Showing posts with label Biển Đông. Show all posts
Showing posts with label Biển Đông. Show all posts

Sunday, August 11, 2013

Nguy cơ chiến tranh biên giới Tây Nam

Nguy cơ Tây Nam đang gia tăng
Tháng 7 vừa qua, tại Campuchea đã xảy ra một sự kiện bất ngờ: Sam Rainsy, thủ lĩnh đảng CNRP, trở về Campuchea sau khi được quốc vương Sihamoni ân xá, và người đứng ra xin ân xá cho ông ta không phải ai khác mà chính là người đã giữ vai trò chủ đạo trong việc tuyên án 11 năm tù đối với Rainsy, thủ tướng Hunsen.
Còn nhớ, tội trạng chính của Rainsy dẫn đến án tù cho ông ta là việc nhổ 6 cột mốc biên giới với Việt Nam vào ngày 25 tháng 10 năm 2011, kèm theo những lời lẽ khiêu khích nhắm vào Việt Nam. Vì việc này, ông ta đã bị buộc tội “phá hoại mối quan hệ giữa Campuchea và Việt Nam” và “phá hoại tài sản quốc gia”.
Vậy động cơ nào đã dẫn đến việc Hunsen bỏ tù ông ta, và vì sao cũng chính Hunsen lại xin cho ông ta được ân xá?

Trong việc trừng trị Rainsy, cố nhiên có một lý do là Hunsen không muốn “vuốt mặt” chính quyền Việt Nam hiện nay, gồm những “đồng chí” của người đã nhấc Hunsen đặt lên chiếc ghế quyền lực cao nhất ở Camphuchea sau khi đá Pen Sovan ra khỏi vị trí đứng đầu đảng CPP. Không chỉ vì chịu ơn, mà việc trở mặt quá lộ liễu đối với chính quyền Việt Nam trong giai đoạn hiện nay hiển nhiên không có lợi cho vị thế cầm quyền của Hunsen. 

Tuy nhiên, nếu nhớ rằng Campuchea đã từng chiều theo Trung Quốc trong vấn đề biển Đông tại hội nghị ngoại trưởng các nước ASEAN ở Phnom Penh tháng 11 năm 2012, thì có thể thấy việc “chiều” Việt Nam không phải lý do chính để Hunsen bỏ tù Rainsy. Như vậy, lý do chính không là gì khác ngoài việc Hunsen thấy ở Rainsy một đối thủ chính trị nguy hiểm. 
Ở một đất nước có dân trí tương đối cao, một chính khách ngông cuồng như Rainsy chắc chắn sẽ thất bại. Tuy nhiên, ở Campuchea thì không hẳn như vậy. Mặc dù nỗi kinh hoàng vì những gì được tận mắt chứng kiến thời Pol Pot vẫn còn đó, trong tâm khảm của hàng trăm ngàn người, nhưng cũng do người dân Campuchea chưa được sống trong một chế độ ổn định lâu dài để hình thành một hệ tư tưởng ổn định, nhận thức không rõ ràng của họ rất dễ bị thay đổi, đặc biệt khi các thế lực chính trị luôn tìm cách thao túng cuộc sống xã hội và tâm lý quần chúng (ít nhất từ cuối những năm 1950, thời Norodom Sihanouk, tới giờ). 

Chỉ mươi năm nữa thôi, đa số, nhất là thế hệ trẻ ở Campuchea, có thể sẽ chẳng còn để ý đến việc đã từng có một nạn diệt chủng rùng rợn, và lực lượng đã đứng ra dập tắt nạn đó chính là quân đội Việt Nam. Khi đó, những kẻ bài Việt có thể sẽ thắng thế khi tìm mọi cách để nhồi vào sọ người dân những luận điệu rằng Việt Nam là kẻ xâm lược, cả bây giờ lẫn trong quá khứ, rằng đất Campuchea kéo dài đến tận Sài Gòn! Và hãy nhớ rằng qua cuộc tổng tuyển cử vừa rồi tại Campuchea, đảng CNRP của Rainsy đã chiếm non nửa số ghế trong quốc hội (CNRP: 55, CPP: 68). CPP của Hunsen tuy vẫn chiếm ưu thế nhưng không còn áp đảo nữa!

Vậy vì lý do gì mà Hunsen lại xin ân xá cho Rainsy và cho phép ông ta về nước? Câu trả lời có lẽ nằm ở tuyên bố mới đây của Rainsy. Trong khi tiếp tục thóa mạ không chỉ chính quyền mà cả dân tộc Việt Nam, Sam đã tuyên bố rằng tất cả các đảo trên biển Đông là của Trung Quốc, rằng ông ta nhìn thấy ở Trung Quốc một người bạn lớn và một đồng minh quan trọng và đáng tin cậy!
Thì ra thế! Sam đã tìm mọi cách ve vãn Trung Quốc, và chắc hẳn Bắc Kinh đã nhận thấy ở ông ta một kẻ bài Việt điên cuồng. Nếu tìm cách để ông ta trở thành chính khách có ảnh hưởng lớn ở Campuchea thì có thể biến đất nước này thành tay sai của Tàu cộng để áp đảo Việt Nam từ phía tây-nam, không để cho Việt Nam thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc. Và chính vì sức ép của Trung cộng mà Hunsen đã phải ngậm bồ hòn bảo Sihamoni ân xá cho Sam.

So với bè lũ Pol Pot, những kẻ đã từng đập chết bất kỳ ai dám cầm đến cuốn sách, thì Sam Rainsy là “bậc đại trí thức” với bằng cấp đầy mình. Nếu ông ta cầm quyền ở Campuchea thì chắc chắn ông ta sẽ không dựng lại thảm cảnh diệt chủng nữa. Tuy nhiên, với cái máu hung hăng, ông ta vẫn sẽ cai trị Campuchea bằng bạo lực. Và đặc biệt, đối với Việt Nam, ông ta sẽ thực thi một chính sách thù địch, nhất là khi được khuyến khích bằng những lợi lộc từ Bắc Kinh.

Viễn ảnh của chiến tranh biên giới tây-nam lại đang lởn vởn trước mắt chúng ta!

Nguyễn Trần Sâm
(Blog Đào Hiếu)

Wednesday, August 7, 2013

Vài nét về quan hệ đối tác chiến lược

Vài nét về quan hệ đối tác chiến lược
TCCSĐT - Sau Chiến tranh lạnh, trong quan hệ quốc tế hình thành một số hình thức mới. Các quốc gia với thể chế chính trị, kinh tế khác nhau đã tìm những phương cách mới và áp dụng chúng một cách linh hoạt để thúc đẩy quan hệ với nhau. Một trong các hình thức quan hệ mới đó là việc thiết lập quan hệ đối tác chiến lược.

Đối tác chiến lược
Vấn đề hợp tác trong lý thuyết quan hệ quốc tế
Liên minh (Alliance): Là mối quan hệ hợp tác chính thức hoặc không chính thức giữa hai hoặc nhiều nước nhằm hỗ trợ lẫn nhau trên một mức độ nào đó về phối hợp chính sách liên quan đến các vấn đề về an ninh hiện tại và tương lai. Hình thái “an ninh tập thể” thường là cách thể hiện mô hình này. Theo đó các nước ký kết một hiệp ước (chính thức hoặc không chính thức) cam kết giúp đỡ nhau khi bất cứ thành viên nào bị đe dọa.

Chức năng của liên minh là để  “củng cố an ninh của đồng minh” thông qua việc hợp tác để “hợp lực” chống lại một thế lực khác. Lịch sử quan hệ quốc tế cho thấy, sự phát triển của mô hình liên minh là các đồng minh đánh giá nhau qua khả năng trợ giúp nhau về mặt quân sự nhằm răn đe hoặc trừng phạt một liên minh đối lập.
Đối tác (Partnership): Là thuật ngữ chỉ mối quan hệ cộng tác - hợp tác nhưng ở mức độ cao hơn và cụ thể hơn. Các nhà nghiên cứu định nghĩa: “Đối tác bao gồm hai hay nhiều bên hành động cùng nhau để nâng cao hợp tác bằng việc thực hiện những mục tiêu chung. Xây dựng những kênh/cơ chế giải quyết các bất đồng/tranh chấp, biện pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác và phương pháp đánh giá tiến bộ cũng như chia sẻ những thành tựu hợp tác”. 
Hành động cùng nhau chung mục tiêu và chung lợi ích là những tiêu chí của quan hệ đối tác. Một mối quan hệ đối tác bao gồm sự gần gũi, bình đẳng, có đi có lại, và thỏa thuận về những mục tiêu chung.
Chiến lược (Strategic): Nghĩa rộng là sự quan trọng có tính toàn cục, then chốt và có giá trị tương đối lâu dài về mặt thời gian, đặc biệt, trong các bối cảnh liên quan đến việc sử dụng sức mạnh quân sự. “Chiến lược” dùng để chỉ tính tổng thể, để tạo sự khác biệt với những chi tiết (chiến thuật); nghệ thuật sử dụng nguồn lực, kết hợp với các giá trị về đạo đức, để đạt được những mục tiêu. Trong nhiều tình huống, từ “chiến lược” thường liên quan đến các lĩnh vực an ninh - quân sự mặc dù không hoàn toàn là một thuật ngữ chỉ dùng trong lĩnh vực an ninh - quân sự.
Đối tác chiến lược (Strategic Partnership) chỉ một mối quan hệ hợp tác quan trọng (nhưng không nhất thiết chỉ tập trung trong lĩnh vực an ninh - quân sự) vừa có tính hướng vào mục tiêu cụ thể, vừa có hàm ý mong muốn quan hệ lâu dài (quan hệ “win - win” cùng có lợi). Đặc điểm của quan hệ đối tác chiến lược là không có giới hạn về không gian, thời gian; không hạn chế về đối tượng áp dụng; không hạn chế về lĩnh vực hợp tác, và không nhất thiết phải mang nội dung an ninh - quân sự.
Đối tác chiến lược là một dạng quan hệ hợp tác phong phú, trong đó thành phần, nội dung, hình thức, mức độ… hoàn toàn tùy thuộc vào sáng kiến của các bên. Các nhà nghiên cứu quốc tế cho rằng, hạn chế duy nhất đối với mối quan hệ đối tác chiến lược là “sức tưởng tượng của các bên tham gia”.
Thuật ngữ “đối tác chiến lược” lần đầu được sử dụng vào khoảng những năm 1990, 1991 để chỉ quan hệ giữa Mỹ và Trung Quốc. Từ đó, thuật ngữ này được sử dụng rộng rãi.
Theo quan niệm của GS. Va-lê-ri Lót-xkin (Nga), “đối tác chiến lược” phải bao gồm những nội dung sau: không tấn công lẫn nhau; không liên minh chống lại các nước khác; không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; phải có lòng tin lẫn nhau. Đối với Mỹ, đối tác chiến lược phải bao gồm hợp tác chặt chẽ về quân sự, an ninh.
Về hình thức: đối tác chiến lược có thể diễn ra linh hoạt (chính thức hoặc không chính thức, song phương hoặc đa phương, diện và mức độ tham gia rộng hoặc hẹp, nhiều hoặc ít…) và có tính mở vì không hướng tới một kết cục cụ thể.
Trong thực tế, có những mối quan hệ tuy không phải là đối tác chiến lược, nhưng thực chất lại còn hơn cả đối tác chiến lược. Ví dụ: Quan hệ Mỹ - EU tuy không phải là đối tác chiến lược, nhưng mối quan hệ hợp tác thì vô cùng chặt chẽ. Còn quan hệ Bra-xin - EU tuy là quan hệ đối tác chiến lược nhưng mức độ quan hệ không thể so sánh được với quan hệ Mỹ - EU.
Quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam
Với Việt Nam, đối tác chiến lược là mối quan hệ chiến lược gắn với ngoại giao, kinh tế. Theo TS. Lê Hồng Hiệp (Học viện Ngoại giao): Quan hệ đối tác chiến lược mà Việt Nam quan niệm bao gồm hợp tác về an ninh, thịnh vượng và nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam.
- An ninh: quan hệ đối tác chiến lược đó sẽ giúp cho Việt Nam củng cố nền tảng ngoại giao và quốc phòng, hỗ trợ tích cực cho Việt Nam trong việc giữ gìn an ninh, bảo toàn chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ.
- Thịnh vượng: mối quan hệ kinh tế với đối tác đó phải góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Nó thể hiện trên các lĩnh vực: quan hệ thương mại, đầu tư, viện trợ phát triển (ODA) và chuyển giao công nghệ. Ví dụ như: thương mại song phương phải đạt kim ngạch tối thiểu 10 tỷ USD, đầu tư song phương đạt từ 5 tỷ USD trở lên,… Nếu các tiêu chí đó chưa đạt được thì phải xét đến quy mô và mức độ phát triển của quốc gia đó.
- Nâng cao vị thế của Việt Nam: quốc gia đối tác chiến lược phải là những nước lớn, hoặc cường quốc hạng trung tiêu biểu; có vị thế và ảnh hưởng quan trọng, đáng kể đối với đời sống chính trị thế giới và khu vực.
Ngoài 3 tiêu chí an ninh, thịnh vượng, nâng cao vị thế của Việt Nam cần phải có những tiêu chí khác nữa như quan hệ lâu dài, cùng có lợi (mức độ lợi ích có thể chia đều, hoặc hơn kém do hai nước quy định), có niềm tin tưởng vào nhau…
Tháng 1-2013, nhân chuyến thăm I-ta-li-a của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, hai nước đã ký tuyên bố thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - I-ta-li-a. Ngày 26-6-2013, Việt Nam và Vương quốc Thái Lan ra Tuyên bố chung Việt Nam - Thái Lan về chuyến thăm chính thức Thái Lan của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng theo lời mời của Thủ tướng Y. Si-na-oa-tra, theo đó, hai nhà lãnh đạo đã quyết định đưa quan hệ hai nước lên đối tác chiến lược. Trong buổi hội đàm ngày 27-6-2013 tại Gia-các-ta, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Tổng thống In-đô-nê-xi-a S. B. Y-u-đô-y-ô-nô chính thức tuyên bố nâng cấp quan hệ Việt Nam - In-đô-nê-xi-a thành đối tác chiến lược, nhằm đưa quan hệ hai nước lên một tầm cao mới.
Đây là những mối quan hệ đối tác chiến lược mới nhất mà Việt Nam thiết lập với một nước khác. Trước đó, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với Liên bang Nga (năm 2001), Nhật Bản (năm 2006), Ấn Độ (năm 2007), Trung Quốc (năm 2008), Hàn Quốc, Tây Ban Nha (năm 2009), Vương quốc Anh (năm 2010), và Đức (năm 2011). Trong các quan hệ đối tác chiến lược này, có một số mối quan hệ đã được nâng lên tầm “đối tác chiến lược toàn diện” như với Trung Quốc và Liên bang Nga.
Bên cạnh đó, từ năm 2009, Việt Nam cũng đã thiết lập quan hệ “đối tác toàn diện” với Ô-xtrây-li-a. Trong chuyến thăm gần đây tới Pháp của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh, hai nước cũng thống nhất sẽ sớm nâng quan hệ song phương lên tầm “đối tác chiến lược”.
Việc mở rộng và làm sâu sắc hơn quan hệ với những quốc gia quan trọng trên thế giới phù hợp với lợi ích của mỗi nước, góp phần vào hòa bình, ổn định, thịnh vượng của khu vực và thế giới chính là sự thể hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế./. 
Đinh Công Tuấn
PGS, TS. Tổng Biên tập Tạp chí Nghiên cứu châu Âu
http://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2013/22829/Vai-net-ve-quan-he-doi-tac-chien-luoc.aspx

Trung Quốc dựa vào cái gì để thống trị thế giới?

Trung Quốc dựa vào cái gì để thống trị thế giới?
Nhà quan sát về các vấn đề Trung Quốc người Mỹ David Shambaugh khẳng định trong cuốn “Trung Quốc bước ra thế giới”: “Nhiều người lo ngại về một "cuộc chinh phục" thế giới của Bắc Kinh, nhưng họ còn xa mới có thể đạt đến tầm thống trị thế giới”. Ông cũng cho biết thêm, hiện nay, chưa có biểu hiện gì cho thấy Trung Quốc muốn làm và có thể làm được điều này. Giả sử Bắc Kinh có ý đồ thống trị thế giới, thì họ cũng không biết cách nào để nắm được thế giới trong tay và cũng không ai để họ làm được điều đó, vì Trung Quốc vẫn chưa đủ thực lực để vượt qua Mỹ. Điều đó hoàn toàn không sai.
Hạm đội Trung Quốc không thể sống sót nếu ra xa bờ 500km

Tuy hiện nay Trung Quốc đang là nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới, có thể một ngày nào đó họ sẽ đứng ở vị trí số 1, nhưng xét về tổng dân số thì điều này cũng không có gì là đặc biệt. So sánh về GDP, Tổng thu nhập kinh tế quốc dân của Mỹ hiện chỉ hơn gấp đôi Trung Quốc, nhưng về thu nhập bình quân đầu người thì vượt rất xa, gấp 12 lần, còn Nhật Bản cũng hơn gấp bội so với Bắc Kinh.

Đúng là Trung Quốc đã đầu tư rất nhiều tiền của để xây dựng quân đội, trở thành cường quốc quân sự số 1 châu Á và nằm trong top đầu của thế giới, nhưng họ không có đồng minh và căn cứ quân sự ở nước ngoài, tức là không có chỗ đứng chân. Hải quân Trung Quốc không có khả năng phát động chiến tranh cách bờ chỉ 300 dặm Anh (tương đương 482km), thậm chí còn không có khả năng bảo tồn sinh lực, nếu mon men ra xa bờ 500km

Hiện nay, các công ty Trung Quốc không ngừng vơ vét các tài nguyên thiên nhiên, để đáp ứng nhu cầu phát triển của một nền kinh tế phát triển quá nóng, nhưng hơn 90% kim loại và khoáng sản phải nhập khẩu từ nước ngoài, khả năng chủ động nguyên liệu cho nền kinh tế của Trung Quốc là rất khó khăn.

Điều này cho thấy sự thật hiển nhiên là nền kinh tế này có thể sập bất cứ lúc nào, nếu các thị trường cung ứng nguyên vật liệu bị đóng băng hoặc bị phong tỏa, hoặc tuyến đường vận chuyển trên biển Đông qua eo biển Malacca của họ bị bóp nghẹt. Bắc Kinh sẽ vùng vẫy như thế nào trong tình huống đó?

Nếu Trung Quốc không thể chủ động được về nền kinh tế, quân đội cũng không thể thắng trong một cuộc chiến tranh, thì họ làm thế nào để thống trị thế giới? Thông qua ngoại giao hay quyền lực mềm? Sử dụng những biện pháp này thì lại càng không thể. Thời gian qua, sự bế tắc trong đàm phán về biển Đông đã nói lên điều đó.

Về mặt ngoại giao, Trung Quốc luôn mang tư tưởng trịch thượng của một nước lớn, nhưng ngoài khả năng kêu gọi triệu tập Hội nghị 6 bên (ám chỉ vấn để Triều Tiên) và việc gây sức ép với các nước láng giềng trên biển Đông và Hoa Đông, Trung Quốc không hề có bất cứ hành động nào, tại bất cứ khu vực nào trên thế giới, gây được ảnh hưởng lớn đến các sự vụ quốc tế. Với chính sách ngoại giao phiêu lưu và nguy hiểm, Bắc Kinh không thể trở thành lãnh tụ trên trường quốc tế.

90% kim loại và khoáng sản Trung Quốc phải nhập khẩu từ nước ngoài

Tuy Trung Quốc cũng đầu tư khá nhiều tiền của, dùng mọi biện pháp để tuyên truyền hình ảnh ra thế giới, nhưng trong thời gian qua các cuộc khảo sát ở một số nước đã cho thấy, chỉ số “hình ảnh” của Trung Quốc là rất thấp, thể hiện một điều là hình tượng quốc gia của Trung Quốc trên toàn cầu là không “rực rỡ” như họ suy nghĩ. Một học giả Hồng Kông đã từng thừa nhận, “dấu chân” Trung Quốc xuất hiện ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng ấn tượng để lại quá nhạt nhòa.

Tất nhiên là những điều này có thể thay đổi, nhưng có rất nhiều lí do khiến Trung Quốc không thể xưng bá thiên hạ. Hiện tại bước chân của Trung Quốc trên vũ đài chính trị thế giới đang ngày một chậm dần, vì Trung Quốc không thể duy trì tốc độ phát triển quá nóng trong thời gian dài để làm sụp đổ nền kinh tế, điều đó đồng nghĩa với đầu tư nước ngoài sụt giảm, sẽ dẫn đến sự suy yếu về ảnh hưởng chính trị.

Đồng thời, Bắc Kinh cũng không thể duy trì mức độ đầu tư quá lớn cho quân đội, để bỏ mặc các vấn đề xã hội đang ngày càng nhức nhối, đặc biệt là tại các khu tự trị. Thời gian tới, các nhà lãnh đạo Trung Quốc sẽ không thể ngủ yên, trong khi đó Mỹ và các đồng minh vẫn duy trì mức độ ổn định lâu dài. Dự báo trong tương lai, giấc mơ thống trị thế giới của người Trung Quốc còn lâu mới thực hiện được.
Theo Strategypage

Khi Vương Nghị... không chịu cười !

Khi Vương Nghị... không chịu cười !
Ảnh: AFP
Trong khi các lãnh đạo Việt Nam tươi cười thể hiện sự thân thiện và mến khách thì gương mặt Vương Nghị cứ câng câng, tỏ thái độ rất trâng tráo, trịch thượng và ngạo mạn, đặc biệt là trong tấm hình chụp khi y được bắt tay với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.
Chuyến thăm Việt Nam của Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị bắt đầu từ ngày 3-8-2013 đã kết thúc. Ông Vương Nghị đã hội đàm với Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh, đã được Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp.
Các tờ báo của Việt Nam đều đăng những bản tin giống hệt nhau về chuyến thăm này.
Bản tin của VOV tường thuật buổi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tiếp Vương Nghị có đoạn: “Thủ tướng cũng cho rằng, hai bên cần kiên trì giải quyết tranh chấp trên biển trên cơ sở Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 và tinh thần Tuyên bố về ứng xử của của các bên ở Biển Đông (DOC), hướng tới xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC)”.

Cũng theo một bản tin trước đó của VOV, về buổi hội đàm giữa hai Bộ trưởng ngoại giao có đoạn: “Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh nhấn mạnh, hai bên cần kiên trì giải quyết tranh chấp trên biển trên cơ sở Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật biển 1982 và tinh thần Tuyên bố về ứng xử của của các bên ở Biển Đông (DOC), hướng tới xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông (COC)”.

Không thấy các bản tin của báo chí Việt Nam cho biết thái độ cũng như câu trả lời của Vương Nghị đối với các ý kiến nói trên của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh.

Trong khi đó, bản tin hôm nay của Tân Hoa Xã Trung Quốc phản đối sự vội vã thiết lập Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông lại cho biết về ý kiến của ông Vương Nghị trong chuyến thăm Việt Nam: Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông không nên được đề xuất một cách vội vã vì nó ảnh hưởng đến lợi ích của nhiều quốc gia, là không thực tế khi cho rằng một bộ quy tắc ứng xử có thể được thống nhất qua một đêm, bộ quy tắc ứng xử cần tìm kiếm sự đồng thuận rộng rãi nhất có thể để đảm bảo lợi ích của tất cả các bên quan tâm, không một quốc gia riêng lẻ nào có thể áp đặt ý muốn của mình lên những quốc gia khác

Quan điểm của hai bên như thế là đã rõ. Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông có lẽ còn lâu mới đạt được khi mà Bắc Kinh từng ngày dùng đủ mọi thủ đoạn để xâm lấn tiến tới chiếm trọn Biển Đông, trong khi nhai đi nhai lai một luận điệu: không thể vội vã, cần có thời gian…

Điều cần nói là gương mặt thể hiện thái độ của Vương Nghị trong các buội hội đàm và tiếp kiến tại Việt Nam. Trong khi các lãnh đạo Việt Nam tươi cười thể hiện sự thân thiện và mến khách thì gương mặt Vương Nghị cứ câng câng, tỏ thái độ rất trâng tráo, trịch thượng và ngạo mạn, đặc biệt là trong tấm hình chụp khi y được bắt tay với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Không bức xúc với cái bản mặt của tay Vương Nghị này mới là chuyện lạ!

Mời bà con xem các tấm hình dưới đây thì rõ:

Ảnh: website Bộ Ngoại giao VN

Ảnh: VOV

Sam Rainsy là ai và vì sao có những phát biểu như vậy?

Sam Rainsy là ai và vì sao có những phát biểu như vậy?
Wikipedia: Sam Rainsy & Sam Sary 
Rainsy 'học cao và ghét Việt Nam' 
Nguyễn Văn Huy Gửi đến BBC từ Paris, Pháp 
Sam Rainsy tuyên bố ủng hộ Trung Quốc bảo vệ đảo trên Biển Đông
Không bằng lòng với kết quả bầu cử 28/7/2013 ở Campuchia, ông Sam Rainsy, lãnh đạo đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia, phủ nhận kết quả bầu cử do có nhiều sai phạm bầu cử nghiêm trọng và yêu cầu điều tra.Kết quả sơ bộ của cuộc bầu cử quốc hội sẽ được một ủy ban điều tra xem lại và chính thức công bố vào ngày 10/8.
Sau khi công bố kết quả, các đảng phái có thể khiếu nại trong vòng một tháng, nếu không có đơn khiếu nại thì kết quả chính thức sẽ được công bố vào ngày 14/8.
Đây là một thành công lớn đối với ông Sam Rainsy vì, mặc dù không ra ứng cử, yêu cầu của ông đã được chính quyền Hun Sen lắng nghe.
Nhưng ông nổi tiếng hơn cả ở Việt Nam vì các phát biểu của mình cả về̉ người Việt, cả về Biển Đông.
Ông Sam Rainsy là ai và vì sao có những phát biểu như vậy?

HAI LẦN ÂN XÁ

Ngày 12/7/2013 Sam Rainsy đã được quốc vương Norodom Sihamoni ân xá theo đơn xin của đương kim thủ tướng Hun Sen "vì lợi ích của đất nước và trên tinh thần hòa giải dân tộc".
Ông Rainsy năm nay 64 tuổi (sinh năm 1949), đang sống lưu vong tại Pháp nhằm trốn tránh bản án xử vắng mặt 11 năm tù giam về tội tuyên truyền thông tin sai lạc và phá hoại tài sản quốc gia.
"Nhắc lại, ngày 25/10/2009, ông Sam Rainsy tới khu vực đang phân giới cắm mốc giữa tỉnh Long An của Việt Nam và tỉnh Svay Rieng của Campuchia, nhổ sáu cọc dấu tạm thời mang về Phnom Penh."
Nhắc lại, ngày 25/10/2009, ông Sam Rainsy tới khu vực đang phân giới cắm mốc giữa tỉnh Long An củaViệt Nam và tỉnh Svay Rieng của Campuchia, nhổ sáu cọc dấu tạm thời mang về Phnom Penh.
Chính quyền Việt Nam đã lên án hành động này của Sam Rainsy và gọi nó là "phá hoại mối quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia" và yêu cầu chính quyền Campuchia có biện pháp "xử lý thích đáng" đối với hành vi đó.
Trước sự phá hoại này, chính quyền huyện Chantrea, tỉnh Svay Rieng làm đơn kiện ông ra tòa và Sam Rainsy bị kết án 2 năm tù ngày 27/01/2010.
Để tránh bị bỏ tù, ông Sam Rainsy bỏ chạy sang Pháp định cư, vì ông mang hai quốc tịch (Pháp và Campuchia).
Không bao lâu sau, ngày 23/9/2010 tòa án Phnom Penh tuyên phạt ông Sam Rainsy một bản án vắng mặt nặng nề hơn, 10 năm tù về tội giả mạo và công bố một bản đồ sai lạc về biên giới nhằm cản trở công tác phân giới cắm mốc của Campuchia với Việt Nam.
Không vì lý do rõ ràng nào ông Sam Rainsy luôn tỏ ra hận thù với chính quyền cộng sản Việt Nam và dân tộc Việt Nam. Gia đình ông và vòng đai thân thuộc của ông không hề bị chính quyền Việt Nam và người Việt Nam có hành vi nào gây thương tổn hay thiệt hại về vật chất cũng như tinh thần.

'THÀNH CÔNG LỚN NHẤT'

Xuất thân từ một gia đình quyền quý, thân phụ ông là Sam Sary, một chính trị gia lỗi lạc dưới thời cố quốc vương Norodom Sihanouk trong thập niên 1950.
Sau khi thân phụ ông bị thất sủng và bị ám sát năm 1965, ông Sam Rainsy được gia đình đưa sang Pháp tị nạn, lúc đó mới 16 tuổi.
Tại đây Sam Rainsy theo học những trường nổi tiếng như Lycée Janson de Sailly, sau đó là Sciences Po tại Paris và INSEAD (Intitut européen d’administration des affaires) tại Fontainebleau.
Tốt nghiệp ngành tài chánh ngân hàng, Sam Rainsy được tuyển dụng vào làm việc trong những ngân hàng lớn của Pháp, như BNP Paribas.
Bà Tioulong Saumura
Cưới bà Tioulong Saumura, con gái cựu Thủ tướng Nhiek, 
là 'thành công lớn nhất' trong đời ông Sam Rainsy
Thành công lớn nhất đời ông có lẽ là đã kết hôn với bà Tioulong Saumura (sinh năm 1950), ái nữ của ông Nhiek Tioulong, cựu chỉ huy trưởng lực lượng bảo vệ hoàng gia Campuchia thời vua Norodom Sihanouk, thủ tướng chính phủ năm 1962, đại sứ và nhiều lần làm bộ trưởng trong các chính quyền Campuchia trong suốt thập niên 1960.
Bà Tioulong Saumura thông thạo các ngoại ngữ Pháp, Anh, Nhật và Nga vì đã theo học các truờng lớn tại các thủ đô Paris, Tokyo và Moskva, và tốt nghiệp các trường kinh tế tài chính lớn của Pháp như Institut d’Etudes Politiques de Parisnăm 1974, INSEAD de Fontainebleau năm 1980 và đã lần lượt nắm giữ những chức vụ lớn trong ngành ngân hàng và công ty bất động sản lớn của Pháp.
Sam Rainsy đã thành hôn với Tioulong Saumura năm 1971 và sinh được ba người con, tất cả đều mang tên Pháp: Sam Patrice, Sam Muriel và Sam Rachel.
Hai người có cùng một đam mê là chính trị, năm 1981 cả hai cùng gian nhập đảng FUNCINPEC do Norodom Sihanouk thành lập và con trai trưởng là Norodom Ranariddh điều hành.
Sự thù ghét Việt Nam của Sam Rainsy có lẽ bắt nguồn từ sau khi ông quen biết với gia đình Norodom, nhất là với Norodom Ranariddh (sinh năm 1944) tại Pháp, giáo sư môn chính trị học tại Đại học Aix-en-Provence.
Trong suốt thời gian trị vì, và có lẽ do bị thực dân Pháp cố tình nhồi nhét cho rằng chính Pháp đã cứu Campuchia ra khỏi họa thôn tính của Việt Nam hồi cuối thế kỷ 19, nên Norodom Sihanouk luôn luôn thù ghét Việt Nam và đã bằng mọi cách triệt hạ uy tín của các chế độ miền Nam Việt Nam trước năm 1975 và chính quyền cộng sản Việt Nam sau 1975.
Chính sự thù ghét này đã làm nảy sinh nhiều phong trào "cáp duồn" (chặt đầu người Việt) và thả trôi sông trong những năm 1970 và 1979, buộc quân đội Việt Nam tiến vào Campuchia can thiệp.
"Tại Pháp, Sam Rainsy tuy có nhiều bạn bè trong giới chính trị nhưng ít ai ủng hộ lập trường bài Việt của ông."
Norodom đã lợi dụng sự can thiệp này để tố cáo Việt Nam xâm chiếm Campuchia và kêu gọi quốc tế lên án Việt Nam và bênh vực ông.
Bất chấp những tội ác do Khmer Đỏ gây ra cho dân tộc Campuchia, Norodom Sihanouk và những phe phái Khmer khác đã cùng nhau hợp tác chống lại phe Hun Sen, thân Việt Nam. Cái bất bình thường của giới chính trị gia Khmer là ở chỗ đó, vì không có hậu thuẫn của quần chúng bình dân phe nào cũng dùng lá bài chống Việt Nam để tranh phiếu.
Tại Pháp, Sam Rainsy tuy có nhiều bạn bè trong giới chính trị nhưng ít ai ủng hộ lập trường bài Việt của ông.
Những dân biểu trong Đảng xã hội Pháp như ông François Brottes, dân biểu quốc hội tỉnh Isère, chỉ yêu cầu chính phủ Pháp cưu mang Sam Rainsy khỏi bị kết án tại Campuchia.

BÀI XÍCH ĐỂ TRANH CỬ

Cũng như những đối thủ tranh cử thất bại khác, Sam Rainsy đã dùng chiêu bài tố cáo Việt Nam xâm chiếm Campuchia và xua đuổi cộng đồng người Việt ra khỏi lãnh thổ để tranh cử.
Người Khmer đã bỏ phiếu cho Sam Rainsy không phải vì chống Việt Nam mà vì những hứa hẹn về tự do dân chủ và đời sống sung túc, khác với hứa hẹn đảng cầm quyền do Hun Sen lãnh đạo là ổn định và phát triển.
Sam Rainsy tại một buổi lễ tôn giáo ở Phnom Penh hôm 30/7
Ông Sam Rainsy dùng lá bài Việt Nam để tranh thủ sự ủng hộ của dân chúng
Năm 1993, sau khi đắc cử dân biểu quốc hội tỉnh Siem Reap với tư cách là thành viên đảng FUNCIPEC, Sam Rainsy được giao giữ chức vụ bộ trưởng tài chánh nhưng bị thất sủng năm 1994 và bị loại ra khỏi đảng FUNCINPEC.
Không chấp nhận hợp tác với bất cứ đảng phái nào khác, năm 1998, Sam Rainsy lập ra một đảng mang tên mình, Đảng Sam Rainsy. Bắt đầu từ đây người ta thấy có cái gì không bình thường trong con người Sam Rainsy, hoặc là ông quá tự cao để không chấp nhận hợp tác với bất cứ một ai, hoặc ông quá tự kỷ vì chỉ thấy có mình là thông minh sáng suốt.
Lý do sau cùng này có lẽ đúng vì nếu so sánh trình độ kiến thức và học vị của những cấp lãnh đạo trong chính quyền Campuchia hiện nay, không ai có nhiều bằng cấp cao như Sam Rainsy. Và chính đó cũng là một vấn đề đối với Sam Rainsy, ông không được quần chúng bình dân và nông dân ủng hộ, và thành phần dân tộc này chiếm 80% dân số Khmer.
Sau nhiều lần thất bại trong các cuộc tranh cử, khẩu hiệu chống Việt Nam lần đầu tiên được Sam Rainsy sử dụng năm 2003, sau khi tố cáo đảng FUNCIPEC là tham nhũng và đảng Nhân dân Campuchia của Hun Sen là tai sai của Việt Nam. Số người dồn phiếu cho ứng cử viên Sam Rainsy tăng hẳn lên.
Tuy nhiên sự bài xích người Việt trong các chương trình tranh cử cũng đã để lại nhiều dấu ấn trong sinh hoạt thường ngày của người Khmer.

CHÊNH LỆCH MỨC SỐNG

Cũng nên biết, đời sống thường ngày của người Khmer đã được phục hồi là do chính người Việt mang đến chứ không phải người Thái Lan.
"Nhiều người gốc Khmer đi bỏ phiếu đều tự nguyện làm quan sát viên để ngăn cản người Khmer gốc Việt có tên trong danh sách bỏ phiếu."
Người Thái chỉ mang hàng hóa đến Campuchia để bán và mang tiền về nước, trong khi người Việt đến để phục hổi lại các ngành nông nghiệp, ngư nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hành chánh, an ninh và xây dựng bị Khmer Đỏ hủy diệt khi cầm quyền.
Với thời gian, những người Việt này đã gần như trở thành người Khmer và sinh sống như người Khmer, và có mức sống tương đối khá giả hơn những người Khmer ở thôn quê và các khu ngoại ô. Chính sự chênh lệch về mức sống này đã là đề tài tranh cử của các phe phái chính trị Khmer.
Trong lần tranh cử quốc hội lần này, những khẩu hiện bài xích người Việt càng hung hãn hơn.
Đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia của ông tung ra một cương lĩnh tăng cường biện pháp siết chặt quản lý người nước ngoài nhập cảnh trái phép, đặc biệt là người Việt Nam, và được hưởng ứng mạnh.
Nhiều người gốc Khmer đi bỏ phiếu đều tự nguyện làm quan sát viên để ngăn cản người Khmer gốc Việt có tên trong danh sách bỏ phiếu.
Như để chuẩn bị cho những lần tranh cử sau đó, Sam Rainsy đang tìm cách lấy lòng Trung Quốc.
Trả lời kênh truyền hình Phượng hoàng của Hong Kong ngày 29/7, Sam Rainsy nói rằng đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia của ông sẽ xem Bắc Kinh là một đồng minh quan trọng...chúng tôi nghĩ là Trung Quốc có thể mang lại ảnh hưởng có tính cân bằng. Trung Quốc luôn luôn là đồng minh của Campuchia, giúp Campuchia bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình".

Người Campuchia mang theo ảnh các nạn nhân của Khmer Đỏ trong cuộc biểu tình hôm 9/6/2013 phản đối một lãnh đạo đảng đối lập nói các trại tù của Khmer Đỏ là sự can thiệp của Việt Nam
Ông Rainsy nói Khmer Đỏ chỉ tồn tại ba năm nhưng Campuchia và TQ sẽ hợp tác lâu dài.

Không những thế, Sam Rainsy cũng nói rất rõ rằng đảng Cứu nguy dân tộc Campuchia sẵn sàng ủng hộ Trung Quốc đối với tranh chấp trên Biển Đông:
“Đảng của chúng tôi ủng hộ Trung Quốc trong việc bảo vệ toàn bộ lãnh thổ của các bạn. Tất cả mọi hòn đảo do Trung Quốc bảo vệ là lãnh thổ của Trung Quốc. Chúng tôi lên án bất cứ hành động xâm lược nào. Những hòn đảo ấy là của Trung Quốc và chỉ thuộc về Trung Quốc mà thôi”.
Trong cơn men tranh cử, ông Sam Rainsy sẵn sàng tuyên bố bất cứ điều gì để tranh thủ cử tri Khmer, bất chấp những chủ trương hay tuyên bố đó có thể gây phương hại đến quan hệ hữu nghị với Việt Nam.
Sam Rainsy cũng bất chấp ký ức đau thương của người dân Khmer khi nói rằng chế độ Khmer Đỏ chỉ tồn tại có ba năm, nhưng Campuchia và Trung Quốc sẽ tiếp tục hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong nhiều thế kỷ nữa.
Nói chung, những khẩu hiệu bài xích Việt Nam của Sam Rainsy chỉ là những chiêu bài tranh cử, đó không phải là những suy nghĩ chính chắn của một người có trình độ học thức cao.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của Tiến sỹ Nguyễn Văn Huy từ Paris.

BBC: Ông Sam Rainsy nói gì? 

Ông Sam Rainsy bị cáo buộc là bài Việt Nam
Tuần trước, chính phủ Việt Nam lên án hành động của lãnh đạo đối lập Campuchia Sam Rainsy, khi ông này tới khu vực đang phân giới cắm mốc giữa tỉnh Long An và tỉnh Svay Rieng, nhổ sáu cọc dấu tạm thời mang về Phnom Penh hôm 25/10.
Việt Nam cũng nói các phát biểu "vu cáo Việt Nam" của ông Sam Rainsy là nhằm mục đích phá hoại mối quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia; và yêu cầu chính phủ Campuchia có biện pháp "xử lý thích đáng" đối với ông.
Sau đó, chính quyền huyện Chantrea (tỉnh Svay Rieng) của Campuchia đã kiện ông ra tòa. Đài BBC có cuộc phỏng vấn với chính khách người Campuchia này về diễn biến mới nhất.

Sam Rainsy: Họ kiện tôi vì tội xâm hại tài sản công cộng, khiêu khích và phá hoại quan hệ Campuchia-Việt Nam. Tôi chưa quyết định có thuê luật sư hay không, nhưng tôi có đủ lý lẽ để tự biện hộ.
Chính tôi đang cố gắng bảo vệ nông dân Campuchia, những người đang bị mất đất mất rộng tại khu vực đường biên giới với Việt Nam.
BBC: Khi nào ông sẽ ra tòa, thưa ông?
Sam Rainsy: Tôi chưa biết, nhưng nếu muốn họ có thể tiến hành quá trình tố tụng rất nhanh chóng. Chính phủ Campuchia đang thử xem phản ứng của dân chúng và quốc tế thế nào rồi sẽ quyết định sẽ tiến hành vụ kiện ra sao. Tòa án Campuchia chỉ là công cụ chính trị của chính phủ và đảng cầm quyền để trấn áp những người đối lập mà thôi.
BBC: Ông có thể cho biết chuyện gì đã xảy ra hôm 25/10?
Sam Rainsy: Tôi đến tham dự một buổi lễ tôn giáo tại một ngôi chùa làng nằm không xa biên giới (với Việt Nam). Trong buổi lễ, một nhóm dân làng tới nơi gặp các dân biểu có mặt tại chỗ, trong đó có tôi.
Họ than phiền rằng chính quyền địa phương và chính phủ Việt Nam đã lấy đất của họ và xin chúng tôi can thiệp để họ có thể tiếp tục giữ quyền sở hữu ruộng đất mà họ đã sinh sống hàng thập niên nay.
Trong vị trí đại biểu Quốc hội, tôi không thể làm ngơ trước yêu cầu của họ được.

TIỂU SỬ

1949: Sinh tại Phnom Penh
1965: Sang Pháp
1989: Là đại diện ở châu Âu của Funcinpec
1993: Bộ trưởng tài chính
1994: Bị trục xuất khỏi Funcinpec
1995: Thành lập Đảng Quốc gia Khmer, sau đổi thành Đảng Sam Rainsy
2005: Rời đất nước sau khi mất quyền miễn tố của đại biểu quốc hội
2006: Trở về sau khi được Quốc vương Norodom Sihamoni miễn xá
BBC: Nhóm dân biểu mà ông nhắc đến đều thuộc đảng của ông có phải không̣? Có lý do gì mà các ông lại lựa chọn tới khu vực này?
Sam Rainsy: Vâng tất cả đều thuộc đảng của tôi (SRP). Mỗi năm chúng tôi, đồng nghiệp, bạn bè đều tổ chức thăm viếng, cúng lễ tại một ngôi chùa xa xôi nào đó. Các chùa nằm xa nhất là các chùa ở khu vực biên giới và thường người dân không có tiền nên chúng ở trong tình trạng khá tiêu điều.
Chúng tôi muốn giúp họ ít nhiều để tu bổ lại chùa chiền.
BBC: Ông bị nói là đã nhổ cọc mốc biên giới giữa Việt Nam và Campuchia rồi mang về Phnom Penh.
Sam Rainsy: Tôi không nhổ cọc, chính người dân đã nhổ chúng rồi vứt đi. Đây là các cọc tạm, dựng lên để xem phản ứng của người dân trước khi họ dựng cột mốc thật, vi phạm quyền lợi của người dân địa phương.
BBC: Ông có lấy các cọc mốc đó không?
Sam Rainsy: Không, tôi không lấy chúng. Tôi không lấy chúng làm gì cả, các phóng viên hay người nào quan tâm xin cứ đến tận nơi để tìm hiểu.
BBC: Ông cũng bị nói là đã đưa ra nhiều phát biểu có tính vu cáo về quan hệ Việt Nam - Campuchia. Ông có chủ trương bài Việt Nam không?
Sam Rainsy: (im lặng vài giây) Không. Tôi chủ trương vì Campuchia.
BBC: Hồi năm 1998, trong quá trình vận động tranh cử, báo chí nói khá nhiều về việc ông hô hào chống Việt Nam, ông dùng từ 'yuon' (chỉ người Việt một cách miệt thị) nhiều lần trong các phát biểu của mình.
Sam Rainsy: Báo chí đã trích dẫn sai lời tôi và đặt các phát biểu của tôi ra ngoài ngữ cảnh.
BBC: Ông nghĩ sao về chính sách đối với Việt Nam của chính phủ hiện thời? Chúng tôi hỏi vậy là vì hoạt động vừa rồi của ông diễn ra tại khu vực đường biên với Việt Nam.
Sam Rainsy: Không, vấn đề căng thẳng hiện nay của Campuchia lại liên quan tới Thái Lan cơ. Hai nước đang ngày càng căng thẳng về chủ đề biên giới, trong đó có đền Preah Vihear.
Campuchia là một nước nhỏ, chúng tôi phải đối phó với nhiều vấn đề từ các nước láng giềng, không đơn cử nước láng giềng nào.
BBC: Nhưng rõ ràng ông bị chỉ trích là đã sử dụng lá bài 'bài Việt Nam' để vận động ủng hộ của cử tri...
Sam Rainsy: Tôi không cần phải sử dụng lá bài nào cả. Chính phủ đương quyền đã làm nhiều chuyện tồi tệ, Campuchia là một trong các quốc gia tham nhũng nhất thế giới. 
Trung Quốc luôn luôn là đồng minh của Campuchia, giúp Campuchia bảo vệ độc lập.
Sam Rainsy
Theo Ngân hàng Thế giới, Campuchia cũng là một trong các nước nghèo nhất thế giới. Thế cho nên chính quyền Hun Sen xứng đáng bị chỉ trích và họ phải thay đổi để cải thiện tình hình của người dân.
BBC: Ông có vừa nhắc tới các nước láng giềng. Xin hỏi ông về thái độ của ông đối với Trung Quốc và ảnh hưởng của Trung Quốc tại các nước thuộc Đông Dương cũ?
Sam Rainsy: Trung Quốc đang ngày càng có vai trò quan trọng. Nhưng Trung Quốc không có biên giới chung với Campuchia nên chúng tôi không sợ Trung Quốc. Ngược lại, chúng tôi nghĩ là Trung Quốc có thể mang lại ảnh hưởng có tính cân bằng.
Trung Quốc luôn luôn là đồng minh của Campuchia, giúp Campuchia bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của mình.
BBC: Ông không quên thời kỳ Khmer Đỏ đấy chứ, thưa ông?
Sam Rainsy: Thời kỳ đó chỉ là một tai nạn, chúng ta cần nghĩ tới tương lai lâu dài. Chế độ Khmer Đỏ thực ra chỉ tồn tại có ba năm, nhưng Campuchia và Trung Quốc sẽ tiếp tục hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau trong nhiều thế kỷ nữa. 

Monday, August 5, 2013

Chính sách bành trướng xuống phía nam của Trung Quốc

Phân tích trong bài này đơn giản quá, TQ hướng nam đâu chỉ vì muốn phát triển các tỉnh miền Tây. Thế giới nói về sức mạng cứng, sức mạnh mềm là đủ, không cần chia nhỏ ra thành sức mạnh văn hóa.
Chính sách bành trướng xuống phía nam của Trung Quốc

Hải quân Trung Quốc tập trận trên Biển Đông cuối tháng 6/2010 (AFP)
Trung Quốc lâu nay tiến hành hằng loạt biện pháp bành trướng xuống hướng nam, trong đó có chính sách Biển Đông quyết liệt. Nguyên nhân của chính sách đó là gì? Và phía Việt Nam có phản ứng ra sao trước một số hoạt động của Trung Quốc?
Gia Minh hỏi chuyện giáo sư- tiến sỹ Đỗ Tiến Sâm, trưởng Viện Nghiên cứu Trung Quốc, Viện Khoa học- Xã hội Việt Nam về những vấn đề đó. Trước hết ông đề cập đến lý do của chính sách bành trướng về phía nam của Bắc Kinh.
Nguyên nhân
Gs-Ts Đỗ Tiến Sâm: Chênh lệch phát triển vùng giữa miền đông và miền tây. Miền tây Trung Quốc có 350 triệu dân và miền này tiếp giáp với các nước Trung Á theo đạo Hồi khiến miền tây Trung Quốc khó, không thể phát triển được. Miền tây Trung Quốc muốn phát triển được phải đi qua ASEAN để đi ra biển … Như vậy sự phát triển bên trong Trung Quốc, nhất là miền tây, đòi hỏi Trung Quốc phải có tính toán lại về chiến lược.

Đối nội Trung Quốc có nhiều khó khăn, bên ngoài nhiều sức ép: các điểm nóng Bắc Triều Tiên vẫn còn đó, vấn đề biển Hoa Đông còn đó, vấn đề Đài Loan còn đó, vấn đề Biển Đông còn đó! Do vậy Trung Quốc phải có sự tính toán về chiến lược. Trung Quốc dù có mạnh mấy- dù là ‘con hổ’ chăng nữa, nhưng phải đối phó với nhiều mục tiêu quá từ bên trong đến bên ngoài.

Gia Minh: Có phải sự tính toán hướng nam dễ hơn các hướng khác?

Gs-Ts Đỗ Tiến Sâm: Đúng, trong các hướng thì hướng nam quan trọng nhất vì liên quan đến sự phát triển miền tây. Miền tây Trung Quốc ổn định có ảnh hưởng đến toàn bộ đất nước Trung Quốc Mà miền tây có thể phát triển thông qua các nước ASEAN, cho nên họ phải quan tâm đến các nước ASEAN, quan tâm đến Biển đông. Đó là hướng mà chúng tôi nghĩ họ tập trung vào phát triển sức mạnh cứng- gia tăng sức mạnh quân sự bao gồm cả những loại tàu màu trắng, tàu màu xám ( như lời các nhà khoa học nói). Tàu màu xám là lực lượng hải quân, tàu màu trắng là lực lượng chấp pháp trên biển. Mong muốn là kiểm soát, khống chế và mục đích lâu dài là khống chế Biển Đông. Thứ hai là gia tăng các sức mạnh mềm - về kinh tế thông qua các gói viện trợ, hợp tác kinh tế với một số các nước ASEAN; rồi gia tăng sức mạnh văn hóa. Các học viện Khổng Tử mọc lên trên thế giới mà ở các nước ASEAN rất nhiều từ đó nhằm gia tăng sức mạnh mềm của họ.
Sự di dân của người Trung Hoa vào vùng Đông Nam Á đã có từ thời cổ xưa (Routes of Human Mobility)
Sự di dân của người Trung Hoa vào vùng Đông Nam Á đã có từ thời cổ xưa (Routes of Human Mobility)
Trong các hướng thì hướng nam quan trọng nhất vì liên quan đến sự phát triển miền tây. Miền tây Trung Quốc ổn định có ảnh hưởng đến toàn bộ đất nước Trung Quốc Mà miền tây có thể phát triển thông qua các nước ASEAN, cho nên họ phải quan tâm đến các nước ASEAN, quan tâm đến Biển đông
Gs-Ts Đỗ Tiến Sâm
Họ tăng cường nghiên cứu khoa học về biển đảo nói chung và Biển đông nói riêng. Phải nói là chưa bao giờ các nghiên cứu về biển đảo của Trung Quốc nói chung, và Biển Đông nói riêng được tổ chức nhiều như hiện nay. Chúng tôi có những số liệu ( mà tôi không mang theo ở đây) về các bài viết, các công trình nghiên cứu mà thực chất chỉ là ngụy tạo, không đúng sự thật. Nhưng họ nghiên cứu và tuyên truyền phổ biến trong dân chúng, thậm chí dịch ra tiếng Anh đưa ra nước ngoài, tạo dư luận, tạo chứng cứ pháp lý, chỗ dựa lịch sử, chỗ dựa pháp lý về vấn đề biển đảo.

Họ có điều kiện kinh tế đầu tư vào công tác tuyên truyền như thế thông qua phim ảnh, thông qua các phương tiện truyền thông khác nhau để tuyên truyền.

Vì sao họ đặt vấn đề tuyên truyền như vậy? Qua theo dõi của chúng tôi thì Trung Quốc có chính sách một con- sáu người lớn có một trẻ con; chẳng may xảy ra xung đột, ai là người đi đánh nhau? Chắc không phải con em các nhà lãnh đạo rồi, vì con em các nhà lãnh đạo đều đi nước ngoài hết; hoặc trở thành quan chức cả rồi. Còn con nhân dân thì phải tạo ra dư luận, kích hoạt chủ nghĩa dân tộc để khi sự cố xảy ra còn  huy động chứ. Đấy là bài của họ, giải pháp để kích động dư luận trong nước.

Phản ứng

Gia Minh: Như giáo sư có nói dù thiếu cơ sở, nhưng người ta có chính sách rõ ràng; và phía Việt Nam đương nhiên phải có nghiên cứu để phản bác lại những cơ sở đó; vậy những viện nghiên cứu như chỗ của giáo sư lâu nay có những hoạt động ra sao để có thể đưa ra những chứng cứ nhằm phản bác lại những điều mà người ta đưa ra nhằm tuyên truyền như thế?
Vấn đề bác bỏ không chỉ đăng trên tạp chí Việt Nam mà cần phải đăng trên các tạp chí quốc tế. Cộng đồng người Việt ở nước ngoài có thể đóng góp quan trọng vì họ biết tiếng Anh, lại biết những tạp chí nào uy tín trên thế giới để đăng những chứng cứ bác bỏ đó. Đấu tranh không phải chỉ ở trong nước không thôi mà phải ở cả quốc tế
Gs-Ts Đỗ Tiến Sâm
Gs-Ts Đỗ Tiến Sâm: Trước hết cuộc đấu tranh để bảo vệ chủ quyền và quyền chủ quyền của chúng ta tại Biển Đông phải huy động sức mạnh tổng hợp nhiều bộ, ngành, nhiều lĩnh vực, giai tầng khác nhau trong xã hội. Chúng tôi chỉ là một phần trong đó. Viện chúng tôi tìm kiếm những thông tin về các động thái, chính sách của Trung Quốc, và phân tích những điều đó.

Sau đấy, những nhà nghiên cứu khoa học Việt Nam biết nghiên cứu lịch sử để đấu tranh với những điều ngụy tạo của họ. Ví dụ họ nói có họ là quốc gia phát hiện sớm nhất, đặt tên sớm nhất, khai thác sớm nhất; mình cần phải đọc được những chứng cứ họ nêu lên có đúng không. Có khi họ trích dẫn sai mà mình không biết. Nên phải có người làm những vấn đề đó. Chúng tôi mua những tài liệu họ dẫn ra; các nhà sử học Việt Nam phải xem những chứng cứ họ trích dẫn có đúng không, phân tích những chứng cứ sai- đúng chỗ nào và đấu tranh từng bước một.

Thế rồi chứng cứ lịch sử phải dưới ánh sáng pháp luật quốc tế mới được; nên phải có sự kết hợp giữa các nhà sử học và các nhà nghiên cứu về luật pháp quốc tế.

Ở Việt Nam tôi thấy có những người như anh Phạm Hoàng Quân rất đáng kính trọng. Tôi đã tiếp xúc với anh này và tôi thấy rất đáng kính trọng. Anh ấy có khả năng đọc được chữ Hán, tra cứu cần mẫn làm việc đó. Thực ra trong điều kiện đời sống khó khăn hiện nay mà tìm được người tâm huyết, gắn bó với công việc đó như thế không nhiều; cần phải có chính sách tôn vinh. Tôi nghiên cứu Trung Quốc đọc được chữ Hán, nhưng Hán Nôm không đọc được; mà anh Quân đọc được. Chúng tôi chia sẻ thông tin; tôi đưa cho anh những tài liệu của Trung Quốc để anh tìm cách bác bỏ.

Vấn đề bác bỏ không chỉ đăng trên tạp chí Việt Nam mà cần phải đăng trên các tạp chí quốc tế. Cộng đồng người Việt ở nước ngoài có thể đóng góp quan trọng vì họ biết tiếng Anh, lại biết những tạp chí nào uy tín trên thế giới để đăng những chứng cứ bác bỏ đó.

Đấu tranh không phải chỉ ở trong nước không thôi mà phải ở cả quốc tế.

Gia Minh: Công tác đó lâu nay được xúc tiến thế nào và được sự hổ trợ của chính phủ ra làm sao?

Gs-Ts Đỗ Tiến Sâm: Việc này tôi không nắm được lắm, chắc các anh ở Viện Biển Đông của Bộ Ngoại giao có thể có ý kiến thêm. Tôi biết Nhà nước có đầu tư nhất định cho viện đó không chỉ để nghiên cứu mà còn tuyên truyền quan điểm của Việt Nam, vận động ủng hộ quan điểm của Việt Nam từ các học giả. Đó là việc của Viện Biển Đông của Bộ Ngoại giao làm tốt hơn.

Gia Minh: Cám ơn giáo sư về cuộc phỏng vấn vừa rồi.

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2013-08-05

Saturday, August 3, 2013

Nhật Bản lấy lại thế đứng

(Nói chuyện với Thủ tướng Shinzo Abe)
Shinzo Abe, Foreign Affairs, tháng Bảy/tháng Tám 2013
Dịch giả: Trần Ngọc Cư
Lời người dịch: Điều đáng ghi nhận nhất trong bài phỏng vấn này là, chính Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe cũng thẳng thắn vạch trần thủ đoạn sau đây của Trung Quốc: cứ việc tuyên bố chủ quyền trên một phần lãnh thổ của nước khác mặc dù trước đó chưa hề có tranh chấp, và bước tiếp theo là đề nghị “gác tranh chấp qua một bên” để hai bên cùng hợp tác khai thác. Abe thấy rõ thủ đoạn này được Trung Quốc áp dụng tại Biển Đông Việt Nam đối với Việt Nam và Philippines. Phát biểu của Abe rất có ý nghĩa vì đây là một cách ghi nhận chính nghĩa của nhân dân Việt Nam và Philippines trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa bành trướng Trung Quốc. Thậm chí các lãnh đạo Mỹ cũng chưa bao giờ thẳng thắn vạch trần âm mưu này của Trung Quốc, vì Mỹ tuyên bố đứng ngoài việc tranh chấp các đảo trên Biển Đông Việt Nam.
Sau một nhiệm kỳ ngắn ngủi, mờ nhạt trong chức vụ Thủ tướng Nhật Bản, năm 2006-7, Shinzo Abe gần như đã bị định mệnh cho ra ngoài lề sân khấu chính trị. Thế rồi, tháng Chạp năm ngoái, ông nhanh chóng trở lại trong ánh quang vinh, tái chiếm văn phòng Thủ tướng trong một chiến thắng vang dội. Việc phục hồi quyền lực của đảng ông, Đảng Tự do Dân chủ – một đảng đã cai trị Nhật Bản hết 54 năm trong vòng 58 năm qua, bao gồm gần trọn “hai thập niên mất mát” vừa qua – thoạt đầu đã làm cho giới đầu tư và các học giả lo lắng. Nhưng Abe lập tức lao vào một cuộc vận động đầy tham vọng nhằm vực dậy nền kinh tế Nhật Bản, và, chừng sáu tháng sau đó, nỗ lực của ông có vẻ đang mang lại kết quả. 
Tuy nhiên, trên mặt trận đối ngoại, Abe – một nhân vật bị phe đối lập coi là một người theo chủ nghĩa dân tộc bảo thủ – đã gây ra nhiều tranh luận vì ông tỏ ra nghi ngờ về hồ sơ [tội ác] thời chiến của Nhật Bản. Vào giữa tháng Năm, khi căng thẳng đang gia tăng giữa Nhật Bản và các cường quốc láng giềng, Abe đã nói chuyện với Biên tập viên quản lý Jonathan Tepperman của Foreign Affairs tại Tokyo.


clip_image002

Đây là nhiệm kỳ thủ tướng thứ hai của ông. Nhiệm kỳ thứ nhất không được thành công cho lắm, nhưng lần này, mọi việc có vẻ khác đi: tỷ lệ dân chúng chấp thuận ông lên quá 70%, và giao dịch ở thị trường chứng khoán đạt mức cao nhất trong vòng năm năm qua. Ông đã học được bài học gì từ những sai lầm quá khứ, và ông đang làm gì khác hơn lần này?
Trong nhiệm kỳ thủ tướng trước đây, tôi không biết ưu tiên hóa nghị trình. Tôi nôn nóng làm hết mọi việc trong cùng một lúc, và vì thế cuối cùng đã đưa chính quyền của tôi đến thất bại.
Trong suốt sáu năm sau khi từ chức, tôi đi khắp mọi miền đất nước chỉ để lắng nghe dân chúng. Ở mỗi nơi, tôi đều nghe người dân kêu ca vì mất việc do hậu quả của tình trạng giảm phát (deflation) và đồng tiền tăng giá. Một số người không còn mảy may hy vọng ở tương lai. Vì thế, chính quyền thứ hai của tôi đương nhiên phải đưa lên ưu tiên hàng đầu việc xóa bỏ nạn giảm phát và việc phục hồi nền kinh tế Nhật Bản.
Có thể nói rằng lần này tôi đã đặt đúng ưu tiên, phản ánh các quan tâm của người dân, và kết quả ngày càng rõ nét – điều này có thể giải thích vì sao chính quyền của tôi đang được người dân chấp nhận với một tỉ lệ cao.
Tôi cũng bắt đầu sử dụng các mạng xã hội như Facebook. Lắm lúc, các phương tiện truyền thông truyền thống chỉ trích dẫn một phần những gì các chính trị gia nói ra. Việc này đã gây cản trở, không cho phép dân chúng thấu hiểu ý định đích thực của tôi. Vì thế, hiện nay tôi đang trực tiếp gửi đến công chúng các thông điệp qua Facebook và các mạng truyền thông khác.
Nhờ vậy ông tìm cách tránh né các nhà báo chăng?
Có vẻ như vậy [cười]. Không, tôi rất coi trọng những cuộc phỏng vấn mặt-đối-mặt như thế này đây, và tôi không bao giờ tránh né giới truyền thông. Ý của tôi là, những điều tôi thực sự muốn nói ra đôi khi bị đánh lạc hướng khi chúng chỉ được trích dẫn một phần hay thậm chí bị trích dẫn sai.
Ông tuyên bố rằng nghị trình kinh tế của ông là ưu tiên hàng đầu. Kinh tế Abe (Abenomics) có “ba mũi nhọn”: một ngân sách kích cầu trị giá 10 ngàn tỉ yen, một chính sách điều tiết lạm phát do việc ngân hàng trung ương quyết định lãi suất (inflation targeting), và cải tổ cơ cấu. Ông đã bắn hai mũi tên đầu. Còn mũi thứ ba sẽ như thế nào?
Mũi tên thứ ba nhắm vào chiến lược tăng trưởng, được chỉ đạo bằng ba ý niệm cơ bản: thách đố [dám làm], cởi mở, và sáng tạo. Trước hết, bạn phải có viễn kiến về một nước Nhật mà bạn muốn có. Đó là một nước Nhật có hoài bảo thực hiện ba ý niệm trên. Rồi, bạn phải nhìn xem những lãnh vực nào mà bạn tỏ ra ưu việt. Lấy y tế làm ví dụ. Người dân nước tôi thuộc về một giống nòi khỏe mạnh, do đó người Nhật sống lâu hơn hầu hết các dân tộc khác. Vậy thì, tại sao không sử dụng phát kiến y học vừa để thúc đẩy kinh tế vừa để đóng góp vào phúc lợi của phần thế giới còn lại.
Chuyến đi thăm Nga và Trung Đông gần đây của tôi đã giúp tôi tin tưởng rằng thế giới bên ngoài vẫn còn nhiều đất dụng võ cho các công nghiệp y khoa của Nhật Bản. Điều này cũng đúng nếu nói về các công nghệ làm giảm khí thải carbon, những công nghệ mà Nhật Bản thủ đắc khá nhiều. Nhưng muốn nuôi dưỡng tinh thần sáng tạo, bạn phải có thái độ cởi mở.
Nhưng Nhật Bản có những hạn chế trên nền kinh tế của mình, không cho phép nó tăng trưởng: bao cấp nông nghiệp quá cao, điều tiết hoạt động kinh tế quá mức, khiếm dụng phụ nữ, và một chính sách nhập cư yếu kém. Những vị thủ tướng trước đây đã ra sức giải quyết những vấn đề này, nhưng đều gặp phải bế tắc. Ông sẽ tập trung vào những nỗ lực cải tổ nào?
Chúng tôi chưa có thời cơ. Nạn giảm phát kéo dài và đình đốn kinh tế phát xuất từ đó tiếp diễn trong 15 năm qua đã khiến nước tôi gần như đứng yên một chỗ, trong khi phần còn lại của thế giới đi một chặng khá xa. Đây là cơ may sau cùng cho chúng tôi; và vì thế, ý thức về tính khẩn cấp này là rất sâu sắc. Và nó được quí đồng nghiệp của tôi tại Quốc hội chia sẻ rộng rãi hơn bao giờ cả.
Đúng là, nông nghiệp vẫn còn quan trọng, không những trong vai trò một công nghiệp mà còn để gìn giữ sự chặt chẽ của cơ cấu xã hội Nhật Bản. Nhưng đường lối của tôi là làm cho khu vực này trở nên mạnh hơn và hướng tới xuất khẩu (export-oriented). Đất canh tác Nhật được Thiên nhiên ban cho nhiều nông phẩm hấp dẫn. Chúng tôi chỉ việc bán chúng nhiều hơn ra thế giới. Ở nơi nào cần thiết, chắc chắn chúng tôi sẽ cắt giảm các thủ tục hành chính rườm rà. Việc bỏ vốn đầu tư thêm nữa vào các công nghệ cốt lõi cũng quan trọng, chẳng hạn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại Nhật Bản.
Về đường lối cởi mở, quyết định của tôi đối với TPP (Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương) có ý nghĩa đặc biệt. Các chính quyền trước đây hãy còn do dự. Nhưng tôi quyết định tham gia các cuộc đàm phán TPP. Dĩ nhiên, nhóm vận động hành lang nông nghiệp chống lại dữ dội, trong khi các hiệp hội nông nghiệp lại nằm trong các nhóm hậu thuẫn lớn nhất và quan trọng nhất của Đảng Tự do Dân chủ. Vì thế chúng tôi đang ra sức vận động để thuyết phục họ. Nếu chúng tôi không chịu thay đổi thái độ, thì sẽ không còn một chút tương lai nào cho nông nghiệp Nhật Bản, hay cho các miền và các cộng đồng địa phương của Nhật Bản.
Ông đã phát động một chương trình kích thích kinh tế cho đến bây giờ được coi là thành công. Nhưng ông có lo cho tình trạng nợ nần của Nhật Bản, hiện đã lên tới 220-230% GDP, hay không?
Nhật Bản đang đối diện với nạn giảm sút sinh suất cực nhanh, và lợi tức quốc gia của Nhật Bản đã mất đến 50 ngàn tỉ yen vì nạn giảm phát kéo dài (prolonged deflation). Nếu gộp lại hai yếu tố này, bạn sẽ thấy một cơ sở thuế (tax base) nhỏ bé hơn trước nhiều [số người đóng thuế ngày càng giảm, ND]. Đó là lý do tại sao chúng tôi đang đối diện với một tình trạng tài chính rất khó khăn, và đó là quan tâm cốt lõi đã thúc đẩy chính phủ của tôi phát động kế hoạch phục hồi “ba mũi”.
Ngoài việc mua lại trái phiếu và trả tiền lời, chương trình chi tiêu hiện nay của chính phủ phải phù hợp với số thuế thu vào hàng năm. Nhắm tới quân bình ngân sách vẫn là ưu tiên hàng đầu của chúng tôi, và chúng tôi đã cam kết với cộng đồng quốc tế là sẽ thực hiện điều này. Vào tài khóa 2015, chúng tôi sẽ cắt bớt một nửa thâm thủng ngân sách, và vào năm 2020, chúng tôi sẽ quân bình được ngân sách. Để thực hiện điều này, chúng tôi cần phải gia tăng thu nhập thuế. Chúng tôi cũng cần phải chấm dứt chu kỳ giảm phát. Và chúng tôi cần phải thể hiện việc tăng trưởng kinh tế.
Chúng tôi cũng cần phải cải thiện hiệu năng các chi tiêu của chính phủ. Chúng tôi đã quyết định tăng thuế tiêu thụ, một loại thuế quan trọng để duy trì các dịch vụ an sinh xã hội của chúng tôi.Tôi biết rằng tình hình hiện nay là khó khăn, và kinh tế thế giới sẽ có những bước thăng trầm. Nhưng đó là trọng trách mà tôi được giao phó, và chúng tôi đang phấn đấu để thực hiện.
Lắm lúc hình như có đến hai khuôn mặt Shinzo Abe khác nhau: một Abe dân tộc chủ nghĩa hay bảo thủ, có những hành vi gây tranh cãi, như hậu thuẫn việc xét lại các sách giáo khoa môn lịch sử, đặt nghi vấn về vấn đề phụ nữ phục vụ tính dục cho quân đội Nhật trong Thế chiến II, hay hoài nghi tính hợp pháp của các toà án Đồng minh xét xử tội phạm chiến tranh, và một Abe có đầu óc thực tiễn, sẵn sàng đối thoại với Trung Quốc và Nam Hàn và đã tỏ ra thận trọng không để các căng thẳng về Quần đảo Sankaku leo thang. Trong những tuần gần đây, cả hai mặt ấy của Abe đã xuất hiện: trước tiên tại Quốc hội, ông đã tỏ ra hoài nghi vai trò xâm lược của Nhật Bản trong Thế chiến II; rồi một tuần sau đó, ông lại nhìn nhận những thống khổ mà Nhật Bản đã gây ra trong chiến tranh. Đâu là con người thực của Abe, và người ta phải lý giải làm sao về sự chuyển đổi giữa hai khuôn mặt ấy của Abe?
Như tôi đã nói từ đầu, tôi có một số phát biểu bị các cơ quan truyền thông dòng chính (the mainstream media) trích dẫn thiếu sót hoặc trích dẫn sai lệch. Hãy cho tôi đính chính hồ sơ này. Trong suốt nhiệm kỳ thủ tướng đầu tiên và trong nhiệm kỳ hiện nay, đã nhiều lần tôi bày tỏ sự ăn năn sâu sắc mà tôi chia sẻ về thiệt hại và đau thương kinh khủng mà Nhật Bản đã gây ra trong quá khứ cho dân nhân của nhiều nước, đặc biệt tại châu Á. Tôi đã nói rõ điều đó, nhưng ít khi nó được xuất hiện trên tít lớn của báo chí.
Ông có nhìn nhận Nhật Bản là kẻ xâm lược khi đưa quân vào Trung Quốc, khi đưa quân vào Triều Tiên, và khi tấn công Hoa Kỳ trong Thế Chiến II hay không?
Tôi chưa bao giờ nói rằng Nhật Bản không xâm lược nước khác. Nhưng đồng thời, tôi phải nói rằng việc định nghĩa “xâm lược”, dù dở dù hay, không phải là công tác của tôi. Đó là công việc của các sử gia. Tôi luôn luôn nói rằng công việc của chúng ta là phải thảo luận về loại hình thế giới nào mà chúng ta cần phải tạo ra trong tương lại.
Hình như ông luôn luôn có vấn đề khi bàn về lịch sử, như vậy tại sao ông không chỉ việc tránh nó đi? Cho tôi đặt một câu hỏi liên quan: Để đặt những vấn đề này qua một bên, ông có thể hứa hay không, rằng trong nhiệm kỳ thủ tướng, ông sẽ không viếng thăm Đền Yasukuni dù trong tư cách chính phủ hay trong tư cách cá nhân?
Chính bản thân tôi chưa bao giờ đặt vấn đề lịch sử. Trong những cuộc thảo luận tại Quốc hội gần đây, tôi gặp sự chất vấn của các đại biểu khác, và tôi phải trả lời họ. Khi làm như vậy, tôi vẫn nói rằng đây là một vấn đề dành cho các sử gia, vì nếu làm khác đi, chúng ta có thể chính trị hóa nó hay biến nó thành một vấn đề ngoại giao.
Về Đền thờ Yasukuni, cho tôi mạo muội yêu cầu ông hãy suy nghĩ về vị trí của mình khi đến nghiêng mình trước các chiến sĩ trận vong đang an nghỉ tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington của Hoa Kỳ. Các vị tổng thống Mỹ đều đến đó, và trong cương vị thủ tướng Nhật Bản, tôi cũng đã đến thăm viếng nơi này. Giáo sư Kevin Doak của Đại học Georgetown lý giải rằng thăm viếng nghĩa trang này không có nghĩa là chấp nhận chế độ nô lệ, mặc dù nhiều chiến sĩ Miền Nam [chiến đấu để bảo vệ chế độ nô lệ] cũng được chôn cất tại đó. Tôi cho rằng chúng tôi cũng có thể đưa ra một luận cứ tương tự về Đền thờ Yasukuni, là nơi thờ phượng linh hồn của những người đã hy sinh mạng sống để phục vụ Tổ quốc.
Nhưng xin lỗi ông, hiện có 13 tội phạm chiến tranh Hạng A được chôn cất tại Yasukuni, đó là lý do khiến Trung Quốc và Nam Hàn nổi giận khi các vị thủ tướng Nhật Bản đến đó. Chỉ việc hứa sẽ không đến viếng đền này nữa có dễ hơn không?
Tôi cho rằng việc một người Nhật đến dâng hương cầu nguyện cho các linh hồn hy sinh vì Tổ quốc là một điều hết sức tự nhiên, và tôi nghĩ rằng điều này không có gì khác với những gì mà các lãnh đạo khác trên thế giới sẽ làm [đối với các liệt sĩ của họ].
Sau khi Đền Yasukuni bắt đầu thờ phượng linh hồn các tội phạm chiến tranh Hạng A, Trung Quốc và Nam Hàn đã không lên tiếng phản đối các cuộc thăm viếng tại đó trong một số năm. Rồi đột nhiên, họ bắt đầu phản đối các cuộc thăm viếng này. Vì thế, tôi sẽ không hứa rằng tôi sẽ đến thăm hay không thăm đền thờ này.
Vào tháng Hai ông nói rằng không có gì để phải đàm phán về Quần đảo Senkaku. Nếu ông lấy một lập trường cứng rắn như vậy và Trung Quốc cũng lấy một lập trường cứng rắn như vậy, thì sẽ không có một tiến triển nào cả. Vậy giải pháp ở đây là gì?
Bảy năm về trước, trong cương vị thủ tướng, tôi chọn Trung Quốc là điểm đến đầu tiên trong một cuộc thăm viếng chính thức. Vào dịp đó, tôi thoả thuận với các lãnh đạo Trung Quốc là hai nước sẽ phấn đấu xây dựng một quan hệ hữu nghị hai bên đều có lợi, đặt cơ sở trên những lợi ích chiến lược chung. Và tôi cho rằng đóng hết mọi khía cạnh của quan hệ song phương chỉ vì một vấn đề riêng lẻ [của Quần đảo Senkaku] là sai lầm – sẽ không phải là một động thái thông minh. Đó là lý do tại sao tôi luôn luôn mở cánh cửa đối thoại. Tôi nghĩ Trung Quốc nên trở lại điểm khởi đầu của mối quan hệ hai bên đều có lợi mà hai nước đã thỏa thuận trước đây.
Còn về Quần đảo Senkaku, Nhật Bản đã sáp nhập chúng vào lãnh thổ của mình từ năm 1895, sau khi dùng những biện pháp phù hợp với luật quốc tế. Và mãi cho đến năm 1971 Trung Quốc mới tuyên bố chủ quyền trên những đảo này. Quần đảo Senkaku là một phần không thể thiếu của lãnh thổ Nhật Bản, dựa vào cả lịch sử lẫn luật quốc tế. Chỉ sau khi giữ im lặng 76 năm và sau khi Liên Hợp Quốc nói đến tiềm năng có tài nguyên thiên nhiên dưới đáy biển kế liền, Trung Quốc mới bắt đầu tuyên bố chủ quyền, một cách khá đột ngột.
Từ năm 2008, phía Trung Quốc liên tục cho tàu chính phủ và tàu hải quân xâm nhập vào lãnh hải Nhật Bản. Hiện tượng này bắt nguồn từ lâu và có gốc rễ sâu xa hơn người ta có thể trông thấy. Hẳn nhiên chúng tôi phải giải quyết vấn đề này theo một một cung cách chuyên nghiệp nhất, và vì thế tôi đã chỉ thị toàn bộ chính phủ tôi phải phản ứng trước tình hình một cách bình tĩnh nhất nếu được. Và chúng tôi vẫn nói rằng chúng tôi sẽ luôn mở rộng cánh cửa đối thoại.
Nhưng ông sẽ sẵn sàng làm gì để giải quyết vấn đề này? Cui Tiankai (Khôi Thiên Khải), tân đại sứ Trung Quốc tại Hoa Kỳ, đã nói với tôi gần đây rằng điều hay nhất là cứ việc gác vấn đề chủ quyền qua một bên và trở lại nguyên trạng theo đó Trung Quốc và Nhật Bản đồng ý bất đồng quan điểm với nhau.
Tuyên bố này của Trung Quốc có nghĩa là Nhật Bản phải nhìn nhận hiện tồn tại một vấn đề chủ quyền lãnh thổ cần được giải quyết. Chúng tôi không bao giờ để cho lối lý luận này có thể diễn ra. Phía Trung Quốc đang sử dụng một lý luận tương tự đối với Việt Nam và Philippines để giành quyền kiểm soát các đảo trong Biển Nam Trung Hoa [tức Biển Đông Việt Nam]. Và gần đây, vào ngày 8 tháng Năm, Nhân dân Nhật báo của Trung Quốc đăng một bài viết đặt nghi vấn về tình trạng của chính đảo Okinawa.
Chúng tôi chưa bao giờ thoả thuận gác qua một bên vấn đề Quần đảo Senkaku với Trung Quốc. Nói rằng chúng tôi đã làm như thế trong quá khứ là một chuyện hoàn toàn láo khoét do phía Trung Quốc bịa ra.
Căn cứ vào sự trỗi dậy của Trung Quốc và hành vi ngày càng hung hăng của cường quốc này, ông có còn tin tưởng ở quan hệ an ninh với Hoa Kỳ không, hay ông cảm thấy Nhật Bản cần phải ra sức hơn nữa để bảo vệ chính mình? Và đó có phải là lý do tại sao ông muốn xét lại bản Hiến pháp của Nhật Bản?
Hẳn nhiên, tôi hoàn toàn tin tưởng vào liên minh Nhật-Mỹ – một trăm phần trăm. Sau trận Đại Địa chấn Đông Nhật năm 2011, Hoa Kỳ đã gửi đến tổng cộng 20.000 nhân viên quân sự; thậm chí trong hoàn cảnh khó khăn, Hoa Kỳ đã đề nghị hợp tác trong các nỗ lực tái thiết của Nhật Bản. Đó là một phản ánh trung thực mối quan hệ của chúng ta. Và chúng tôi hoàn toàn hoan nghênh và vui vẻ hậu thuẫn việc Mỹ tái quân bình chiến lược hướng về châu Á.
Nhưng đồng thời, Nhật Bản cũng muốn làm tròn trách nhiệm của mình. Trong mười năm qua, nước tôi đã liên tục cắt giảm ngân sách quốc phòng. Trái lại, Trung Quốc đã gia tăng chi tiêu quốc phòng gấp 30 lần trong vòng 23 năm qua. Do đó, năm nay, lần đầu tiên trong 11 năm, chính phủ của tôi quyết định gia tăng ngân sách quốc phòng một chút thôi. Đó là một dấu hiệu cho thấy Nhật Bản muốn làm tròn trách nhiệm của mình.
Về vấn đề quyền tự vệ tập thể (the right to collective self-defense), ta hãy tưởng tượng các tàu của Hoa Kỳ ở ngoài khơi đang bị tấn công và một chiến hạm, chẳng hạn một khu trục hạm loại Aegis, từ Nhật Bản, một nước đồng minh của Mỹ, đang tình cờ đi qua. Quy định chúng tôi hiện có tại Nhật Bản không cho phép chiếc khu trục hạm kia thể hiện bất cứ một phản ứng nào. Thật là điên khùng.
Vì thế ông có muốn thay đổi Điều 9 [điều khoản chủ hòa trong Hiến pháp của Nhật Bản] để đối phó với tình trạng này hay không?
Sửa đổi Hiến pháp đòi hỏi phải vượt qua một rào cản rất cao: chúng tôi sẽ phải hội đủ sự chấp thuận của chí ít 2/3 tổng số thành viên Quốc hội Nhật Bản và sau đó chỉ cần đa số phiếu trong một cuộc trưng cầu dân ý quốc gia.
Nhưng thực tế vẫn là, Nhật Bản là nước duy nhất trên thế giới không gọi các tổ chức quốc phòng của mình là một quân đội. Đó là một điều phi lý, khi chính phủ đang chi tiêu một tổng số 5 ngàn tỉ yen [một năm] để tự vệ.
Tôi nghĩ Hiến pháp của chúng tôi phải qui định rõ ràng rằng các Lực lượng Tự Vệ của chúng tôi là các lực lượng quân sự (hiện nay hiến pháp không qui định như thế) và phải qui định những nguyên tắc đã có lâu đời về quyền kiểm soát dân sự đối với quân đội và chính sách chủ hòa. Thậm chí nếu chúng tôi tái khởi động quyền tự vệ tập thể và sửa đổi Điều 9 Hiến pháp, việc đó cũng mới chỉ đặt Nhật Bản trong một tư thế ngang hàng với các nước khác trên địa cầu. Chúng tôi phải đối phó với vấn đề này trong một cung cách hạn chế. Thậm chí nếu chúng tôi có sửa đổi Hiến pháp và có thể sử dụng quyền tự vệ tập thể đi nữa, chúng tôi vẫn ở vào một vị trí còn bị hạn hế hơn cả người Canada.
Vậy nói rõ ra, ông có muốn thay đổi Hiến pháp để thể hiện quyền tự vệ tập thể dễ dàng hơn không?
Tôi muốn thấy Hiến pháp được sửa đổi, và đảng của tôi đã xuất bản một bản dự thảo đề nghị sửa đổi Hiến pháp, gồm cả Điều 9.
Tại sao đa số dân chúng Nhật Bản vẫn còn phản đối việc xét lại Hiến pháp?
Hơn 50% dân chúng Nhật Bản ủng hộ việc thay đổi Hiến pháp [nói chung], trong khi chưa được 50% ủng hộ việc sửa đổi Điều 9. Nhưng các cuộc thăm dò dư luận còn cho thấy một khi được trình bày luận cứ một cách chi tiết hơn, người dân sẽ quay ra ủng hộ việc sửa đổi Hiến pháp.
Như vậy ông cho rằng chỉ vì họ không hiểu hết vấn đề chăng?
Hiện nay chỉ có 30 % dân chúng ủng hộ việc thể hiện quyền sử dụng vũ lực cho mục đích tự vệ tập thể. Nhưng khi chúng tôi trình bày một trường hợp cụ thể, chẳng hạn, liên quan đến một cuộc phóng tên lửa của Bắc Hàn, và chúng tôi giải thích rằng Nhật Bản có thể bắn hạ những tên lửa nhắm vào Nhật Bản, nhưng không được bắn hạ những tên lửa nhắm vào đảo Guam của Hoa Kỳ, mặc dù Nhật Bản có khả năng làm việc này, thì có hơn 60% dân chúng nhìn nhận rằng như thế là không phải lẽ.
Dịch giả gửi trực tiếp cho BVN
________________________
Japan Is Back
A Conversation With Shinzo Abe
Shinzo Abe
After serving a brief, undistinguished term as Japan’s prime minister in 2006–7, Shinzo Abe seemed destined for the political sidelines. Then, last December, he surged back into the limelight, retaking office in a landslide victory. The return to power of his Liberal Democratic Party (LDP) -- which has run Japan for 54 of the last 58 years, including most of the last two “lost decades” -- initially worried investors and pundits. But Abe immediately embarked on an ambitious campaign to revive Japan’s economy, and, some six months later, his efforts seem to be paying off. On the foreign policy front, however, Abe -- known in opposition as a conservative nationalist -- has sparked controversy by seeming to question Japan’s wartime record. In mid-May, as tensions were rising with Japan’s powerful neighbors, he spoke withForeign Affairs managing editor Jonathan Tepperman in Tokyo.
This is your second tenure as prime minister. Your first was not so successful, but this time, everything seems different: your approval rating is over 70 percent, and the stock market is at a five-year high. What lessons did you learn from your past mistakes, and what are you doing differently this time?
When I served as prime minister last time, I failed to prioritize my agenda. I was eager to complete everything at once, and ended my administration in failure.
After resigning, for six years I traveled across the nation simply to listen. Everywhere, I heard people suffering from having lost jobs due to lingering deflation and currency appreciation. Some had no hope for the future. So it followed naturally that my second administration should prioritize getting rid of deflation and turning around the Japanese economy.
Let’s say that I have set the priorities right this time to reflect the concerns of the people, and the results are increasingly noticeable, which may explain the high approval ratings.
I have also started to use social media networks like Facebook. Oftentimes, the legacy media only partially quote what politicians say. This has prevented the public from understanding my true intentions. So I am now sending messages through Facebook and other networks directly to the public.
So that way you get to bypass journalists?
Sort of [laughs]. No, I attach importance to face-to-face interviews like this one, and I have never been media shy. My point was that what I actually mean sometimes gets lost when it is only partially­ -- even mistakenly -- quoted.
You’ve said that your economic agenda is your top priority. Abenomics has three “arrows”: a 10 trillion yen fiscal stimulus, inflation targeting, and structural reform. You’ve fired the first two arrows already. What will the third look like?
The third arrow is about a growth strategy, which should be led by three key concepts: challenge, openness, and innovation. First, you need to envision what kind of Japan you wish to have. That is a Japan that cherishes those three concepts. Then, you get to see areas where you excel. Take health care, for instance. My country has good stock, which enables Japanese to live longer than most others. Why not use medical innovation, then, both to boost the economy and to contribute to the welfare of the rest of the world?
My recent trip to Russia and the Middle East assured me that there is much room out there for Japan’s medical industries. The same could be said for technologies to reduce carbon dioxide emissions, of which Japan has plenty. But to foster innovation, you must remain open.
But Japan has constraints on its economy that keep it from growing: high agricultural subsidies, overregulation, underutilization of women, a poor immigration policy. Past prime ministers have tried to deal with these problems and have run into a wall. What reforms will you focus on?
Time is not on our side. Prolonged deflation and the resulting economic stagnation that has lasted for 15 years have kept my country almost standing still, while the rest of the world has gone far. This is the last chance for us, and the sense of urgency is therefore enormous. It’s shared more widely than ever before among my fellow lawmakers.
True, agriculture still matters, not only as an industry but also for keeping Japan’s social fabric well knit. But my approach is to make it stronger and export-oriented. Japanese farmlands are endowed with rich natural attractions. Let them simply be sold more to the world. Where necessary, we will cut red tape, for sure. More investment in core technologies is also important, as is foreign direct investment in Japan. We must do all this now, in one fell swoop.
As for openness, of special note is my decision on the TPP [Trans-Pacific Partnership]. Previous administrations were indecisive. I decided to enter into the TPP negotiations. Of course, the agricultural lobby is fiercely against it, and agricultural associations are among the biggest and most important supporters of the LDP. So we are working hard to bring them along. If we don’t change, there won’t be any future for Japanese agriculture, or for Japan’s regions and local communities.
You’ve launched a major stimulus program that has been successful so far. But aren’t you worried about Japan’s debt, which is already at 220 to 230 percent of GDP?
Japan is facing an extremely rapid decline in birthrates, and Japan’s national income has lost as much as 50 trillion yen due to prolonged deflation. Put those together, and you get a much smaller tax base. That is why we are facing a very difficult financial situation, and that was the core concern that led my government to launch the “three arrow” recovery plan.
The bond repurchase and interest payments aside, the government’s current spending must meet its annual tax revenue. To achieve that balance remains our first priority, and we have made an international pledge to do so. By fiscal year 2015, we are going to halve our primary-balance deficit, and by 2020, we will achieve balance. To do so, we have to increase tax revenue. We also need to end the deflationary cycle. And we have to achieve economic growth.
We also need to improve the efficiency of government expenditures. We have decided to increase the consumption tax rate, which is important to sustain our social security services. I know that the current situation is difficult, and the world economy will have ups and downs. But that is the mandate I was given, and we are elbowing our way through.
It sometimes seems like there are two different Shinzo Abes: the nationalist or conservative Abe, who does controversial things, such as support history textbook revision, question the comfort women issue, or question the legitimacy of the Allied war crimes tribunal, and the pragmatic Abe, who reaches out to China and South Korea and who has been careful not to escalate tensions over the Senkaku Islands. In recent weeks, both have been on display: first, you seemed to question in the Diet whether Japan was the aggressor in World War II, and then, a week later, you acknowledged the suffering that Japan caused during the war. Which is the real Abe, and how should people interpret the shifts between the two?
As I said at the outset, I have had my remarks only partially or mistakenly quoted by the mainstream media. Let me set the record straight. Throughout my first and current terms as prime minister, I have expressed a number of times the deep remorse that I share for the tremendous damage and suffering Japan caused in the past to the people of many countries, particularly in Asia. I have explicitly said that, yet it made few headlines.
Do you accept that Japan was the aggressor when it invaded China, when it invaded Korea, and when it attacked the United States in World War II?
I have never said that Japan has not committed aggression. Yet at the same time, how best, or not, to define “aggression” is none of my business. That’s what historians ought to work on. I have been saying that our work is to discuss what kind of world we should create in the future.
It always seems to cause problems when you talk about history, so why not just avoid it? And let me ask a related question: In order to put these issues aside, can you promise that as prime minister, you will not visit Yasukuni Shrine in either your official or your private capacity?
I never raised the issue of history myself. During [recent] deliberations in the Diet, I faced questions from other members, and I had to answer them. When doing so, I kept saying that the issue is one for historians, since otherwise you could politicize it or turn it into a diplomatic issue.
About the Yasukuni Shrine, let me humbly urge you to think about your own place to pay homage to the war dead, Arlington National Cemetery, in the United States. The presidents of the United States go there, and as Japan’s prime minister, I have visited. Professor Kevin Doak of Georgetown University points out that visiting the cemetery does not mean endorsing slavery, even though Confederate soldiers are buried there. I am of a view that we can make a similar argument about Yasukuni, which enshrines the souls of those who lost their lives in the service of their country.
But with all due respect, there are 13 Class A war criminals buried at Yasukuni, which is why it makes China and South Korea crazy when Japanese prime ministers go there. Wouldn’t it be easier just to promise not to go?
I think it’s quite natural for a Japanese leader to offer prayer for those who sacrificed their lives for their country, and I think this is no different from what other world leaders do.
After Yasukuni enshrined the souls of the Class A criminals, China and South Korea did not make any claims about visits there for some years. Then suddenly, they started opposing the visits. So I will not say whether I will visit or refrain from visiting the shrine.
You said in January that there is no room for negotiation over the Senkaku Islands. If you take such an inflexible position and China takes such an inflexible position, there will be no progress. So what is the solution?
Seven years ago, as prime minister, I chose China as the first destination for an official visit. On that occasion, I agreed with the Chinese leaders that both countries would strive for a mutually beneficial relationship based on common strategic interests. I conveyed to the Chinese that Japan and China enjoy an inseparable relationship, especially in terms of economic ties. And I believe that it is wrong to close down all aspects of the bilateral relationship because of a single issue -- it would not be a smart move. That is why I always keep the door open for dialogue. I think China should come back to the starting point of the mutually beneficial relationship the two countries agreed on.
As for the Senkaku Islands, Japan incorporated them back in 1895, after taking measures in accordance with international law. And it was not until 1971 that China made its territorial claims over the islands. The Senkaku Islands are an integral part of Japanese territory, based on both history and international law. Only after keeping silent for 76 years, and after the United Nations referred to the possible existence of natural resources underneath the adjacent seabed, did China start making their territorial claims, rather abruptly.
Since 2008, the Chinese side has been dispatching official or naval vessels to intrude into Japanese territorial waters. The phenomenon is older and more deeply rooted than may meet the eye. There is no question that we have to address the issue in the most professional manner, and I have instructed the whole of my government to respond to the situation in the calmest manner possible. And we are [still] saying that we will always keep the door open for dialogue.
But what are you willing to do to resolve the problem? Cui Tiankai, the new Chinese ambassador to the United Statestold me recently [1] that the best thing would be to just ignore the sovereignty issue and return to the status quo where China and Japan agree to disagree.
That Chinese claim means Japan should admit that there exists an issue of territorial sovereignty to be resolved. We can never let this argument take place. The Chinese side has been using a similar argument against Vietnam and the Philippines to gain control over islands in the South China Sea. And recently, on May 8, China’s People’s Daily published an article questioning the status of Okinawa itself.
We have never agreed with the Chinese to shelve the issue of the Senkaku Islands. To say that we have in the past is a complete lie by the Chinese.
Given the rise of China and its more aggressive behavior, are you still confident in the U.S. security relationship, or do you feel that Japan needs to be doing more to protect itself? And is this why you’re interested in revising Japan’s constitution?
Of course, I have full confidence in the Japanese-U.S. alliance -- one hundred percent. After the Great East Japan Earthquake of 2011, the United States dispatched a total of 20,000 military personnel; even under difficult circumstances, the United States offered to cooperate in Japan’s reconstruction efforts. That is a true reflection of our relationship. And we fully welcome and happily support the strategic rebalancing by the United States toward Asia.
But at the same time, Japan is also willing to fulfill its responsibilities. Over the past ten years, my country has continued to cut its defense budget. China, on the other hand, has increased its military spending 30-fold in the last 23 years. Therefore, this year, for the first time in 11 years, my government chose to slightly increase the defense budget. That is a sign of Japan’s willingness to fulfill its own responsibility.
With regard to the issue of the right to collective self-defense, imagine that U.S. vessels on the high seas were being attacked and an armed ship, say an Aegis-type destroyer, from Japan, America’s treaty ally, was just passing by. The arrangement we currently have in Japan does not allow the destroyer to make any response whatsoever. That is insane.
So do you want to change Article 9 [the pacifist clause in Japan’s constitution] to address this?
To amend the constitution requires overcoming a high hurdle: we would have to get the approval of at least two-thirds of the members of the Japanese parliament and later a simple majority in a national referendum.
Yet the fact remains that Japan is the only country in the world that does not call its defense organizations a military. That is absurd, when the government is spending a total of 5 trillion yen [a year] for self-defense.
I think that our constitution should stipulate that our Self-Defense Forces are military forces (as it currently does not) and should also stipulate the long-established principles of civilian control and pacifism. Even if we reactivated the right to have a collective self-defense or amended Article 9 of the constitution, that would only put Japan in the same position as other countries around the globe. We should address this issue in a restrained manner. Even if we amended the constitution and were able to exercise the right to collective self-defense, we would still be in a more limited position than the Canadians.
So to be clear, do you want to change the constitution to make collective self-defense easier?
I would like to see the constitution amended, and my party has already published a draft proposal for the amendment of the constitution, including Article 9.
Why does the majority of the Japanese public still oppose constitutional revision?
More than 50 percent of Japanese nationals support the idea of changing the constitution [in general], while less than 50 percent support the amendment of Article 9. But polls also indicate that once told the rationale in more detail, they turn in favor of amendment.
So you think they just don’t understand the issue?
Only 30 percent of the people support enabling the right to use force for collective self-defense. But when we present a specific case involving, for instance, a missile launch by North Korea, and we explain to the public that Japan could shoot down missiles targeting Japan, but not missiles targeting the U.S. island of Guam, even though Japan has the ability to do so, then more than 60 percent of the public acknowledges that this is not right.