Showing posts with label Hoa Kỳ. Show all posts
Showing posts with label Hoa Kỳ. Show all posts

Wednesday, August 14, 2013

Người Việt cư trú bất hợp pháp ở Hoa Kỳ

Người Việt cư trú bất hợp pháp ở Hoa Kỳ

 
Theo số liệu của USCIS Center For Immigration Studies Trung Tâm Nghiên Cứu Di Dân của Hoa Kỳ, hiện có trên 11 triệu người nước ngoài đang sống trong tình trạng bất hợp pháp trên đất Mỹ, trong đó 300.000 đến từ Châu Âu, 800.000 đến từ Nam Mỹ, nhiểu triệu đến từ Mexico và những cộng đồng Hispanic khác, một triệu đến từ Châu Á mà trong đó không ít người đến từ Việt Nam.
Thế nào là cư trú bất hợp pháp

Cơ quan cấp quốc tich - thẻ xanh - visa của Hoa KỳVẫn theo thống kê của USCIS, chỉ trong năm 2011, chính phủ Hoa Kỳ đã cấp gần 32.000 visa di dân và khoảng 90.000 visa không di dân cho người Việt sang Hoa Kỳ:

Visa di dân, cũng có thể gọi visa định cư, cho phép đương đơn nhập cảnh đồng thời ở lại và sinh sống vĩnh viễn theo diện đoàn tụ gia đình hoặc công việc làm, được công ty hoặc tập đoàn thuê và đứng ra bảo lãnh cho đương đơn có thẻ xanh.

 

Còn visa không di dân hoặc visa không định cư có nghĩa là những loại visa mà đương đơn sau khi nhập cảnh Hoa Kỳ một thời gian tạm thời thì phải xuất cảnh Hoa Kỳ. Những diện visa này gồm du học, du lịch, công tác, giao lưu văn hóa vân vân... Những loại visa không di dân này yêu cầu đương đơn phải có lịch trình làm việc, lịch trình du lịch, một cái lịch tạm trú tại Mỹ thật chính xác và cụ thể. Sau cái lịch trình làm việc và kế hoạch công tác đó thì họ phải ra khỏi Mỹ.

Đó là lời thạc sĩ Huy Tôn, cư dân Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ, tốt nghiệp ngành Quản Trị Kinh Doanh, từng làm việc cho Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, hiện nay là giám đốc công ty SG Visa Smaller Globe Visa ở Sài Gòn:

Từ 2006 cho tới 2009 tôi có làm việc cho Bộ Phận Tái Định Cư Nhân Đạo (HRS) thuộc Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ, vì vậy tôi cũng được huấn luyện và có kinh nghiệm thực tế khi tham gia phỏng vấn và cứu xét hàng ngàn hồ sơ của những đương đơn, những gia đình mà trước đây không được cơ hội tham gia vào chương trình H.O.

Những đương đơn được ông ta cấp visa này thông thường sác xuất được cấp của họ không cao lắm, vì vậy họ đã bỏ tiền ra để mua visa nhập cảnh Hoa Kỳ. Từ 20.000 đô tới 70.000 đô một cái visa, và với hơn 500 visas thì ông Michael Sestak có được một số tiền rất lớn.

ông Michael Sestak
Từ 2009, sau khi không còn làm việc cho Bộ Phận Tái Định Cư Nhân Đạo thuộc Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ nữa thì tôi mở công ty SG Visa Smaller Globe Visa. SG Visa từ 2011 tới nay đã giúp cho hàng trăm gia đình nhập cảnh Hoa Kỳ theo diện visa định cư hoặc visa không định cư.

Sinh viên Việt Nam ở một trường trung học Hoa KỳĐến với mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi tối nay, thạc sĩ Huy Tôn chia sẻ thông tin và kiến thức về đời sống cũng như sinh hoạt của người Việt cư trú bất hợp pháp trên đất Mỹ, đặc biệt trong đó không thiếu những người Việt giàu có đã chi ra vài chục ngàn đô la để đi Mỹ theo đường dây mua bán visa của ông Michael Sestak, cựu giám đốc Bộ Phận Visa Không Định Cư của Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại Việt Nam:

Ông Michael Sestak làm việc cho Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ từ 2010, là người quyết định cấp hoặc từ chối rất nhiều đương đơn mong được visa nhập cảnh Hoa Kỳ theo diện du học, du lịch, công tác, giao lưu văn hóa và những loại visa không định cư khác. Tới tháng Ba năm 2012, ông ta bắt đầu có nhiều dấu hiệu tạo ra đường dây buôn visa cho rất nhiều người. Hơn năm trăm đương đơn nhận được những visa từ ông ta với giá 20.000 cho tới 70.000 đô. Những đương đơn được ông ta cấp visa này thông thường sác xuất được cấp của họ không cao lắm, vì vậy họ đã bỏ tiền ra để mua visa nhập cảnh Hoa Kỳ. Từ 20.000 đô tới 70.000 đô một cái visa, và với hơn 500 visas thì ông Michael Sestak có được một số tiền rất lớn.

 

Tháng Năm 2013, ông Michael Sestak bị bắt tại Nam California về tội gian lận và nhận hối lộ trong việc cấp visa cho hàng ngàn đương đơn người Việt muốn sang Hoa Kỳ nhưng khả năng đơn được chấp thuận không cao. Nếu bị tòa phán quyết có tội thì ông Sestak có thể lãnh 20 năm tù.

Theo thạc sĩ Huy Tôn, trong lúc vụ án Michael Sestak và các đồng phạm chưa được xét xử thì hơn 500 đương đơn được ông Sestak cấp visa và đã qua Mỹ, đương nhiên không phải sang chơi rồi về với cái giá mấy chục ngàn đô la một chuyến đi, chắc chắn đang thấp thỏm, lo lắng vì áp lực cấp bách làm sao hợp thức hóa tình trạng cư trú của mình:

Họ có thể bị bắt giữ bất cứ lúc nào nếu visa không di dân của họ đã hết hạn mà họ vẫn không ra khỏi Mỹ. Họ sẽ bị bắt giữ, tạm giam sau đó trục xuất ra khỏi Mỹ. Bị trục xuất ra khỏi Mỹ thì gần như là vĩnh viễn không còn cơ hội quay lại thêm một lần nữa.



 

Theo thông tin mà tôi có được thì ông Michael Sestak đã tự thú là ông ta có nhận tiền để cấp visa. Tuy nhiên đó là một phía của ông Michael Sestak mà thôi, còn trên luật pháp cần phải có bằng chứng cụ thể để quyết định rằng hồ sơ này không đáng được cấp visa, hoặc hồ sơ này đáng được cấp visa. Đồng thời nếu như ông Michael Sestak và đồng bọn không thể nào cung cấp những bằng chứng, cho thấy hơn 500 đương đơn này đã trả tiền cho ông ta, thì chính phủ Hoa Kỳ không thể nào nói rằng hơn 500 đương đơn này đã mua visa cả, và hơn 500 đương đơn này không đáng được cấp visa nhập cảnh Hoa Kỳ.

 

Không ít người Việt thành công với nghề làm móng tay tại Hoa Kỳ
Đó là khía cạnh tế nhị lẫn phức tạp của vấn đề mà Thanh Trúc mong tìm được sự lý giải đúng đắn của pháp luật trong một bài khác. Trở lại với cuộc sống và sinh hoạt của ngoại kiều nói chung và người Việt đang cư trú bất hợp pháp ở Hoa Kỳ nói riêng:

Họ có thể bị bắt giữ bất cứ lúc nào nếu visa không di dân của họ đã hết hạn mà họ vẫn không ra khỏi Mỹ. Họ sẽ bị bắt giữ, tạm giam sau đó trục xuất ra khỏi Mỹ. Bị trục xuất ra khỏi Mỹ thì gần như là vĩnh viễn không còn cơ hội quay lại thêm một lần nữa.

Còn muốn giảm thiểu rủi ro bị bắt giữ và nguy cơ bị trục xuất khỏi nước Mỹ thì người cư trú bất hợp pháp phải chịu rất nhiều sự thiệt thòi bởi có quá nhiều cái không thể và không thể.


Thạc sĩ Huy Tôn trình bày tiếp:
Đối với hơn 11 triệu ngoại kiều sống bất hợp pháp tại Hoa Kỳ, vì rất nhiều người cho tới nay đã thiết lập được cuộc sống mới, và để giảm thiểu cái rủi ro bị bắt giữ thì họ phải tránh né. Họ không thể nào đăng ký các phúc lợi an sinh xã hội như công dân và thường trú nhân Hoa Kỳ đang được hưởng. Họ không thể nào đi làm một cách chính thức và được trả lương. Họ không thể nào trả thuế cho chính phủ Hoa Kỳ và họ chỉ có thể đi làm tiền mặt cho những công việc không trả bằng chi phiếu hay những hình thức chi trả khác.

Về phương diện công việc thì như vậy, về sinh hoạt thì người cư trú bất hợp pháp ở Mỹ không thể nào thi để có bằng lái xe, một yêu cầu rất quan trọng khi đi xin và đi kiếm việc làm ở Mỹ:

Hoặc nếu như trước đây họ có bằng lái xe và bây giờ bằng lái xe của họ hết hạn thì họ cũng không thể nào renew thi lấy bằng lái xe mới . Họ không thể nào đăng ký đi học hoặc là không thể nào gây ẩu đả hay cãi nhau với bạn bè hàng xóm mà dẫn đến xung đột dẫn đến cảnh sát hòa giải mà có thể họ sẽ bị cảnh sát bắt giữ và trục xuất luôn.

 

Đã là người cư trú không giấy tờ nơi đất Mỹ thì dù có tiền cũng chẳng mua được sự hợp lệ cho bản thân mà e rằng còn liên lụy đến người trong gia đình vốn là thường trú nhân hợp pháp

Đã là người cư trú không giấy tờ nơi đất Mỹ thì dù có tiền cũng chẳng mua được sự hợp lệ cho bản thân mà e rằng còn liên lụy đến người trong gia đình vốn là thường trú nhân hợp pháp.

Từ bất hợp pháp thành hợp pháp?

 

Tuy nhiên, thạc sĩ Huy Tôn nói, cũng có những cách mà nếu hiểu biết và theo luật thì có thể chuyển đổi từ tình trạng bất hợp lệ sang thành hợp pháp:

Ví dụ nhiều người, đã sử dụng visa không di dân để nhập cảnh Hoa Kỳ, khi cận ngày visa hết hạn thì họ có thể chuyển đổi visa du lịch bằng visa du học bằng cách đến một trường Cao Đẳng hoặc Đại Học Cộng Đồng hoặc đại học nào đó không quá nổi tiếng, không quá đắt đỏ, và họ yêu cầu trường Cao Đẳng này hoặc Đại Học Cộng Đồng này cho họ nhập học để họ có thể học bán thời gian hầu tiếp tục duy trì sự hiện diện ở Mỹ dài hơn một cách hợp pháp.

Một cách khác là tìm đến một công ty hoặc một tập đoàn, nhất là công ty hay tập đoàn của gia đình hay bạn thân, yêu cầu công ty hay tập đoàn này bão lãnh để họ có được thẻ xanh khi làm việc cho công ty hoặc tập đoàn này. Tuy nhiên điều này cũng có một số khó khăn, nếu đi theo hướng này thì cả đương đơn lẫn công ty phải chứng minh rằng công ty có nhu cầu sử dụng lao động và đương đơn có kiến thức, kỷ năng và kinh nghiệm đáp ứng được cái nhu cầu cái vị trí mà công ty đang tuyển dụng, mà vị trí này không thể nào được đáp ứng bởi thị trường lao động tại Mỹ.

 

Một cách khác nữa để hợp thức hóa là tham gia vào chương trình đầu tư để định cư, nhưng:

Một cách khác là tìm đến một công ty hoặc một tập đoàn, nhất là công ty hay tập đoàn của gia đình hay bạn thân, yêu cầu công ty hay tập đoàn này bão lãnh để họ có được thẻ xanh khi làm việc cho công ty hoặc tập đoàn này (thạc sĩ Huy Tôn)

Theo chương trình này họ vẫn tiếp tục sống ở Mỹ bất hợp pháp cho tới khi nào Bộ Di Trú chấp thuận hồ sơ đầu tư định cư của họ, rồi họ phải quay về Việt Nam để được Lãnh Sự Quán phỏng vấn. Với những người dưới tuổi vị thành niên thì nên đợi Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành Luật dựa trên Dự Luật gọi là Dream Act. Dream Act cho phép người nhập cảnh Hoa Kỳ khi còn dưới tuổi vị thành niên và đã sống ở Mỹ một thời gian dài và đã tốt nghiệp trung học tại một trường ở Hoa Kỳ. Đây cũng chỉ mới là Dự Luật, một đề tài nóng bỏng mà Hoa Kỳ đang quan tâm.

 

Cuối cùng, cách phổ biến nhất, được nghĩ đến nhiều nhất là kết hôn với một công dân hay một thường trú nhân hợp pháp ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, để thuyết phục Bộ Di Trú rằng mối quan hệ vợ chồng hoặc mối quan hệ hôn phối là chính đáng thì họ cần chứng minh quan hệ xuất phát trong quá khứ, dựa trên tình cảm mà không vì mục đích định cư, rằng quan hệ đang được duy trì trong hiện tại và sẽ tiếp diễn trong tương lai:

Cũng là một trong những điều rất khó vì bên Bộ Di Trú Hoa Kỳ biết rất rõ là có rất nhiều người nhập cảnh Hoa Kỳ với mục dích định cư chứ không vì mục đích hôn nhân và hoặc đoàn tự gia đình và họ chỉ dựa vào Luật Hôn Nhân để được định cư tại Hoa Kỳ mà thôi.

Chính vì vậy, sau tất cả những điều vừa trình bày, để trở thành thường trú nhân hợp lệ trên đất Mỹ thì việc chuẩn bị hồ sơ, chuẩn bị kiến thức, chuẩn bị bằng chứng để thuyết phục Bộ Di Trú Hoa Kỳ là điều rất cần thiết giúp đương đơn và người bảo lãnh vượt qua khi phải đương đầu với Bộ Di Trú Hoa Kỳ.

Thực tế, nói về cộng đồng người Châu Mỹ La Tinh ở Hoa Kỳ trước giờ, quá nhiều thành phần gọi là undocumented, không có giấy tờ, mà vợ chồng con cái vẫn không hề hấn gì. Phương chi, cộng đồng người Việt cư trú bất hợp pháp ở Mỹ thì quá nhỏ so với cộng đồng bạn đó. Thạc sĩ Huy Tôn khẳng định là đừng mang tương lai của mình và con cái mình ra thách đố với pháp luật của quốc gia sở tại:
 
Sống bất hợp pháp tại Hoa Kỳ tôi nghĩ cái đó chỉ có thể được trả lời bởi từng đương đơn một. Tôi nghĩ mỗi người được quyền tìm cho mình cơ hội mưu cầu hạnh phúc, mưu cầu được nơi mà họ sinh sống và Mỹ là một đất nước có nhiều cơ hội. Tuy nhiên để phát triển để có cuộc sống an khang thịnh vượng thì các đương đơn này nên hợp thức hóa sự hiện diện của họ tại Hoa Kỳ vì điều này sẽ giúp cho giấc mơ của họ trở thành hiện thực.
Thanh Trúc

Monday, August 12, 2013

Viết Essay thế nào?

Câu chuyện nước Mỹ: Viết Essay thế nào?

Đau đầu vì essay. Ảnh: internet
Hiệu Minh: Sau một số entry về du học bên Mỹ, chọn trường, tìm thông tin, xin tiền cha mẹ, các ứng viên trẻ 17-18 tuổi đứng trước một câu hỏi mà phía tuyển sinh nước ngoài rất hay hỏi “Tại sao anh/chị lại chọn trường và môn học này?”
Không ai có thể trả lời giùm, trừ chính ứng viên. Người ta có thể giúp sửa ngữ pháp, lỗi chính tả, đặt lại câu cú, nhưng tại sao đi đến lựa chọn này, thì ứng viên không có cách nào tránh trả lời được. Hãy đối mặt với việc tưởng chừng dễ ăn nhất này.
Trong một bài liên quan đến cách dạy trong trường học Việt Nam “Môn chính môn phụ, sao có đổi ngôi”, tôi có kể về cảnh khóc dở, mếu dở khi phải viết Essay 500 từ.

Số là sau hơn chục năm làm việc lương bổng thấp, tôi nghĩ đến xin việc ở các tổ chức quốc tế hay xin đi du học. Gửi đơn xin học bổng bên Úc, tôi nhận được một thư cảm ơn rất lịch sự, yêu cầu viết và gửi một đoạn tự sự (Essay) 500 từ tại sao xin đi học. Đương nhiên viết bằng tiếng Anh.

Thú thật với vốn “tiếng Anh miền núi” chuyên học tại chức vào buổi tối, học là phụ, tán các em chính, tôi không viết nổi rồi, dù có khiếu nói đôi chút. Phỏng vấn trực tiếp thì không sợ, nhưng bảo viết là sợ “vãi linh hồn”.

Trong cái khó, ló cái khôn. Tôi nghĩ viết bằng tiếng Việt trước và thuê người dịch, trường xứ tận Úc làm sao biết được. Nhưng viết được đúng một câu “Thưa quí ông/bà …” thì tịt ngóm vì không biết tiếp tục như thế nào. Tự đánh vật với 500 từ bằng tiếng Việt mới thấy thấm thía môn văn quan trọng như thế nào.

Người phương Tây khi tuyển sinh hay lựa nhân viên vào các chức danh có thang lương bậc trung hay cao cấp, thường kiểm tra kỹ năng giao tiếp viết và trình bày ý tưởng. Sau đó họ mới kiểm tra kinh nghiệm làm việc hay kết quả học tập. Đọc Essay có thể đoán ứng viên có khả năng tư duy hay không, có viết từ trải nghiệm của bản thân hay chỉ là copy/paste trên mạng internet với những mẫu vô hồn.

Nhờ một giáo sư lâu năm và có kinh nghiệm về viết lách xem có giúp được gì. Ông thở dài, trong đầu trống rỗng, viết tiếng mẹ để không xong, làm sao có thể diễn tả bằng ngoại ngữ.

Năm 2004, sang Mỹ một thời gian, công việc hàng ngày là viết và trả lời email, cuối tuần viết báo cáo về tình hình IT trong khu vực, gửi cho sếp. Nhiều khi họ đưa vào báo cáo tháng cho Phó Chủ tịch WB. Cuối năm ấy, sau khi nhận xét tốt về kỹ thuật, khả năng quản lý, nhưng lão cho một câu làm mình đau điếng “kỹ năng giao tiếp có vấn đề”. Câu ấy liên quan đến cả lương tăng % bé tý, thế mới đau.

Lão sếp gợi ý tôi đi học một lớp về writing skills – kỹ năng viết và presentation skills – kỹ năng trình bày, mỗi lớp kéo dài 1 tuần. Lúc ấy mới vỡ ra nhiều điều về cách viết lách của mình có nhiều thứ cần học lại.

Cách dạy văn trong trường ở Việt Nam thường theo mẫu. Tả bà ngoại phải là cụ già tóc bạc phơ, răng móm mém, nhai trầu bỏm bẻm và nhất định là hiền. Trong khi ngoài đời, các bà ở tuổi nội ngoại thời nay rất trẻ trung. Nhiều “cụ” còn mặc váy sexy, xẻ trước, hở sau, phóng xe hơi đi nhảy đầm. Về nhà văng tiếng Tây, tiếng Tầu, quát mắng chồng con như những bà chủ. Thảm họa cho cháu nào mà tả một bà ngoại như thế.

Trong lúc ở bên Mỹ, học sinh viết văn được tự do sáng tạo. Em nhìn sự việc thế nào thì tả nguyên như thế. Vì thế, nếu tả bà ngoại thì 100 em có 100 bà khác nhau.

Cu Luck về Việt Nam năm ngoái (2012). Quay lại DC, vào lớp 6, cậu được cô giáo ra đề “Em hãy viết về những kỳ nghỉ hè vừa qua”.

Cu cậu thản nhiên viết, Việt Nam, một đất nước còn khổ, nhiều người vô gia cư. Nhà cô dì (chắc ý nói bên bà ngoại) rất nghèo. “Nếu mẹ tôi không lấy bố tôi thì tôi sẽ là đứa trẻ khá nghèo khổ”.

Các cậu về quê đi xe Ford của chú em út, vi vu khắp nơi. Ở Trích Sài cũng có điều kiện hơn bên bà ngoại. Thấy dân quần đùi áo may ô ra hóng mát ở Hồ Tây, ăn ốc luộc, câu trộm cá, các cậu tưởng là người homeless – vô gia cư, vì bên Mỹ, dân không nhà cửa mới ra đường ngồi.

Mẹ đọc xong choáng luôn, nhưng cô giáo lại khen hết lời. Có lẽ đọc 20 bài của lớp cu Luck sẽ được 20 bài cảm xúc khác nhau về kỳ nghỉ hè của các cháu ngây thơ.

Hai cách dạy văn khác nhau, nên ai định xin học bên Mỹ đành phải theo cách của họ. Họ muốn biết tại sao chọn trường, môn học, mục đích ra sao, và phải đưa ra những compelling argument – chứng cứ thuyết phục. Qua đó biết được kỹ năng và trình độ của ứng viên.

Mỗi người ở một hoàn cảnh cụ thể, xin vào một trường cụ thể, một khoa cụ thể, một môn cụ thể, nên tìm một mẫu essay cụ thể là không tưởng.
Essay writing. Ảnh: internet.

Có một chị xin du học master chỉ vì muốn bỏ chồng, do ông ấy hay ghen, đánh vợ. Về chuyên môn rất tốt, tiếng Anh cũng vậy. Luật di trú Úc bắt học xong phải về đúng hẹn. Cô viết rất hay bằng tiếng Anh, từ ngữ chọn rất kêu, yêu môn tâm lý học như thế nào, có kinh nghiệm lâu năm, và học xong sẽ về nước tiếp tục công việc này để giúp xã hội thay đổi hành vi. Cao siêu quá.

Nhờ người bạn có kinh nghiệm xem giúp. Anh ấy bảo, phần nói về chuyên môn thì OK, nhưng tiêu chí là do trường nổi tiếng, có nhiều giáo sư giỏi, rồi về phục vụ đất nước, kiểu XHCN, nghe chừng khuôn sáo. Anh bảo, viết personal – mang tính cá nhân, tất nhiên phải liên quan đến việc du học, có khi lại hay.

Nên nói có khả năng chuyên môn, đủ trình độ theo học, với vài chi tiết cụ thể liên quan đến thành tích trong công tác, nhưng trạng thái gia đình hiện không cho phép theo hướng đang theo đuổi. Gia đình là nơi trú ngụ cuối cùng trong cả tình cảm và sự nghiệp, nhưng phần tình cảm đã hỏng, chị nên nói là muốn du học để tạm xa một thời gian, sẽ tập trung vào chuyên môn. Biết đâu, nó sẽ chữa vết thương lòng cho cả hai. Kết quả, chị kia được cả bằng master và gia đình đoàn tụ sau hai năm.

Người xét Essay có kinh nghiệm thường nhìn ra bài nào do ứng viên tự viết, bài nào do thuê hay copy lại của người khác. Vì thế, Essay phải tự mình viết, cố vấn cũng cần, nhưng tác phẩm vài trăm từ đó nhất định phải rút ruột mà viết ra. Phải tin vào điều mình viết, nắm chắc nó, và đưa ra bằng những ví dụ sống động của chính mình đã từng trải qua, liên quan đến đề tài định du học.

Người ta bảo văn là người rất đúng nên Essay cũng là hình ảnh của ứng viên.

Đọc xong entry này, bạn hãy làm ly café, suy nghĩ và thử viết 500 từ bằng tiếng Việt xem sao. Nếu thấy tiện, cứ gửi lên Cua Times, đảm bảo đăng nguyên văn, không sai một dấu phẩy.

HM. 10-8-2013

Phục hưng "Made in USA"

Phục hưng "Made in USA"

Thế giới phẳng có khép lại hay không khi nhiều doanh nghiệp lớn của Mỹ đang đưa nhà máy từ Trung Quốc trở về Mỹ? 
Tổng thống Obama từng hỏi cố lãnh đạo của Apple là Steve Jobs: "Tại sao iPhone không được sản xuất tại Mỹ?". Steve Jobs đưa ra câu trả lời không rõ ràng: "Việc làm đó không thể trở lại nước Mỹ được". Tuy nhiên, quan điểm về vấn đề này đối với người quyết định tương lai của Apple rất rõ ràng: Apple tin vào quy mô của các nhà máy ở nước ngoài cũng như sự linh hoạt, nhanh nhạy, kỹ năng công nghiệp tốt của người lao động nước ngoài hiện đã hơn cả người lao động Mỹ. "Made in USA" vì vậy không thể trở thành lựa chọn cho sản xuất sản phẩm của Apple.

Tuy nhiên, đây là chuyện 5 năm về trước. Cuối năm ngoái, hãng Apple bắt đầu xây dựng một dây chuyền sản xuất máy tính Mac tại Mỹ. Lý do không phải là lời kêu gọi của Tổng thống Obama mà Apple thấy nhiều lợi ích khi đưa dây chuyền sản xuất trở lại quê hương. Hiện nay, nhiều công ty Mỹ nhận ra rằng họ đã đi quá xa với mô hình gia công ở nước ngoài và cần thiết phải trở lại quê nhà. Các hãng công nghệ và sản xuất lớn như Google, General Electric, Caterpillar và Ford đang chuyển dần sản xuất trở về nước Mỹ hoặc cho xây thêm nhà máy ở Mỹ.

Bởi vì, theo một cuộc khảo sát của Tổ chức Tư vấn Boston, 80% trong số 5.000 người dùng sẵn sàng chi thêm tiền để mua những sản phẩm được sản xuất tại Mỹ, trong đó có các thiết bị điện tử. Thậm chí người Trung Quốc cũng sẵn sàng bỏ thêm tiền để được sở hữu những sản phẩm được sản xuất tại Mỹ.

Cuộc hồi hương của hàng loạt thương hiệu Mỹ diễn ra trong bối cảnh chi phí lao động tại các "công xưởng thế giới" như Trung Quốc, Ấn Độ tăng. Chẳng hạn, lương của người lao động ở Trung Quốc và Ấn Độ đã tăng từ 10-20%, trong khi lương ở Mỹ và châu Âu bắt đầu bị các nước bắt kịp. Theo nghiên cứu của công ty cố vấn kinh doanh toàn cầu AlixPartners, đến năm 2015, chi phí sản xuất tại Trung Quốc sẽ ngang bằng với chi phí tại Mỹ.

Do vậy, theo Scott Paul, Chủ tịch Liên minh Sản xuất Mỹ (AAM), quay trở lại sản xuất tại Mỹ là một bài toán thông minh về lâu dài. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp giờ đây nhận ra việc gia công ở nước ngoài có những nhược điểm về khoảng cách địa lý, khiến chi phí vận chuyển tăng vọt, thời gian giao hàng chậm trễ. Họ cũng nhận ra rằng việc thuê gia công ở nước ngoài trong khi tiếp tục duy trì nghiên cứu và phát triển (R&D) ở quê nhà có ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động đổi mới.

Trong xu hướng này, các doanh nghiệp Mỹ và phương Tây đang nhanh chóng từ bỏ mô hình sản xuất mọi thứ tại chỗ với chi phí thấp để cung cấp cho phần còn lại của thế giới. Trung Quốc giờ đây không còn được xem là địa điểm sản xuất giá rẻ như trước, mà đã trở thành một thị trường tiêu thụ khồng lồ. Khi chuyển nhà máy tới những thị trường mới, các công ty thường đặt mục tiêu để nhanh chóng nắm bắt nhu cầu khách hàng và nhanh chóng đáp ứng sự thay đổi trong nhu cầu ở địa phương.

Hãng máy tính Lenovo cũng đã có những sản phẩm sản xuất tại Mỹ vì muốn nắm bắt nhu cầu của khách hàng Mỹ và nhanh chóng đáp ứng. Không chỉ các doanh nghiệp phương Tây mới tìm cách đem dây chuyền sản xuất về quê nhà, ngay cả các công ty lớn ở những thị trường mới nổi như Tata Group cũng đang tìm cách khuếch trương thương hiệu, năng lực sản xuất và nhân công ở phương Tây.

Đây không phải là một xu hướng nhất thời mà là một trào lưu trong quá trình tái cơ cấu nền kinh tế toàn cầu sau hai thập kỷ phát triển trong mô hình "thế giới phẳng". Các nhà máy Mỹ ngày càng được tiếp cận với năng lượng giá rẻ nhờ vào dầu và khí đốt từ đá phiến sét bùng nổ.

Ngược lại, các công ty bên ngoài nước Mỹ lại bị đội chi phí vận chuyển do giá nguyên liệu cao, nghĩa là chi phí tiết kiệm từ nhân công thấp tại Trung Quốc sẽ "bốc hơi" khi phải vận chuyển hàng hóa sang Mỹ. "Sản xuất sẽ trở lại, nhưng nó phát triển thành một loại rất khác ngày hôm nay.

Trước đây, trong làn sóng chuyển cơ sở sản xuất sang những nước như Trung Quốc, các công ty lập luận họ cần phải chuyển công việc ra nước ngoài để có đủ lợi nhuận và tiền chi trả cho nghiên cứu đổi mới công nghệ. Tuy nhiên, việc đưa cơ sở sản xuất ra nước ngoài về tổng thể lại làm nền kinh tế Mỹ suy yếu.

Willy Shih, giáo sư Trường Kinh doanh Harvard trong cuốn sách "Tại sao Mỹ cần phục hưng sản xuất" cho biết: "Khi từ bỏ công đoạn sản xuất sản phẩm, bạn sẽ mất rất nhiều giá trị gia tăng". Mỗi 1 đồng của hoạt động sản xuất trả 1,48 đồng cho nền kinh tế. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, trên thực tế, Mỹ vẫn là quốc gia với kỹ nghệ sản xuất hùng mạnh nhất hoàn cầu. Theo Viện McKinsey Global, mỗi năm, kỹ nghệ sản xuất đạt doanh số 1.800 tỷ USD. Mỗi USD của hoạt động sản xuất mang lại 1,48 USD cho nền kinh tế.

Chính sách ở mọi cấp độ đang dành khá nhiều ưu đãi hấp dẫn để thu hút giới chủ quay về Mỹ. Chẳng hạn, các viện nghiên cứu đã nhận được tài trợ 30 triệu USD để kết nối với 32.000 nhà sản xuất và các trường đại học hàng đầu trong chiến dịch tăng tốc đổi mới trong lĩnh vực công nghệ cao.

Hãng General Electric năm ngoái đã đưa công việc sản xuất máy giặt, tủ lạnh, và máy nước nóng từ Trung Quốc về tiểu bang Kentucky. Nhà bán lẻ khổng lồ Walmart cũng vừa ra tuyên cáo sẽ bày bán lượng hàng hoá trị giá 50 tỷ USD với nhãn hiệu "Made in USA" trong vòng 10 năm tới. Có 37% những công ty với doanh số 1 tỷ USD đang cân nhắc đưa các dây chuyền sản xuất từ Trung Quốc về lại Mỹ trong thời gian tới.

Theo Lam Hồng, Doanh nhân SG

Wednesday, August 7, 2013

Tờ 100 Đô la mới sẽ lưu hành từ ngày 08.10.2013

Tờ 100 Đô la mới sẽ lưu hành từ ngày 08.10.2013 
Những Đặc Điểm An Toàn Trong Tờ 100 Đô La Sẽ Lưu Hành Vào Ngày 08.10.2013
Để bảo vệ đồng tiền của Mỹ và giữ tỷ lệ làm tiền giả ở mức thấp, chính phủ Mỹ sẽ tiếp tục nâng cao mức an toàn đối với đồng tiền sắp lưu hành. Tờ 100 đô la mới là tờ tiền mới nhất trong tiền tệ Mỹ được thiết kế lại với những đặc điểm bảo đảm an toàn được nâng cao. Đây là tờ tiền giấy cuối cùng trong nhóm những tờ tiền giấy được thiết kế lại: lần đầu là thiết kế lại tờ 20 đô la vào năm 2003 và tiếp theo là các tờ 50 đô la, 10 đô la và 5 đô la.
Những đặc điểm bảo an của tờ 100 đô la mới là kết quả của hơn một thập kỷ niên nghiên cứu và phát triển. Có nhiều đặc điểm bảo an trong tờ tiền 100 đô la được thiết kế lại bao gồm những đặc điểm bảo an mới và nâng cao làm cho việc làm giả tờ giấy bạc này khó hơn, nhưng lại giúp người sử dụng và các doanh nghiệp xác định dễ dàng.
 
Dây an ninh 3-D: Hãy tìm dây an ninh màu xanh ở mặt trước của tờ 100 đô la với hình ảnh những cái chuông và những con số 100. Trao nghiêng tờ tiền về phía sau và phía trước khi xem dây an ninh. Bạn sẽ thấy những chiếc chuông đổi thành những con số 100 khi chúng di chuyển. Nếu bạn trao nghiêng tờ tiền về phía trước và phía sau, những chiếc chuông và những con số 100 sẽ di chuyển lên trên và xuống dưới. Nếu bạn trao nghiêng tờ tiền sang hai bên, chúng sẽ di chuyển về phía trước và phía sau. Dây an ninh được đan bên trong tờ tiền, chứ không được in và sử dụng vi công nghệ tiên tiến. Có gần một triệu vi thấu kính được sử dụng để tạo ảo giác về những chiếc chuông và những con số 100 đang chuyển động.
http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/feature-100-3dribbon_vi.gif
 
Chuông trong lọ mực: 
 
Bạn hãy tìm hình ảnh của một chiếc chuông đặt trong một lọ mực màu đồng ở mặt trước tờ 100 đô la mới. Tùy thuộc vào góc của tờ tiền, hình ảnh chiếc chuông đổi màu từ màu đồng sang màu xanh, đây là hiệu ứng làm cho chiếc chuông như hiện rồi lại ẩn trong lọ mực.
http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-bellinink_vi.gif
 
 
Cả hai đặc điểm bảo an này mang lại cách đơn giản và tinh vi để xác định một tờ tiền. Nhưng không thực hiện được việc xác định trên đây khi đưa tờ tiền ra ánh sáng.
 
Chúng tôi duy trì ba yếu tố bảo đảm an toàn hiệu quả cao từ mẫu tờ tiền 100 đô la cũ:
 
Hình chìm chân dung: 
http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-watermark_vi.gif
 
Đưa đồng tiền ra ánh sáng và tìm ảnh Benjamin Franklin mờ ở vùng trống phía bên phải bức chân dung. Có thể thấy hình ảnh này trên hai mặt của tờ giấy bạc.
 
Dây bảo an: 
http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-securitythread_vi.gif
 
Giơ tờ tiền ra trước ánh sáng và tìm dây an ninh được đính vào tờ tiền chạy dọc phía bên trái bức chân dung này. Dây an ninh được in xen lẫn các chữ “USA” và số 100 theo kiểu xen kẽ dọc và có thể nhìn thấy chúng dọc theo dây bảo an ở cả hai mặt tờ tiền. Dây bảo an phát quang màu hồng khi đặt dưới đèn tử ngoại.
 
Số 100 đổi màu: 
 
Trao nghiêng tờ tiền để xem số 100 ở góc dưới phía bên phải trên mặt trước của tờ tiền này chuyển màu từ màu đồng sang xanh lá cây.

http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-colorshiftingink_vi.gif 

Các đặc điểm thiết kế và bảo an bổ sung

 
In nổi: 
http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-raisedprinting_vi.gif
 
  Đưa ngón tay bạn lên trên và xuống dưới vai Benjamin Franklin ở phía bên trái tờ tiền. Bạn sẽ thấy ráp khi chạm. Đây là kết quả của quá trình in chìm nâng cao được sử dụng để tạo ra hình ảnh này. Bạn có thể thấy kiểu in nổi truyền thống trong tờ 100 đô la này làm cho các đồng tiền Mỹ có độ chân thực đặc biệt.
 
Số 100 nhũ vàng:
 
Hãy tìm số 100 nhũ vàng ở phía sau tờ tiền. Nó giúp phát hiện tiền giả.http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-gold100_vi.gif
 
 
Hình in nhỏ:
 
Hãy cẩn thận tìm những chữ in nhỏ xuất hiện ở cạnh cổ áo jacket của Benjamin Franklin, gần khoảng trống nơi hình chìm chân dung xuất hiện dọc theo ống bằng vàng ở gần biên tờ tiền.
Microprinting                                                          - Image
 
 
 
Dấu Cục Dự Trữ Liên Bang:
 
 Con dấu phổ biến phía bên trái bức chân dung tượng trưng cho toàn bộ Hệ thống cục dự trữ liên bang. Số và ký tự nằm dưới dãy số sê-ri bên trái chỉ ra Ngân hàng của Cục dự trữ liên bang là cơ quan phát hành. Có 12 ngân hàng khu vực và 24 chi nhánh của Cục dự trữ liên bang nằm tại các thành phố lớn trên khắp nước Mỹ.
Federal                                                          Reserve                                                          Indicators -                                                          Image
 
 
Các số sê-ri:
 Là sự kết hợp duy nhất của mười một số và chữ xuất hiện hai lần ở mặt trước của tờ tiền. Những số sê-ri duy nhất này giúp cơ quan hành pháp nhận biết những tờ tiền giả và cũng giúp Vụ tạo mẫu và In tiền theo dõi các tiêu chuẩn chất lượng cho những tờ tiền họ sản xuất.
 http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-serialnumbers_vi.gif
 
Dấu hiệu FW:
 
Tờ 100 đô la được thiết kế lại được in ở hai địa điểm ở Fort Worth bang Texas và Washington D.C. Tờ 100 đô la mới được in ở Fort Worth sẽ có chữ FW nhỏ ở góc trên bên trái ở phía trước tờ tiền, nằm ở phía bên phải số 100. Nếu một tờ tiền không có chữ FW có nghĩa là nó được in ở Washington D.C.
http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-fw_vi.gif
 
 
Chân dung và Ảnh in mờ: 
 
 Chân dung Benjamin Franklin một trong những người khai sinh ra nước Mỹ nằm ở phía trước tờ tiền mới 100 đô la. Ở phía sau tờ tiền có hình ảnh in mờ Dinh độc lập. Đây là hình ảnh phía sau chứ không phải phía trước tòa nhà. Các hình ôvan bao quanh bức chân dung và ảnh mờ tòa nhà đã được bỏ đi và những hình ảnh này đã được phóng to lên.
 
Các biểu tượng tự do: 
 
Bên phải bức chân dung trong tờ 100 đô la mới này là những biểu tượng tự do của nước Mỹ – những cụm từ trong Tuyên ngôn độc lập và bút lông mà những người khai sinh ra đất nước này sử dụng để ký tài liệu lịch sử này.
http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-symbolsfreedom_vi.gif
 
Màu sắc: 
 
Màu nền của tờ 100 đô la mới này có màu xanh nhạt. Màu sắc đã thêm một lớp độ phức tạp vào thiết kế của tờ 100 đô la và mỗi mệnh giá sẽ có một màu khác biệt giúp người sử dụng nhận biết chúng. Vì màu sắc có thể bị những kẻ làm tiền giả bắt chước, nên nó không được sử dụng để xác nhận tính xác thực của tờ tiền. 
http://www.newmoney.gov/newmoney/images/foreign/features-100-color_vi.gif
 
File:New100front.jpg
 
File:New100back.jpg

United States one hundred-dollar bill
 
The United States one hundred-dollar bill ($100) is a denomination of United States currency U.S. statesman, inventor, and diplomat Benjamin Franklin is currently featured on the obverse of the bill. On the reverse of the banknote is an image of Independence Hall. The $100 bill is the largest denomination that has been printed since July 13, 1969, when the denominations of $500, $1,000, $5,000, and $10,000 were retired. The Bureau of Engraving and Printing says the average life of a $100 bill in circulation is 90 months (7.5 years) before it is replaced due to wear and tear.
 
The bills are also commonly referred to as “Benjamins”, in reference to the use of Benjamin Franklin’s portrait on the denomination, or “C-Notes”, based on the Roman numeral for 100. The bill is one of two denominations printed today that does not feature a President of the United States; the other is the $10 bill, featuring Alexander Hamilton. The time on the clock of Independence Hall on the reverse, according to the U.S. Bureau of Engraving and Printing, shows approximately 4:10.
 
One hundred hundred-dollar bills are delivered by Federal Reserve Banks in mustard-colored straps ($10,000).
 
The Series 2009 $100 bill redesign was unveiled on April 21, 2010, and was to be issued to the public on February 11, 2011, but production was shut down in December 2010 because as many as 30% were unusable due to a manufacturing flaw. A vertical crease in the paper reveals a blank space on the bill when pulled out. In their replacement, and continuing the high demand of this denomination, the Series 2006A was issued retaining the previous design (1996-generation).
 
On April 24, 2013, the Federal Reserve announced the new $100 bill would enter circulation on October 8, 2013.
tran-quang-minh

Monday, August 5, 2013

CẢNH SÁT Ở MỸ

Tôi rất ghét cảnh sát phương Tây vì những hành động trấn áp quá mạnh. Mỗi khi gặp những kẻ trông rõ là bụi đời hay trộm cướp, cảnh sát thường dùng bạo lực khống chế rất nhanh để kiểm soát hoàn toàn tình hình, nhưng sau đó kiểm tra giấy tờ thì thấy người bị khống chế chỉ là dân nghèo thất nghiệp vô tình có những hành vi làm cảnh sát nghi ngờ. Những lúc đó tôi thấy cảnh sát chẳng khác gì bọn khủng bố, làm cho dân nghèo khiếp sợ. Một số người đã bị tổn thất nặng cả về thể xác lẫn tinh thần vì những hành động quá nhanh và mạnh của cảnh sát.
Tuy nhiên, đối với những người có hành vi vi phạm pháp luật dạng dân sự thì cảnh sát khá hiền, đúng như trong bài viết dưới đây. Họ thường hỏi han, khuyên bảo, đôi khi không phạt nếu biết người phạm luật chỉ do vô tình hoặc trong tình trạng khó khăn, căng thẳng. Nhưng cũng nên lưu ý cảnh sát ở những thành phố lớn (New York, Paris, Mockba, Luân Đôn, Zurich...) thường bạo lực, thô lỗ hơn cảnh sát ở các tỉnh lẻ. Cảnh sát Ý thì càng hiền, có lẽ phần lớn xuất thân từ nông dân vì Ý có một nền sản xuất nông nghiệp lớn; nước Ý cũng nằm bên rìa châu Âu, ít người qua lại nên dân chúng chung sống với nhau như một làng xã thôn bản.

CẢNH SÁT Ở MỸ

"Có hôm gần ba giờ sáng, giờ đi làm về, trời mưa, em chạy quá tốc độ limit ở ngay khu downtown Bellevue thì bị Police “vịn”. Em hạ cửa kính xuống, bật đèn xe lên cho sáng, hai tay để trên vô lăng nghiêm chỉnh ngồi chờ. Ông Police ngồi trên chiếc xe đang quay đèn xanh đỏ của ổng một hồi, chắc là để bấm máy tính kiểm tra lý lịch xe và chủ xe này nọ, rồi ổng lóp ngóp đội mưa tới bên xe em. Em thấy tội ổng quá vì mưa lớn mà ổng chả có áo mưa hay nón đội gì cả, còn ổng thì chắc cũng tội nghiệp thèng tài xế tóc đen ngoan ngoãn nãy giờ hạ sẵn kính xe không sợ mưa tạt.


Ổng hỏi: “Hê, where are you going? Anh chạy quá tốc độ rùi, hiểu chửa?”. Em cười cầu tài: “I’m sorry! Hì hì, tui đi cày về ông ơi!”.

Ổng chiếu đèn pin kiểm tra phía sau xe. Xong ổng nói, rất chậm rãi và rất rõ vì biết ngay là gặp cái thèng nói tiếng Mẽo chưa rành: “Trời mưa chạy nhanh nguy hiểm lắm, hiểu chửa?”. Chờ một chút cho em hiểu đâu đó, ổng lướt đèn pin vào cái car-seat (ghế ngồi cho em bé) ở băng sau, nói tiếp: “You have baby, chạy xe cho cẩn thận để còn take care cho con nhỏ chứ, hiểu chửa?”. Em ngớ cả người ra, không phải vì không hiểu, mà vì không ngờ ổng nói chuyện hiền lành và thân thiện đến thế.

Chắc ổng nhủ thầm: tội nghiệp thiệt, cái thèng này tiếng Anh còn kém quá. Ổng nói chậm từng tiếng: “Anh có thể đi được rồi. Hiểu chửa? Nhớ cẩn thận!”. Hic, hú hồn, biết là ổng tha rồi! Cái ticket thời điểm đó 124 đô chứ đâu phải ít, nhưng tiền phạt chưa đáng sợ bằng tiền bảo hiểm tăng!

Cảnh sát Mỹ đa số là rất dễ thương như thế, tất nhiên là cũng có ông ba trợn mà em cũng đã từng hân hạnh gặp!".

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=10201883268710208

(2) THẾ KỶ 21 CÓ TRỞ THÀNH KỶ NGUYÊN CHÂU Á?

Dân số châu Á chiếm 60,3% tổng dân số địa cầu.
Báo Le Monde mới đây đã có cuộc phỏng vấn Bertrand Badie, giáo sư thuộc Viện nghiên cứu chính trị Paris (Sciences Po) và là chuyên gia uy tín hàng đầu thế giới về quan hệ quốc tế, về các vấn đề thời sự nổi cộm hiện nay. Nội dung chính như sau:
+ Một số người nhắc tới “sự bất ổn của trật tự thế giới”, vậy thực ra khái niệm này là thế nào? Sau khái niệm “trật tự thế giới mới” do G. Bush cha khởi xướng thì hiện tại là cái gì?
- Chưa bao giờ có trật tự thế giới, xét cả ở khía cạnh chuẩn mực lẫn khía cạnh thể chế. Nói về trật tự thế giới là nói về một nỗ lực mô tả hệ thống quốc tế và cố áp đặt những giả thuyết nào đó về sự vĩnh cửu tương đối của nó.
Xét theo quan điểm cổ điển, trật tự thế giới là nói về “cân bằng quyền lực”. Nhưng trong cuộc trao đổi này, chúng ta sẽ gạt bỏ tầm nhìn này bởi vì quyền lực không còn là thành tố duy nhất của các trật tự khu vực và xa hơn, trật tự toàn cầu. Như vậy, trật tự quốc tế có thể được mô tả như một hệ thống bao gồm các mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau ngày càng mạnh mẽ giữa các nhà nước với nhau và giữa các nhà nước với các nhân tố phi nhà nước có những chức năng nhất định trên trường quốc tế.

+ Tại sao nhắc tới bất ổn trật tự thế giới mà không nói tới sự tái điều chỉnh chuyển hướng sang châu Á?

- Cần phải thiết lập châu Á thành một trung tâm trong bối cảnh hệ thống toàn cầu hóa như hiện nay cần thực sự được trang bị một trung tâm. Nếu châu Á chiếm một vị trí ngày càng quan trọng trong trật tự thế giới hiện nay thì đơn giản là châu lục này đã thể hiện được mình trong khi khái niệm cổ điển về quốc tế từ lâu chỉ giới hạn ở châu Âu, sau đó mở rộng sang Mỹ cùng với Chiến tranh Thế giới thứ Nhất.

Thế giới lưỡng cực từ đó đã khẳng định châu Âu là trung tâm trong đời sống quốc tế, phủ nhận hoặc coi châu Á là ở ngoại biên trong một vị thế thiếu chắc chắn. Chỉ có Nhật Bản được nhìn nhận phân biệt nhưng dần dần được gọi là một quốc gia “Viễn Tây”. 

Việc Trung Quốc chiếm vị trí cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, tiếp đến là sự tự khẳng định mình của các nước mới nổi như Ấn Độ hay việc Inđônêxia đã góp phần toàn cầu hóa các mối tương quan quốc tế, đặt châu Á vào một vị trí đặc biệt của mổi tương quan này. Ngược lại, châu Âu ngày càng thiếu thích ứng với quá trình toàn cầu hóa, gặp khó khăn trong việc nhìn nhận trật tự toàn cầu này.

+ Không phải châu Á mà chỉ riêng Trung Quốc sẽ gây bất ổn định cho trật tự thế giới? Trên thực tế, các nước ASEAN và Ấn Độ dường như có ít tham vọng địa chính trị hơn.

- Rõ ràng là Trung Quốc nằm ở trung tâm của quá trình tái định hình rộng lớn của trật tự thế giới hiện nay. Đừng quên một vài con số mấu chốt: xuất khẩu của Trung Quốc từ 18 tỉ USD năm 1980, hiện đã vượt ngưỡng 1.200 tỉ USD … về ngân sách quân sự, con số được nhắc đến hiện nay là 130 tỉ USD, lớn gấp 8 lần so với thời điểm những năm cuối của thế kỷ 20.

Tác động của sự tái sắp đặt này là rất lớn và về sâu xa, lôgích phụ thuộc lẫn nhau được thể hiện rất rõ ở việc Trung Quốc nắm giữ 1.250 USD trái phiếu kho bạc Mỹ. Với sự “thăng tiến” của Trung Quốc, không chỉ bản đồ quyền lực thế giới bị điều chỉnh. Trên thực tế, một khái niệm mới ra đời về một thế giới không chỉ tính đến vai trò của các nhà nước mà còn phải nhìn nhận các nền kinh tế và xã hội. Với những biến động này, sự kỳ diệu của Nhật Bản không còn sức nặng quyết định như trước.

Về trường hợp Ấn Độ, cùng có lý khi nhận định khả năng làm thay đổi khu vực, chứ chưa nói tới quốc tế, là kém hơn cho dù Ấn Độ hiện được xếp hàng thứ 7 thế giới về mặt quân sự… Quan trọng hơn, chúng ta đang chứng kiến một châu Á bùng nổ tự giải thoát mà tương lai bị kìm hãm: một mặt là sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các xã hội và các nền kinh tế, mặt khác là tác động của sự ganh đua ngày càng gay gắt giữa các cường quốc khu vực mà chúng ta rất khó hình dung khả năng hội nhập của họ trong một tổng thể khu vực rộng lớn được cho là có thể hình thành một liên minh kiểu EU.

+ Có học giả nói về “địa chính trị cảm xúc”, vậy liệu có sự chuyển biến từ căng thẳng tư tưởng sang căng thẳng cảm xúc?

- Chắc chắn căng thẳng cảm xúc có một vai trò rất quan trọng ở châu Á ít nhất vì 3 lý do. Lý do thứ nhất gắn với những tranh chấp xưa cũ đối lập ký ức châu Á với ký ức phương Tây: từ việc cướp phá Di Hòa Viên ở Bắc Kinh đến cuộc kháng chiến hòa bình chống thực dân Anh ở Ấn Độ, ký ức về những ô nhục đến nay vẫn rất mạnh mẽ. Lý do thứ hai lại gắn với cuộc chơi nội bộ châu lục: đó là nhũng gì đối lập mạnh mẽ giữa Nhật Bản với Trung Quốc, Bắc Triều Tiên với Nhật Bản và tất nhiên, Việt Nam với Trung Quốc, và thế giới Ấn Độ với thế giới Trung Hoa, sẽ rất nguy hiểm nếu việc xây dựng một trật tự khu vực không tính đến các ký ức này. Cuối cùng, lý do thứ ba có tính đương đại hơn, châu Á hiện không quan tâm nhiều đến việc điều hành toàn cầu mà ngược lại, chỉ chú ý làm sao không bị bên ngoài thống trị.

Chúng ta không thể thiết lập rõ ràng cách thức mà 3 cảm xúc mạnh mẽ nêu trên đè nặng lên một thực tế kép ít nổi bật hơn: thực tế của tương quan quyền lực đối lập một cách cổ điển nhưng mạnh mẽ của các quốc gia chủ chốt của châu Á và một thực tế khác làm đổi chiều cuộc chơi tàn nhẫn, không chỉ là cạnh tranh kinh tế mà còn là sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế ngày càng nặng nề. Vì thế những nước thù địch nhau vẫn buộc phải coi nhau là đối tác để không phá hoại các thị trường vốn tuyệt đối cần thiết cho bất cứ quốc gia nào.

+ Châu Á có thể gây bất ổn cho trật tự thế giới như thế nào?

- “Bất ổn châu Á” trước hết phải được xét ở quy mô khu vực, và từ xuất phát điểm này tới quy mô toàn cầu với những tham số mới của quá trình toàn cầu hóa. Phải lấy đó làm xuất phát điểm để hiểu được một bàn cờ quốc tế mới, trong đó sự phụ thuộc lẫn nhau sẽ quy định mối quan hệ bạn – thù, trong đó các đòi hỏi về phát triển kinh tế sẽ chiếm ưu thế như thế nào trước các dự án chính trị thuần túy, và trong đó cái đầu lạnh với lý trí cao sẽ giành ưu thế trước thuyết cứu thế từng cấu thành nền ngoại giao phương Tây từ lâu.

Bên cạnh các diễn biến này, cần phải thêm vào nguy cơ từ các mối căng thẳng mới. Nhưng cũng cần hết sức thận trọng. Mối nguy hiểm dường như không đến từ tham vọng bá chủ thế giới của Trung Quốc mà cụ thể hơn, từ nguy cơ gắn với sự ganh đua bất khả kháng để có được một vị trí bá chủ khu vực.

+ Nên hình dung như thế nào về cách tiếp cận chủ nghĩa hiện thực ở châu Á, nhất là ở Trung Quốc?

- Có thể nói rằng Trung Quốc sẽ không dễ dàng trên con đường hình thành một vị thế bá chủ thế giới mới. Trên thực tế, khi Bắc Kinh hành động, đặc biệt tại châu Phi và cả ở Mỹ Latinh, thì đó chủ yếu là để thỏa mãn các nhu cầu cung ứng nhưng phải vì ý đồ hình thành một trật tự thế giới mà họ muốn kiểm soát.

Chủ nghĩa hiện thực mà chúng ta nhắc tới ở đây, liên quan đến Trung Quốc, chính là của một cường quốc đang lên không thể hiện thực hóa tham vọng toàn cầu nếu không tìm cách áp đặt bằng được vị thế bá chủ khu vực. Ở đây có một Trung Quốc dường như đang tìm cách áp đặt chính sách cường quyền trên quy mô Đông Á và Trung Á, trong khi tạm thời từ bỏ mọi tham vọng ngoại giao toàn cầu.

Như chúng ta đã thấy, Trung Quốc đang theo đuổi các lý luận kinh tế thị trường và hiểu rõ sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế ngày càng lớn. Lôgích này được áp dụng cho cả lĩnh vực xã hội và một trong những ví dụ tiêu biểu là chính sách xuất khẩu thành công hàng loạt sinh viên để khi những người này trở về, chẳng hạn từ California, sẽ mang theo các công nghệ mới kết hợp với công nghệ trong nước, góp phần thúc đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế. Đây là cách Trung Quốc hòa nhập với quá trình toàn cầu hóa.

Bằng cách khéo léo tuân theo các mối quan hệ “liên kinh tế” và bây giờ là “liên xã hội”, Trung Quốc đang đi theo một hướng không hoàn toàn là định hướng được vạch ra theo thuyết hiện thực. Hơn nữa, Bắc Kinh cũng thận trọng xen lôgích này vào các không gian khu vực, thông qua các đặc khu kinh tế và các hình thức hội nhập mới của các thị trường địa phương. Tuy nhiên, cùng cần đặt vấn đề về tương lai của cách tiếp cận này: triệt tiêu để kết thúc một giai đoạn quá độ; có thể kéo dài và tạo thành một yếu tố mới trong sự cân bằng khu vực và thế giới; hay bị chệch hướng do những căng thẳng chính trị-quân sự gắn với sự kình địch giữa các cường quốc khu vực?

+ Đâu là giới hạn khoan nhượng của Mỹ đối với Bắc Triều Tiên? Nếu giới hạn này bị vượt qua và Mỹ tấn công Bắc Triều Tiên, thì Trung Quốc và Nga sẽ phản ứng như thế nào?

- Tôi cho rằng đội ngũ ngoại giao của Barack Obama đã biết cách hành động sáng suốt với con kịch phát này. Với các tổng thống khác, có thể chúng ta đã được chứng kiến một cuộc chiến tranh với những hậu quả thảm khốc…

Trên thực tế, Bắc Triều Tiên không nằm ở trung tâm tình trạng bấp bênh của châu Á mà chỉ là hiện thân, theo cách gần như châm biếm, cho một mô hình ngoại giao có thể chúng ta sẽ gặp nhiều hơn trong thế giới phức tạp và “vô cực” hiện nay. Đó là ngoại giao xử sự rất sai lệch, có nghĩa là kiểu ngoại giao lấy sự tồn tại và biểu hiện của mình làm chỗ dựa cho thái độ thách thức các cân bằng quyền lực và các chuẩn mực chính thức hoặc không chính thức chúng ta đã được biết. Vì những lý do chính trị nội bộ, nhà độc tài mới của Bắc Triều Tiên có nhu cầu cấp bách là khẳng định quyền lực của mình. Và vì những lý do chính trị đối ngoại, nhân vật trẻ này cũng rất cần bảo đảm một vị trí nào đó trên bàn cờ quốc tế.

Bằng việc “khua chiêng đánh trống”, đôi khi quá đà, nhà độc tài này đã ít nhiều thỏa mãn các nhu cầu của mình. Nhưng như thường thấy trong các tình huống như vậy, kiểu giễu võ giương oai quá đà đã dẫn đến sự tầm thường hóa của cách cư xử.

Điều đáng nói là Bắc Triều Tiên thường trực bị đe dọa bởi nguy cơ bùng nổ xã hội thực sự và nguy cơ này có thể được cụ thể hóa đặc biệt bằng một nạn đói nghiêm trọng hơn bất cứ tình trạng thiếu an ninh lương thực nào chúng ta được biết trong xã hội hiện đại. Bùng nổ xã hội bởi những nhân tố lệch lạc chắc chắn là nguồn gốc tiềm tàng của bạo lực và bất ổn. Đó là lý do tại sao phải tìm bằng được các sáng kiến thúc đẩy sự tái hòa nhập của Pyongyang trong bàn cờ khu vực ngay sau khi cơn kịch phát suy giảm, cho dù là thông qua tái khởi động dự án KEDO (Tổ chức phát triển năng lượng Triều Tiên) hay tái kích hoạt các đặc khu kinh tế kiểu đặc khu Kaesong, nơi Bắc Triều Tiên không thể từ chối mãi.

+ Liệu Trung Quốc và Ấn Độ có thể bình thường hóa quan hệ để đảm nhận vai trò động lực kép của quá trình khu vực hóa ở châu Á hay các lợi ích của họ quá khác biệt để có thế thiết lập một quan hệ hợp tác như vậy?


- Có vẻ như giai đoạn nguy kịch nhất trong quan hệ Trung-Ấn đã trôi qua. Quả vậy, rất khó hình dung làm thế nào để phát động lại một cuộc chiến kiểu chiến tranh năm 1962 giữa hai người khổng lồ châu Á này. Chắc chắn sẽ có một sự hòa nhập kinh tế mạnh mẽ hơn trong những năm tới, khi Ấn Độ ngày càng nhìn về hướng Đông và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thị trường lớn chỉ có thể thúc đẩy mạnh mẽ điều này. Mô hình ASEAN + 3 cũng nằm trong tiến trình vận động này.

Tuy nhiên, cần nói rằng Ấn Độ và Trung Quốc có nhiều điểm khác biệt, mặc dù có điểm tương đồng về dân số, nhưng hai quốc gia khổng lồ này có rất nhiều điểm trái ngược nhau về lợi ích. Vì vậy, cần hướng tới một châu Á phải làm việc nhiều hơn cho nhu cầu cân bằng khu vực và bất luận ra sao, không quốc gia nào muốn đảm nhận hoàn toàn trách nhiệm đối với khu vực.

+ Có thể chúng kiến sự trở lại của Nhật Bản trong nền kinh tế toàn cầu và tại các hội nghị cấp cao quốc tế?

- Rõ ràng Nhật Bản không còn đủ phương tiện để cạnh tranh với sức mạnh của Trung Quốc và cơ chế phát triển vốn là đặc trưng của nước láng giềng này hiện nay. Sự mất thăng bằng về dân số là rất to lớn và sự khác biệt về trọng lượng kinh tế chắc chắn sẽ ngày càng lớn, trong khi lợi thế công nghệ Nhật Bản đang bị thu hẹp không ngừng trước sự tiến triển của người láng giềng khổng lồ Trung Quốc.

Có rất nhiều lý do để nghĩ rằng trong những năm tới, cốt lõi của sự kình địch đặc biệt này sẽ thể hiện ở bình diện chính trị. Khả năng quân sự của Trung Quốc chắc chắn khiến Tokyo lo ngại bởi Nhật Bản không có phương tiện tái cân bằng. Tình trạng mất cân bằng này có thể đẩy Mỹ vào cuộc chơi do gót chân Asin của châu Á chính là nơi quy tụ các bấp bênh trong tương lai.

+ Liên minh châu Âu và Pháp có thể rút ra lợi ích gì từ sự mất ổn định này?

- Sẽ khôn ngoan hơn nếu các nước châu Âu như Pháp thay đổi quy tắc, tức là thay vì đặt ra một câu hỏi như vậy, chúng ta nên khéo léo tìm cách thích ứng với những chuyển biến như vậy. Châu Âu hiện vẫn sống với tinh thần Hội nghị Viên và với ảo ảnh về một khả năng thống trị độc quyền, và chỉ nhận biết các mối quan hệ quốc tế qua tính nhất nguyên. Rồi sẽ đến lúc châu Âu phải khám phá các mối quan hệ này qua tính đa nguyên.

Sẽ hữu ích hơn khi làm việc để xác định các điều kiện của một quan hệ đối tác thực thụ với các cường quốc đang trỗi dậy, đặc biệt là các nước ở châu Á, và tìm cách thích ứng với các phân chia vai trò mới./.

(1) THẾ KỶ 21 CÓ TRỞ THÀNH KỶ NGUYÊN CHÂU Á?

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM (Tài liệu tham khảo đặc biệt)Thứ Ba, ngày 30/7/2013 TTXVN (New York 29/7)Theo “Tạp chí Á-Âu”, nhiều người cho rằng thế kỷ 21 là thế kỷ châu Á. Châu Á có dân số lớn hơn dân số của tất cả các châu lục khác cộng lại. Như bản báo cáo “các xu hướng toàn cầu đến năm 2030” của cộng đồng tình báo Mỹ nhận định, châu Á sẽ có sức mạnh toàn cầu về GDP, chi phí quân sự và đầu tư lớn hơn Mỹ và châu Âu cộng lại, vì vậy châu Á xứng đáng với danh hiệu đó.
Ngoài ra, tài liệu mới nhất của Ngân hàng Thế giới cũng dự đoán so với tổng đầu tư toàn cầu của tất cả các nước có thu nhập cao, Trung Quốc và Ấn Độ sẽ là hai nhà đầu tư lớn nhất và chiếm khoảng 38% tổng đầu tư toàn cầu vào năm 2030.
Nếu Trung Quốc và Ấn Độ có đủ sức mạnh để xác định thế kỷ 21 là kỷ nguyên châu Á, hai nước phải phát triển các giá trị nhiều hơn nữa và phổ biến chúng trên toàn cầu.
Ấn Độ và Trung Quốc đã áp dụng hệ thống chính trị, kinh tế và các giá trị kèm theo do người châu Âu và Mỹ đã phát triển. Các nền văn minh và văn hóa của người Mỹ và châu Âu đã ảnh hưởng rất lớn đến con người và cách sống của người dân trên toàn châu Á, kể cả Trung Quốc và Ấn Độ. Khi nói về nền giáo dục, khoa học, công nghệ, kinh tế và hệ thống tài chính hiện đại cũng như các hoạt động phát triển, các giá trị dân chủ và tự do… tất cả đều xuất phát từ các nước phương Tây. Tất cả mọi đồ dùng và thiết bị hiện đại trong cuộc sống hiện nay của con người đều sử dụng các công nghệ phương Tây. Nhà kinh tế Jacques Attali của Pháp ví Internet là “lục địa thứ tám” và cũng là thuộc địa của Mỹ. Các tập đoàn Apple, Microsoft, Google, Facebook, Twitter, Yahoo – một phần cuộc sống của con người – cũng là của người Mỹ. Bất cứ thứ gì mang thương hiệu Mỹ và châu Âu đều đạt tiêu chuẩn chất lượng cao. Chỉ đến khi Trung Quốc và Ấn Độ có thể cạnh tranh với Mỹ và phương Tây trên các lĩnh vực đó, họ mới có thể xác định sự phát triển của khu vực như một kỷ nguyên châu Á. Vì vậy, chỉ riêng sự tích lũy của cải và thịnh vượng của một số nước châu Á thì không thể làm nên một kỷ nguyên châu Á. Có những trường hợp như: Canada không hề lo lắng trước sức mạnh kinh tế và quân sự của Mỹ; Đức là nước mạnh nhất châu Âu nhưng không hề gây bất cứ lo lắng nào cho Pháp, Anh hay tất cả các nước châu Âu khác. Nhưng theo tờ “New York Times” ngày 24/5, khi Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe chụp ảnh trong buồng lái của một máy bay chiến đấu, sự kiện này đã khiến Trung Quốc và Hàn Quốc tức giận. Tương tự, sự phát triển của Trung Quốc đã tạo nên mối quan ngại sâu sắc ở tất cả các nước láng giềng từ Nhật Bản và Hàn Quốc đến Việt Nam và Ấn Độ. Đối với Ấn Độ, gần như tất cả các nước láng giềng ngày càng bất bình đối với nước này và muốn Trung Quốc đứng về phía họ để đối trọng với Ấn Độ. Ngược lại, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Philíppin cũng muốn Ấn Độ đóng vai trò chiến lược quan trọng trong khu vực của họ để có thể kiểm soát sự thống trị quân sự của Trung Quốc.

Một biên giới được phân định giữa các cường quốc châu Á có thể là sự mở đầu của kỷ nguyên châuÁ: Cách đây 100 năm ở Shimla-Ấn Độ, tháng 10/1914, Ấn Độ, vẫn là thuộc địa của Anh, và Tây Tạng đã đàm phán về một thỏa thuận biên giới. Biên giới được phân định thời gian đó được gọi là đường McMahon, tên của trưởng đoàn đàm phán người Anh Sir Henry McMahon. Các đại biểu của Chính phủ Trung Quốc cũng tham dự cuộc đàm phán nhưng sau khi hiệp ước được Ấn Độ và Tây Tạng ký kết, các đại biểu Trung Quốc không ký hiệp ước vì cho rằng Tây Tạng là nước chư hầu của Trung Quốc nên không có quyền kỳ bất cứ văn kiện nào với nước khác. Sau khi sáp nhập Tây Tạng năm 1949, Trung Quốc trở thành láng giềng của Ấn Độ. Cuộc tranh cãi tiếp tục và tháng 10/1962, Trung Quốc xâm lược Ấn Độ. Sau khi Ấn Độ bị thất bại, Trung Quốc đã rút lực lượng của họ. Nhưng hiện nay biên giới Trung Quốc-Ấn Độ vẫn là “biên giới nguy hiểm nhất trên thế giới”. Giữa tháng 4/2013, một số binh sĩ Trung Quốc đã tiến sâu khoảng 19 km bên trong Đường Kiểm soát Thực tế và chỉ trở về vị trí đóng quân trước đó của họ sau 3 tuần căng thẳng kéo dài. Vài ngày sau khi hai nước đạt được một thỏa thuận về biên giới ở độ cao khoảng 5.000 mét trên dãy Himalaya, tạp chí TIME đã đăng bài viết nhan đề: “Sau cuộc giao tranh trên các dãy núi, Ấn Độ và Trung Quốc chuyển sang cạnh tranh ở Ấn Độ Dương”. Một báo cáo ngày 16/5 của Bộ Quốc phòng Ấn Độ cảnh báo các mối đe dọa thường xuyên nghiêm trọng từ lực lượng hải quân Trung Quốc ở khu vực biển sân sau của Ấn Độ do hải quân Trung Quốc phát triển mạnh hạm đội tàu ngầm. Cùng ngày, tờ “TIME” đăng bài viết của tác giả Kirk Spitzer từ Tokyo đề cập đến một cuộc thảo luận công khai hiếm có giữa các chuyên gia hải quân đến từ Nhật Bản, Mỹ và Trung Quốc. Trích dẫn phát biểu của ông Yang Yi, cựu giám đốc Viện Nghiên cứu Chiến lược thuộc Đại học Quốc nhòng ở Bắc Kinh, bài báo của ông Spitzer cho biết 80% dân số Trung Quốc muốn sử dụng sức mạnh quân sự và đang đặt câu hỏi: “Tại sao chúng ta lãng phí tiền bạc cho hải quân nếu chúng ta không sử dụng nó?” Bài báo cũng dẫn lời ông Michael McDevitt, cựu Đô đốc Hải quân Mỹ từng chỉ huy một nhóm tàu sân bay ở Thái Bình Dương: “Sức mạnh kinh tế của mỗi quốc gia châu Á đều phụ thuộc vào an ninh hàng hải. Nhưng gần như tất cả các vấn đề an ninh hiện nay trong khu vực là hàng hải và điều đó có nghĩa sự cạnh tranh các khả năng quân sự chủ yếu cũng ở trên biển”. Thực tế, thái độ khác nhau của Trung Quốc và Ấn Độ được hình thành bởi lịch sử của mỗi nước và chi phối đặc điểm của hai nước như các nhà nước hiện đại, mâu thuẫn với nhau về chế độ chính trị, tranh chấp lãnh thổ và cạnh tranh địa chính trị. Rõ ràng, các tranh chấp lãnh thổ như vậy và sự cạnh tranh địa chính trị giữa hai cường quốc châu Á sẽ tiếp tục cản trở cả Ấn Độ và Trung Quốc trong việc xây dựng khả năng để lãnh đạo một kỷ nguyên châu Á.

Các khu vực xung đột mới xuất hiện, các cuộc xung đột cũ chưa được giải quyết và kỷ nguyên chân Á: Trung Quốc và Nhật Bản có các tranh chấp về chủ quyền một số đảo nhỏ hơn. Các cuộc tranh cãi tương tự đã ảnh hưởng không tốt đến mối quan hệ của hai nền dân chủ và hai nền kinh tế châu Á phát triển: Nhật Bản và Hàn Quốc. Trung Quốc đang can dự vào cuộc tranh cãi gay gắt với Việt Nam và Philíppin về một số hòn đảo ở Biển Đông. Ngày 8/5, Nhân dân Nhật báo công bố một bài xã luận đặt dấu hỏi về vị thế của chuỗi đảo lớn hơn rất nhiều là Okinawa – nơi cư trú của vài triệu người dân Nhật Bản cùng với các căn cứ quân sự lớn của Mỹ. Theo Nhân dân Nhật báo, Nhật Bản đã sáp nhập vương quốc độc lập trước đây là quần đảo Ryukyu, kể cả Okinawa vào năm 1879. Nhân dân Nhật báo cho rằng quần đảo Ryukyu cũng từng là một quốc gia chư hầu của Trung Quốc, từ đó đem lại cho Bắc Kinh tiếng nói về các vấn đề chính trị. Điều này đã gây khó khăn hơn cho Nhật Bản trong quan hệ với Trung Quốc. Chuỗi đảo đó kéo dài từ đảo Kyushu đến Đài Loan được gọi là “quần đảo Nansei” ở Nhật Bản.

Bắc Kinh đã áp dụng các biện pháp trên biên giới với Ấn Độ trong các tuyên bố chủ quyền mới về quần đảo Ryukyu như một phần của chiến lược nhằm gia tăng áp lực cho các nước láng giềng bằng sức mạnh kinh tế và xây dựng quân đội. Tất cả hành động đó của Bắc Kinh đã đem lại cho Mỹ vị thế như một lực lượng ổn định lâu dài ở châu Á. Hiện nay Mỹ đang nỗ lực hợp pháp hóa sự hiện diện của họ ở châu Á, và bắt đầu khẳng định như một quốc gia Thái Bình Dương và có lợi ích lâu dài tại châu Á. Chiến lược “Trở lại châu Á” khẳng định Chính quyền Obama sẽ chú trọng châu Á hơn châu Âu và châu Phi. Nhưng phần lớn các nhà nghiên cứu chiến lược và hoạch định chính sách ở Mỹ và châu Âu thừa nhận hơn bao giờ hết, hiện nay châu Á không những quan trọng về kinh tế mà cả quân sự với Mỹ. Vì vậy, không đồng minh nào của Mỹ đặt dấu hỏi về quyết định tái cân bằng sức mạnh quân sự của Mỹ ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Hiện nay châu Á tồn tại rất nhiều khu vực xung đột giữa các quốc gia cũng như trong các nhà nước kéo dài từ Đông Á đến Trung Đông; từ Bắc Á và Trung Á đến Nam Á và Đông Nam Á, Hầu như tất cả các khu vực ở châu Á đều có các hệ thống vũ khí hiện đại nhất, kể cả vũ khí hủy diệt hàng loạt. Nếu có một kỷ nguyên châu Á, ‘Trung Quốc và Ấn Độ sẽ trở thành những đầu tàu của khu vực. Do có nguồn nhân lực rất lớn và cơ sở sức mạnh công nghệ tiên tiến hơn nhiều so với Trung Quốc và Ấn Độ, vai trò của Nhật Bản và Hàn Quốc sẽ nổi lên mạnh mẽ trong một kỷ nguyên như vậy. Sự xuất hiện của Inđônêxia như một cường quốc kinh tế đầy triển vọng và dự trữ các nguồn tài nguyên khổng lồ sẽ đóng một vai trò không kém phần quyết định trong kỷ nguyên châu Á. Một kỷ nguyên châu Á đòi hỏi có một nền văn minh châu Á mới. Đó là vấn đề thiếu nhất ở châu Á. Theo ông Lý Quang Diệu, các nền văn minh xuất hiện khi xã hội loài người có thể đối phó với những thách thức một cách khôn ngoan và thành công. Nghĩa là, một “đội ngũ lãnh đạo kiên quyết”, một chính quyền hiệu quả nhất và kỷ luật xã hội mạnh mẽ hơn là nhũng điều cần thiết nhất ở các nước sẽ lãnh đạo kỷ nguyên châu Á. Nhưng thật đáng tiếc, cả Trung Quốc và Ấn Độ đều thiếu những điều kiện đó. Người châu Á thường thích sống với quá khứ cay đắng và muốn truyền lại những cay đắng đó cho con cái, cháu chắt của họ. Họ đang làm tương tự ở tất cả các khu vực châu Á từ Đông sang Tây và từ Bắc vào Nam. Họ muốn trở thành một nhà lãnh đạo thế giới và chỉ huy thế kỷ 21 được gắn liền với tên của châu Á, nhưng lại ít quan tâm và lắng nghe tiếng nói và nhân phẩm của những người hàng xóm. Hơn nữa, một kỷ nguyên châu Á đòi hỏi một số giá trị, văn hóa và truyền thống châu Á. Một nền văn hóa chung sống với nhau và cùng nhau chia sẻ lợi ích, nền văn hóa phi bạo lực, hòa bình và khoan dung – các giá trị văn hóa riêng của châu Á đang ràng buộc các xã hội của người châu Á qua nhiều thế kỷ, hiện chỉ hạn chế ở một số lĩnh vực của lục địa lớn nhất thế giới.

Các giá trị của người châu Á nhằm phát triển nền dân chủ cộng đồng và ý thức trách nhiệm giải trình mạnh mẽ hơn để bảo đảm xã hội châu Á phát triển mạnh qua hàng nghìn năm lịch sử không còn nữa. Các giá trị phổ quát như dân chủ, tự do cá nhân, và trách nhiệm giải trình của phương Tây được các chính phủ nhập khẩu và sao chép thuần túy mà không hề nỗ lực xây dựng và phát triển các giá trị đó trên mảnh đất của họ, vì vậy chúng trở thành hình thức bị xuyên tạc nhất như đã thể hiện ở nhiều nước châu Á và châu Phi. Bên cạnh đó, sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, tiếp theo là Ấn Độ, có xu hướng tạo nên nhiều mâu thuẫn hơn trong khu vực. Như nhà khoa học chính trị người Mỹ Ian Bremmer nhấn mạnh trong cuốn sách nhan đề “Every Nation for Itself states” được xuất bản năm 2012: “Trung Quốc, Ấn Độ và Nhật Bản khó có thể cùng tồn tại trong thời gian dài và các nước như Inđônêxia, Hàn Quốc, và Thái Lan đủ mạnh để không bị lôi kéo hoàn toàn vào quỹ đạo của một nước khác. Châu Á có thể phát huy vai trò như một đầu tàu tăng trưởng kinh tế toàn cầu, nhưng khu vực này vẫn có quá nhiều thách thức an ninh tiềm tàng”. Nhiều người biết Trung Quốc phát triển thế nào, nhung không biết liệu Trung Quốc có thể vượt Mỹ để trở thành cường quốc kinh tế số một thế giới hay không. Sự giàu có của Trung Quốc được tích lũy qua các công ty nhà nước, nhưng chừng nào sự thịnh vượng đó vẫn chưa được thúc đẩy thông qua các chương trình và chính sách tư nhân, Trung Quốc không thể vượt Mỹ và duy trì sự phát triển bền vững. Mặt khác, cũng không ai biết Ấn Độ sẽ phát triển ra sao. Thực tế, chính sức mạnh của xã hội Ấn Độ đã giải quyết rất nhiều yếu kém, mâu thuẫn và phe phái trong nước, từ đó thúc đẩy nước này trở thành một nền dân chủ cùng với một nền kinh tế phát triển mạnh. Trung Quốc có một nhà nước mạnh và Ấn Độ có một xã hội mạnh. Nhà nước mạnh hơn nhưng phải trả giá bằng cách hy sinh các lợi ích xã hội và ngược lại xã hội mạnh hơn nhưng phải hy sinh các lợi ích của nhà nước, do đó hai nước lãnh đạo khu vực phải tìm được các mô hình thích hợp để hợp tác và thúc đẩy lẫn nhau. Thực hiện được điều đó sẽ hạn chế cuộc khủng hoảng niềm tin giữa các lãnh đạo chính trị của hai nước. Nếu đạt được một số niềm tin, họ có thể có những ý đồ táo bạo trong việc giải quyết các vấn đề của hai nước với các nước láng giềng. Nhưng những nỗ lực táo bạo đó đòi hỏi phải có các kỹ năng và nỗ lực ngoại giao dũng cảm hơn mới giải quyết được các vấn đề với các nước láng giềng. Hai nước phải hiểu rằng mức độ sức mạnh kinh tế và quân sự của họ khó có thể biến thành sức mạnh khiêm tốn bao gồm: sức mạnh chính trị, sức mạnh tri thức và sức mạnh đạo đức. Nếu không có các nhà lãnh đạo quyết đoán và có tầm nhìn xa trông rộng cộng với sự ủng hộ mạnh mẽ của dân chúng trong nước, sức mạnh khiêm tốn như vậy không thể được tạo ra. Chính sách ngoại giao được thúc đẩy bởi sức mạnh khiêm tốn như vậy cộng với giới lãnh đạo quyết tâm có thể được gọi là nền ngoại giao khiêm tốn – một vấn đề cấp thiết nhất trong trường hợp Trung Quốc và Ấn Độ muốn can dự và lãnh đạo một kỷ nguyên châu Á.

Nguồn: Anhbasam.