asia Forum, May 23, 2012 http://www.eastasiaforum.org/2012/05/23/northeast-asia-a-regionwithout-regionalism/