Showing posts with label Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Việt Nam. Show all posts

Wednesday, August 14, 2013

Người Việt cư trú bất hợp pháp ở Hoa Kỳ

Người Việt cư trú bất hợp pháp ở Hoa Kỳ

 
Theo số liệu của USCIS Center For Immigration Studies Trung Tâm Nghiên Cứu Di Dân của Hoa Kỳ, hiện có trên 11 triệu người nước ngoài đang sống trong tình trạng bất hợp pháp trên đất Mỹ, trong đó 300.000 đến từ Châu Âu, 800.000 đến từ Nam Mỹ, nhiểu triệu đến từ Mexico và những cộng đồng Hispanic khác, một triệu đến từ Châu Á mà trong đó không ít người đến từ Việt Nam.
Thế nào là cư trú bất hợp pháp

Cơ quan cấp quốc tich - thẻ xanh - visa của Hoa KỳVẫn theo thống kê của USCIS, chỉ trong năm 2011, chính phủ Hoa Kỳ đã cấp gần 32.000 visa di dân và khoảng 90.000 visa không di dân cho người Việt sang Hoa Kỳ:

Visa di dân, cũng có thể gọi visa định cư, cho phép đương đơn nhập cảnh đồng thời ở lại và sinh sống vĩnh viễn theo diện đoàn tụ gia đình hoặc công việc làm, được công ty hoặc tập đoàn thuê và đứng ra bảo lãnh cho đương đơn có thẻ xanh.

 

Còn visa không di dân hoặc visa không định cư có nghĩa là những loại visa mà đương đơn sau khi nhập cảnh Hoa Kỳ một thời gian tạm thời thì phải xuất cảnh Hoa Kỳ. Những diện visa này gồm du học, du lịch, công tác, giao lưu văn hóa vân vân... Những loại visa không di dân này yêu cầu đương đơn phải có lịch trình làm việc, lịch trình du lịch, một cái lịch tạm trú tại Mỹ thật chính xác và cụ thể. Sau cái lịch trình làm việc và kế hoạch công tác đó thì họ phải ra khỏi Mỹ.

Đó là lời thạc sĩ Huy Tôn, cư dân Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ, tốt nghiệp ngành Quản Trị Kinh Doanh, từng làm việc cho Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, hiện nay là giám đốc công ty SG Visa Smaller Globe Visa ở Sài Gòn:

Từ 2006 cho tới 2009 tôi có làm việc cho Bộ Phận Tái Định Cư Nhân Đạo (HRS) thuộc Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ, vì vậy tôi cũng được huấn luyện và có kinh nghiệm thực tế khi tham gia phỏng vấn và cứu xét hàng ngàn hồ sơ của những đương đơn, những gia đình mà trước đây không được cơ hội tham gia vào chương trình H.O.

Những đương đơn được ông ta cấp visa này thông thường sác xuất được cấp của họ không cao lắm, vì vậy họ đã bỏ tiền ra để mua visa nhập cảnh Hoa Kỳ. Từ 20.000 đô tới 70.000 đô một cái visa, và với hơn 500 visas thì ông Michael Sestak có được một số tiền rất lớn.

ông Michael Sestak
Từ 2009, sau khi không còn làm việc cho Bộ Phận Tái Định Cư Nhân Đạo thuộc Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ nữa thì tôi mở công ty SG Visa Smaller Globe Visa. SG Visa từ 2011 tới nay đã giúp cho hàng trăm gia đình nhập cảnh Hoa Kỳ theo diện visa định cư hoặc visa không định cư.

Sinh viên Việt Nam ở một trường trung học Hoa KỳĐến với mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi tối nay, thạc sĩ Huy Tôn chia sẻ thông tin và kiến thức về đời sống cũng như sinh hoạt của người Việt cư trú bất hợp pháp trên đất Mỹ, đặc biệt trong đó không thiếu những người Việt giàu có đã chi ra vài chục ngàn đô la để đi Mỹ theo đường dây mua bán visa của ông Michael Sestak, cựu giám đốc Bộ Phận Visa Không Định Cư của Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại Việt Nam:

Ông Michael Sestak làm việc cho Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ từ 2010, là người quyết định cấp hoặc từ chối rất nhiều đương đơn mong được visa nhập cảnh Hoa Kỳ theo diện du học, du lịch, công tác, giao lưu văn hóa và những loại visa không định cư khác. Tới tháng Ba năm 2012, ông ta bắt đầu có nhiều dấu hiệu tạo ra đường dây buôn visa cho rất nhiều người. Hơn năm trăm đương đơn nhận được những visa từ ông ta với giá 20.000 cho tới 70.000 đô. Những đương đơn được ông ta cấp visa này thông thường sác xuất được cấp của họ không cao lắm, vì vậy họ đã bỏ tiền ra để mua visa nhập cảnh Hoa Kỳ. Từ 20.000 đô tới 70.000 đô một cái visa, và với hơn 500 visas thì ông Michael Sestak có được một số tiền rất lớn.

 

Tháng Năm 2013, ông Michael Sestak bị bắt tại Nam California về tội gian lận và nhận hối lộ trong việc cấp visa cho hàng ngàn đương đơn người Việt muốn sang Hoa Kỳ nhưng khả năng đơn được chấp thuận không cao. Nếu bị tòa phán quyết có tội thì ông Sestak có thể lãnh 20 năm tù.

Theo thạc sĩ Huy Tôn, trong lúc vụ án Michael Sestak và các đồng phạm chưa được xét xử thì hơn 500 đương đơn được ông Sestak cấp visa và đã qua Mỹ, đương nhiên không phải sang chơi rồi về với cái giá mấy chục ngàn đô la một chuyến đi, chắc chắn đang thấp thỏm, lo lắng vì áp lực cấp bách làm sao hợp thức hóa tình trạng cư trú của mình:

Họ có thể bị bắt giữ bất cứ lúc nào nếu visa không di dân của họ đã hết hạn mà họ vẫn không ra khỏi Mỹ. Họ sẽ bị bắt giữ, tạm giam sau đó trục xuất ra khỏi Mỹ. Bị trục xuất ra khỏi Mỹ thì gần như là vĩnh viễn không còn cơ hội quay lại thêm một lần nữa.



 

Theo thông tin mà tôi có được thì ông Michael Sestak đã tự thú là ông ta có nhận tiền để cấp visa. Tuy nhiên đó là một phía của ông Michael Sestak mà thôi, còn trên luật pháp cần phải có bằng chứng cụ thể để quyết định rằng hồ sơ này không đáng được cấp visa, hoặc hồ sơ này đáng được cấp visa. Đồng thời nếu như ông Michael Sestak và đồng bọn không thể nào cung cấp những bằng chứng, cho thấy hơn 500 đương đơn này đã trả tiền cho ông ta, thì chính phủ Hoa Kỳ không thể nào nói rằng hơn 500 đương đơn này đã mua visa cả, và hơn 500 đương đơn này không đáng được cấp visa nhập cảnh Hoa Kỳ.

 

Không ít người Việt thành công với nghề làm móng tay tại Hoa Kỳ
Đó là khía cạnh tế nhị lẫn phức tạp của vấn đề mà Thanh Trúc mong tìm được sự lý giải đúng đắn của pháp luật trong một bài khác. Trở lại với cuộc sống và sinh hoạt của ngoại kiều nói chung và người Việt đang cư trú bất hợp pháp ở Hoa Kỳ nói riêng:

Họ có thể bị bắt giữ bất cứ lúc nào nếu visa không di dân của họ đã hết hạn mà họ vẫn không ra khỏi Mỹ. Họ sẽ bị bắt giữ, tạm giam sau đó trục xuất ra khỏi Mỹ. Bị trục xuất ra khỏi Mỹ thì gần như là vĩnh viễn không còn cơ hội quay lại thêm một lần nữa.

Còn muốn giảm thiểu rủi ro bị bắt giữ và nguy cơ bị trục xuất khỏi nước Mỹ thì người cư trú bất hợp pháp phải chịu rất nhiều sự thiệt thòi bởi có quá nhiều cái không thể và không thể.


Thạc sĩ Huy Tôn trình bày tiếp:
Đối với hơn 11 triệu ngoại kiều sống bất hợp pháp tại Hoa Kỳ, vì rất nhiều người cho tới nay đã thiết lập được cuộc sống mới, và để giảm thiểu cái rủi ro bị bắt giữ thì họ phải tránh né. Họ không thể nào đăng ký các phúc lợi an sinh xã hội như công dân và thường trú nhân Hoa Kỳ đang được hưởng. Họ không thể nào đi làm một cách chính thức và được trả lương. Họ không thể nào trả thuế cho chính phủ Hoa Kỳ và họ chỉ có thể đi làm tiền mặt cho những công việc không trả bằng chi phiếu hay những hình thức chi trả khác.

Về phương diện công việc thì như vậy, về sinh hoạt thì người cư trú bất hợp pháp ở Mỹ không thể nào thi để có bằng lái xe, một yêu cầu rất quan trọng khi đi xin và đi kiếm việc làm ở Mỹ:

Hoặc nếu như trước đây họ có bằng lái xe và bây giờ bằng lái xe của họ hết hạn thì họ cũng không thể nào renew thi lấy bằng lái xe mới . Họ không thể nào đăng ký đi học hoặc là không thể nào gây ẩu đả hay cãi nhau với bạn bè hàng xóm mà dẫn đến xung đột dẫn đến cảnh sát hòa giải mà có thể họ sẽ bị cảnh sát bắt giữ và trục xuất luôn.

 

Đã là người cư trú không giấy tờ nơi đất Mỹ thì dù có tiền cũng chẳng mua được sự hợp lệ cho bản thân mà e rằng còn liên lụy đến người trong gia đình vốn là thường trú nhân hợp pháp

Đã là người cư trú không giấy tờ nơi đất Mỹ thì dù có tiền cũng chẳng mua được sự hợp lệ cho bản thân mà e rằng còn liên lụy đến người trong gia đình vốn là thường trú nhân hợp pháp.

Từ bất hợp pháp thành hợp pháp?

 

Tuy nhiên, thạc sĩ Huy Tôn nói, cũng có những cách mà nếu hiểu biết và theo luật thì có thể chuyển đổi từ tình trạng bất hợp lệ sang thành hợp pháp:

Ví dụ nhiều người, đã sử dụng visa không di dân để nhập cảnh Hoa Kỳ, khi cận ngày visa hết hạn thì họ có thể chuyển đổi visa du lịch bằng visa du học bằng cách đến một trường Cao Đẳng hoặc Đại Học Cộng Đồng hoặc đại học nào đó không quá nổi tiếng, không quá đắt đỏ, và họ yêu cầu trường Cao Đẳng này hoặc Đại Học Cộng Đồng này cho họ nhập học để họ có thể học bán thời gian hầu tiếp tục duy trì sự hiện diện ở Mỹ dài hơn một cách hợp pháp.

Một cách khác là tìm đến một công ty hoặc một tập đoàn, nhất là công ty hay tập đoàn của gia đình hay bạn thân, yêu cầu công ty hay tập đoàn này bão lãnh để họ có được thẻ xanh khi làm việc cho công ty hoặc tập đoàn này. Tuy nhiên điều này cũng có một số khó khăn, nếu đi theo hướng này thì cả đương đơn lẫn công ty phải chứng minh rằng công ty có nhu cầu sử dụng lao động và đương đơn có kiến thức, kỷ năng và kinh nghiệm đáp ứng được cái nhu cầu cái vị trí mà công ty đang tuyển dụng, mà vị trí này không thể nào được đáp ứng bởi thị trường lao động tại Mỹ.

 

Một cách khác nữa để hợp thức hóa là tham gia vào chương trình đầu tư để định cư, nhưng:

Một cách khác là tìm đến một công ty hoặc một tập đoàn, nhất là công ty hay tập đoàn của gia đình hay bạn thân, yêu cầu công ty hay tập đoàn này bão lãnh để họ có được thẻ xanh khi làm việc cho công ty hoặc tập đoàn này (thạc sĩ Huy Tôn)

Theo chương trình này họ vẫn tiếp tục sống ở Mỹ bất hợp pháp cho tới khi nào Bộ Di Trú chấp thuận hồ sơ đầu tư định cư của họ, rồi họ phải quay về Việt Nam để được Lãnh Sự Quán phỏng vấn. Với những người dưới tuổi vị thành niên thì nên đợi Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành Luật dựa trên Dự Luật gọi là Dream Act. Dream Act cho phép người nhập cảnh Hoa Kỳ khi còn dưới tuổi vị thành niên và đã sống ở Mỹ một thời gian dài và đã tốt nghiệp trung học tại một trường ở Hoa Kỳ. Đây cũng chỉ mới là Dự Luật, một đề tài nóng bỏng mà Hoa Kỳ đang quan tâm.

 

Cuối cùng, cách phổ biến nhất, được nghĩ đến nhiều nhất là kết hôn với một công dân hay một thường trú nhân hợp pháp ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, để thuyết phục Bộ Di Trú rằng mối quan hệ vợ chồng hoặc mối quan hệ hôn phối là chính đáng thì họ cần chứng minh quan hệ xuất phát trong quá khứ, dựa trên tình cảm mà không vì mục đích định cư, rằng quan hệ đang được duy trì trong hiện tại và sẽ tiếp diễn trong tương lai:

Cũng là một trong những điều rất khó vì bên Bộ Di Trú Hoa Kỳ biết rất rõ là có rất nhiều người nhập cảnh Hoa Kỳ với mục dích định cư chứ không vì mục đích hôn nhân và hoặc đoàn tự gia đình và họ chỉ dựa vào Luật Hôn Nhân để được định cư tại Hoa Kỳ mà thôi.

Chính vì vậy, sau tất cả những điều vừa trình bày, để trở thành thường trú nhân hợp lệ trên đất Mỹ thì việc chuẩn bị hồ sơ, chuẩn bị kiến thức, chuẩn bị bằng chứng để thuyết phục Bộ Di Trú Hoa Kỳ là điều rất cần thiết giúp đương đơn và người bảo lãnh vượt qua khi phải đương đầu với Bộ Di Trú Hoa Kỳ.

Thực tế, nói về cộng đồng người Châu Mỹ La Tinh ở Hoa Kỳ trước giờ, quá nhiều thành phần gọi là undocumented, không có giấy tờ, mà vợ chồng con cái vẫn không hề hấn gì. Phương chi, cộng đồng người Việt cư trú bất hợp pháp ở Mỹ thì quá nhỏ so với cộng đồng bạn đó. Thạc sĩ Huy Tôn khẳng định là đừng mang tương lai của mình và con cái mình ra thách đố với pháp luật của quốc gia sở tại:
 
Sống bất hợp pháp tại Hoa Kỳ tôi nghĩ cái đó chỉ có thể được trả lời bởi từng đương đơn một. Tôi nghĩ mỗi người được quyền tìm cho mình cơ hội mưu cầu hạnh phúc, mưu cầu được nơi mà họ sinh sống và Mỹ là một đất nước có nhiều cơ hội. Tuy nhiên để phát triển để có cuộc sống an khang thịnh vượng thì các đương đơn này nên hợp thức hóa sự hiện diện của họ tại Hoa Kỳ vì điều này sẽ giúp cho giấc mơ của họ trở thành hiện thực.
Thanh Trúc

Friday, August 9, 2013

Vẽ giùm tôi một người Việt Kiều

Vẽ giùm tôi một người Việt Kiều
Cổ Ngư dịch (Dựa theo tác phẩm Cậu Hoàng Con cuả A. de Saint-Exupéry
Cậu Hoàng Con hỏi viên phi công đang bị lạc giưã sa mạc: «Nè, anh ơi, làm ơn vẽ giùm tôi một người Việt Kiều đi... » Lúng ta lúng túng, viên phi công bắt đầu câu chuyện.
1. Vẽ giùm tôi một người Việt Kiều
"Nước mắm", "Nhà quê" là những từ Việt Nam đã được ghi trong tự điển Larousse. Có thể người ta sắp ghi thêm từ "Việt Kiều". Nhưng làm thế nào mà tìm được một định nghiã thâu gồm tất cả những người sống rải rác từ Paris, Los Angeles, Londres, Sydney, Genève, Hồng Kông cho đến Ouagadougou? Và người Việt gốc Hoa, sinh trưởng ở Chợ Lớn, di cư sang Thụy Sĩ thì sao, sẽ được gọi là Việt Kiều, Hoa Kiều hay người Thụy Sĩ đây? Tôi hay nghe người Việt Kiều Pháp nói cái kiểu: «Nhớ ranger cái camembert vào trong frigo» [2] .
Việt Kiều Mỹ cũng chẳng kém: “Phải reheat cái hamburger vào trong microwave, power một” [3] . Thật tình, tôi cảm thấy dễ chiụ hơn khi nghe thằng bạn người Bourgogne léo nhéo: “Passe-moi du nước mắm pour que je m'en mette dans mon phở” [4] .

Như đã thấy, người Việt Kiều này sáng chế ra một thứ ngôn ngữ điạ phương để dễ dàng phân biệt với những người Việt Kiều khác. Vì vậy, phải phân biệt nhiều loại Việt Kiều, dù rằng nhìn bên ngoài thì họ có vẻ hao hao giống nhau.

Sau vấn đề định nghiã, còn có vấn đề bản sắc nưã. Là những kẻ hợp chủng, kết quả cuả sự giao lưu giưã các nền văn hoá, các thế hệ khác nhau,

chúng tôi không thể không tự hỏi: "Chúng tôi là ai?"

Và viên phi công vẽ cho Cậu Hoàng Con xem bức tranh "Việt Kiều số 1". Cậu Hoàng Con hỏi: “Nhưng mà, hai cái trục này có nghiã là gì vậy hả anh?”

Viên phi công trả lời: “Ðơn giản lắm, tôi vẽ cho cậu xem những người Việt Kiều theo từng đặc điểm khác nhau. Tuỳ theo nơi đang sống, họ có những lối suy nghĩ khác nhau. Những lối suy nghĩ này được thành hình từ hai phương diện

Một số Việt Kiều sống trong những xã hội mà, càng lớn tuổi, họ càng được người khác kính trọng. Ðối với những Việt Kiều khác, tuổi tác và sự kính trọng không nhất thiết phải đi đôi với nhau.

Một số vẫn giữ quan niệm sống Đông phương, một số khác lại có quan niệm sống Âu hoá hơn. Người Việt Kiều ở Hồng Kông chẳng hạn, anh ta vẫn sống ở Á châu, do đó, cách suy nghĩ cuả anh ta rất gần với luận lý Á đông. Nền tảng triết lý cuả anh ta là Nho giáo và vì vậy, anh ta thấm nhuần niềm kính trọng những bậc cao niên.

Người Việt Kiều Mỹ châu sống trong một xã hội Tây phương đua chen và rất năng động. Anh ta nói tiếng Anh, gọi ông nội hay cậu em út trong nhà đều là "you" cả và không quan trọng hoá lắm vấn đề phân thứ bậc theo tuổi tác.

Tại Pháp, người Việt Kiều sống trong một xã hội được xây dựng trên nền tảng những giá trị cuả nền cộng hoà Tây phương tiêu biểu. Ða số đã định cư lâu năm và khuôn mẫu gia đình họ khá giống với khuôn mẫu gia đình truyền thống. Cấu trúc gia đình cuả người Việt Kiều Pháp tương đối gần với cấu trúc gia đình ở Việt Nam.

Còn người Việt Kiều trở về Việt Nam sinh sống lại là một trường hợp ngoại lệ: một lần nưã, anh ta bị phương Đông cuốn hút và nhờ đó, tìm về nguồn cội. Tuy nhiên, trong suốt thời gian sống ở Âu Mỹ, anh ta bị gán cho cái nhãn quan cuả kẻ ít tôn trọng những bậc trưởng thượng.

Hình vẽ cuả tôi có nghiã như vậy đó!” Cậu Hoàng Con lắc lắc cái đầu, nhăn nhó: “Tôi không thích hình anh vẽ, gì mà chặt chẽ cứng ngắc hà! Việt Kiều đâu có thể phân loại như vậy được! Gốc gác với cả ngàn năm văn hoá, làm sao mà nhét vô mấy cái vòng tròn tròn này nổi! Vẽ giùm tôi cái hình khác đi!” Viên phi công thở dài, đành tiếp tục câu chuyện.

2. Việt Kiều và ngôi làng toàn cầu

Chàng thi sĩ nói rằng: Mỗi chuyến viễn du là một loạt những vắng mặt không tài nào tránh khỏi

Cứ ra đi và vắng mặt, điều đó sẽ đem nhiều bổ ích đến cho anh. (Michel Tournier) [5]

Lịch sử Việt Nam trải dài qua hàng ngàn năm chinh chiến, và đã gây nên một cuộc ly hương quan trọng nhất trong lịch sử hiện đại. Hứng chiụ một định mệnh tàn khốc, dân di tản đành tự ghép mình vào cuộc sống cuả những xứ sở có một nền văn hoá gần như hoàn toàn khác biệt. Cắn răng chiụ đựng, cuối cùng họ đã chứng tỏ một khả năng hội nhập kỳ diệu. Nhìn chung, người Việt Kiều ra đi trong những hoàn cảnh khó khăn. Dù là đất lưu đày hay chốn tạm dung, "sự ra đi và vắng mặt" cuả họ đôi khi lại nảy sinh những vấn đề mới: họ nhận ra rằng, muốn cho con cái hiểu mình, phải nói chuyện với chúng bằng ngôn ngữ cuả Rabelais hay cuả Shakespeare, rằng, con dâu tương lai cuả họ có khả năng mang tên Sophie hay Tracy hơn là Hoàng Lan hoặc Ánh Mây, rằng, hình như Grunge là một kiểu thời trang rất chiụ chơi..., tóm lại, rằng họ không tài nào định đoạt nổi số phận cuả con cái họ nưã.

Tuy nhiên, vượt lên trên những xung khắc giưã các thế hệ, giưã những nền văn hoá, thế hệ Việt Kiều thứ hai không ngờ rằng có thể mình đang gặt hái những thành quả chuyến viễn du cuả cha anh họ. Chúng tôi có thể đi khắp thế giới, và hầu như ở đâu, cũng được một ông Bác hay một bà Cô - nhiều khi chưa biết mặt - đón tiếp.

Ðến xứ lạ mà lại có cảm tưởng mình là khách mời thì quả sướng thật! Việc gặp gỡ những người Việt Kiều khác trên xứ lạ lần đầu tiên thật đáng xếp vào loại kịch bản "Gặp gỡ với người ngoài trái đất"! Vẫn luôn là câu hỏi then chốt: "Tôi phải nói bằng thứ tiếng gì để ông ta hiểu đây?" Tại sao không nói tiếng Việt ? Nhưng lỡ ông ta không nói được tiếng Việt thì sao? Thử nói tiếng Anh xem.

Rồi tôi bắt chuyện. Ông ta trả lời. Chắc ông ta cũng hiểu tôi chút chút. Chừng mười lăm phút sau, ông ta bắt đầu chêm vài từ tiếng Việt vào. Tôi đáp lại và chợt nhận ra rằng đã đột ngột chuyển cách xưng hô từ "you and me" thành ra "bác và cháu". Ðột ngột thiết lập một mối quan hệ có thứ bậc mà trước giờ chưa hề có! Ðiệu này, chỉ để liên lạc với Việt Kiều không thôi, chắc tôi phải làm một luận án xã hội học, ngành UFO [6] quá!

Tôi vui vui khi thấy rằng, cứ sau một chuyến du lịch, tôi lại có thêm một lô một lốc những họ hàng thân thích. Tôi tìm thấy nước Việt Nam không phải chỉ ở Hà Nội, mà còn ở cả Chicago, Londres, Berlin, Montréal hay Paris. Giờ đây, tôi đoan chắc là Việt Kiều đã sáng lập ra Ngôi Làng Toàn Cầu. Viên phi công vẽ bức tranh "Việt Kiều số 2". «Này, hình vẽ cậu muốn đây này!


Thôi để cho tôi yên nhé, tôi bận lắm!» Ngẫm nghĩ một lúc, Cậu Hoàng Con lại hỏi: «Nhưng mà... đây là cái gì vậy?» Viên phi công hết còn kiên nhẫn, gắt lên: «Là nơi mà mấy người Việt Kiều cuả cậu sinh sống đó!» «Tôi nhớ năm 1962, tổng thống Kennedy nói rằng, tất cả chúng ta đều là dân Berlin cả, còn anh, anh phi công ơi, bây giờ, anh lại nói, tất cả chúng ta đều là Việt Kiều hết trơn. Nhìn hình vẽ này, tôi vẫn chưa hiểu được Việt Kiều là cái quái gì cả!»

3. Những người Việt Kiều... đại thụ

Vội chưã cho xong chiếc máy bay, viên phi công nghĩ thầm: "Cái Cậu Hoàng Con này quái thật, tò mò cứ y như một thằng Tây con vậy..." Người Việt Kiều thích ứng nhanh chóng với môi trường chung quanh. Tôi đã từng gặp những người Việt Kiều sống dưới cái lạnh cắt da 40 độ âm ở Canada, và cũng đã gặp những người khác sống trong cái nóng nung người 50 độ dương ở Qatar. Việt Kiều Mỹ mê Filet-O-Fish cuả MacDonald's (dĩ nhiên, với một chút nước mắm) và có những Việt Kiều Anh đã thề sống thề chết với tôi là họ khoái bánh pudding và jelly (cũng ăn với nước mắm, tôi chiụ thua, không biết họ làm thế nào!).

Cái khả năng thích ứng kỳ diệu này, rốt cuộc cũng lại là con dao hai lưỡi: cố gắng hội nhập, che giấu nguồn cội, cuối cùng, người ta gần như muốn quên luôn nó đi. Nhưng kẻ khác, họ không có quên đâu! Có vẻ ngược ngạo khi nói rằng, nhờ kẻ khác mà người Việt Kiều mới chợt nhớ ra gốc gác cuả mình. Tôi mới đi Ấn Ðộ, nơi có khá ít người Ðông Á đến thăm viếng. Ðưá bé nào cũng hỏi tôi: "Anh ở đâu tới vậy? Ở Nhật hả?". "Không, ở Pháp đến. Tôi người Pháp mà!". Nhìn vào những đôi mắt tinh quái cuả chúng, tôi hiểu rằng câu trả lời này chẳng làm chúng ưng chút nào.

Cuối cùng, tôi đành chỉ vào mặt trăng trên trời và xạo với chúng: "Tôi từ cung trăng xuống đó". Trong đám nhóc, có lẽ chưa đưá nào có hân hạnh gặp chị Hằng hay chú Cuội, nên thế nào chúng cũng sẽ kháo nhau là ở trên đó, dân Nguyệt cầu ai ai cũng giống Lý Tiểu Long hết trơn! Cậu Hoàng Con nói với viên phi công: «Ðừng có hòng mà lưà được tôi! Tôi sống ở trển nên biết chắc người Mặt trăng đâu phải là Việt Kiều.» «Ai mà biết được, biết đâu... mai mốt...» Viên phi công xếp giấy bút sang một bên, nhìn Cậu Hoàng Con: «Này cậu bé ơi, bây giờ hãy tưởng tượng ra một cái cây, với mớ rễ thật dài cắm sâu vào lòng đất, với một thân cây sần sùi và đám cành nhánh toả rộng vươn cao, cuối cùng là những chiếc lá xanh tươi ở đầu cành mỗi độ xuân về.» «Nhưng... anh đang tả một cây đại thụ đây mà!» «Ừ, cũng được.

Người Việt Kiều gần giống như một cây đại thụ vậy đó. Họ cùng có chung một cội rễ đã cắm sâu vào mảnh đất phì nhiêu cuả lịch sử Việt Nam. Tất cả Việt Kiều đều có gốc Việt cả. Gốc Việt, hay gốc, trong tiếng Việt, vưà có nghiã là nguồn gốc một dân tộc, cũng vưà có nghiã là gốc cây nưã. Họ đã từng trải qua những cảnh thương khó, đó chính là thân cây sần sùi u nần. Rồi sau khi rời khỏi Việt Nam, họ toả đi khắp nơi như những cành nhánh kia, vươn rộng ra mọi hướng. Rồi thì, ở đầu cành, chồi non lá mới nảy sinh khi xuân đến, đó là những thế hệ Việt Kiều bé con được sinh ra tại hải ngoại. Chính chúng cũng sẽ là tương lai cuả Việt Nam, những thành viên hành động như những người Tây phương, nhưng vẫn mang nặng tâm hồn đông phương Việt tộc.» Cậu Hoàng Con nhắm mắt lại, mơ mộng và mỉm cười.

Cổ Ngư dịch (Dưạ theo tác phẩm Cậu Hoàng Con cuả A. de Saint-Exupéry

[1] ) -----------
[1]A. de Saint-Exupéry: nhà văn kiêm phi công người Pháp. Ông sinh năm 1900 ở Lyon và tử nạn trong một phi vụ năm 1944. Tác phẩm đã xuất bản: Bay đêm (Vol de Nuit - 1931), Ðất người (Terre des Hommes - 1939), Phi công thời chiến (Pilote de Guerre - 1942...). Cậu Hoàng Con (Le Petit Prince - 1943) là một loại truyện ngụ ngôn-triết lý dành cho mọi lứa tuổi (xem bản dịch của Bùi Giáng tong Tủ sách talawas). Các chú thíchtrong bài đều của người dịch.
[2]Nhớ cho miếng phô-mai camembert vào trong tủ lạnh.
[3]Phải hấp cái bánh nhân thịt trong lò vi ba, vặn số một.
[4]Ê, đưa nước mắm để tao rưới vô phở, mày!
[5]Trích trong "Gaspard, Melchior và Balthazar".
[6]UFO, viết tắt từ Unidentified Flying Object: vật bay chưa xác định (loại điã bay).

Nguồn: Nguyên tác tiếng Pháp "S'il-te-plaît, dessine moi un Viêt Kiêu" đăng trên báo Sampan Lychee, bản dịch tiếng Việt đăng trên tạp chí Chủ Đề

http://www.phiem-dam.com/cphiem142.htm

Wednesday, August 7, 2013

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam

Hà Nội tiếp tục chìm trong bão. Mưa to và kéo dài suốt ngày; nằm mãi ở nhà chán quá. Đang kỳ nghỉ không biết làm gì nên đọc tin cho khuây khỏa. Lâu lắm mới thấy một bài viết của bác Đỗ Hoài Nam, trước đây bác là Phó rồi là Chủ tịch Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam; hồi đó bác đã chủ trì một số nhóm nghiên cứu khoa học mà tôi có tham gia. Bạn nào đang học hành chính cao cấp hay chính trị cao cấp để thi lên chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp thì nên đọc bài này của bác để tham khảo, vì nó rất đúng đường lối phát triển chung chung, mù mờ, đầy mục tiêu và đầy mâu thuẫn hiện nay.
Vừa rồi lục tìm tài liệu cho bài "(1) Đánh giá tác động của các chính sách kinh tế đã áp dụng trong quá khứ", tôi thấy ở nhà còn nhiều sách in rất đẹp, được phát miễn phí hồi học các lớp hành chính cao cấp và chính trị cao cấp để thi chuyên viên cao cấp. Bạn nào thích thì tôi xin tặng lại.
Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
TCCSĐT - Sau gần 30 năm đổi mới, phát triển đất nước và trong bối cảnh toàn cầu hóa, khu vực hóa, hội nhập quốc tế ngày càng mạnh mẽ, nhiều vấn đề lý luận đang đặt ra cần phải được làm sáng tỏ. Bài viết dưới đây sẽ đề cập tới một số quan điểm về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.
GS, TS Đỗ Hoài Nam
Nền kinh tế thị trường Việt Nam đang từng bước tạo dựng là nền kinh tế thị trường hiện đại

Trên tinh thần đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế và trên cơ sở tổng kết những thành công, yếu kém, khuyết điểm và bài học kinh nghiệm trong những bước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta đã xác định kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ và hiện đại là tiền đề quan trọng thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô.

Nền kinh tế này trước hết phải tuân thủ nghiêm ngặt yêu cầu của những quy luật khách quan của kinh tế thị trường. Đó là hệ thống đầy đủ, đồng bộ các loại thị trường và các chủ thể thị trường, tự do cạnh tranh; giá cả được định đoạt trên thị trường tùy thuộc vào quan hệ cung - cầu và độ khan hiếm hàng hóa; các nguồn lực phát triển được phân bổ chủ yếu theo những tín hiệu của thị trường; nhà nước tôn trọng những quy luật của thị trường, tạo điều kiện, môi trường để kinh tế thị trường vận hành bình thường, sử dụng các công cụ thị trường là chủ yếu để quản lý và sẵn sàng can thiệp, điều tiết một khi có thất bại của thị trường,…

Nền kinh tế thị trường hiện đại là nấc thang cao trong lịch sử phát triển kinh tế thị trường, vì thế ngoài những đặc trưng mang tính phổ quát của nền kinh tế thị trường tự do, nền kinh tế thị trường hiện đại ngày nay còn mang một số đặc trưng mới. Đó là:

Thứ nhất, nền kinh tế thị trường hiện đại phải dựa trên nền tảng sở hữu hỗn hợp của các chủ thể thị trường. Trong nền kinh tế này, sở hữu hỗn hợp dựa trên chế độ cổ phần phải chiếm ưu thế phổ biến. Bởi vì, sở hữu hỗn hợp chiếm ưu thế phổ biến là kết quả xã hội hóa sản xuất và xã hội hóa sở hữu ở trình độ cao do yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học, công nghệ và trình độ quản lý. Hình thức sở hữu này đang ngày càng phát triển, từng bước vượt qua biên giới của một quốc gia và gắn liền với sự phát triển mạnh của các công ty đa quốc gia, xuyên quốc gia.

Thứ hai, nền kinh tế thị trường hiện đại phải dựa trên những thành tựu của khoa học, công nghệ hiện đại và kinh tế tri thức - một trong những nhân tố quyết định trực tiếp đến sự giàu mạnh, văn minh của mọi quốc gia.

Thứ ba, nền kinh tế thị trường hiện đại phải có cơ cấu, trong đó những lĩnh vực sau phải hiện đại, đó là: công nghiệp - thị trường, hệ thống kết cấu hạ tầng, các ngành dịch vụ cao cấp (đặc biệt là dịch vụ tài chính và ngân hàng). Ngoài ra, nông nghiệp và nông thôn về cơ bản phải được phát triển trên nền tảng công nghiệp và thị trường hiện đại; kinh tế tiền tệ và kinh doanh tiền tệ là phổ biến, được vận hành bởi thể chế tiền tệ hiện đại với sự độc lập của Ngân hàng Trung ương; doanh nghiệp cổ phần có chế độ quản trị hiện đại.

Thứ tư, nền kinh tế thị trường hiện đại dựa trên nguồn nhân lực chất lượng cao, làm chủ được khoa học và công nghệ với trình độ quản lý hiện đại.

Trong nền kinh tế này, “công nhân cổ trắng” có trình độ đại học là phổ biến và các trường đại học, viện nghiên cứu triển khai được phát triển thành doanh nghiệp của ngành công nghiệp không khói. Số nhân viên làm việc cho phòng nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu triển khai và các vườn ươm công nghệ mới của chính phủ hoặc của công ty từng bước sẽ nhiều hơn số công nhân đứng máy trực tiếp tại các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp.

Thứ năm, nền kinh tế thị trường hiện đại được vận hành bởi thể chế thị trường, thể chế quản lý nhà nước và chế độ quản trị công ty hiện đại.

Nền kinh tế thị trường hiện đại đòi hỏi phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhà nước - thị trường - doanh nghiệp nhằm thỏa mãn những yêu cầu phát triển trong bối cảnh hiện đại dưới tác động trực tiếp của toàn cầu hóa, cách mạng khoa học - công nghệ, kinh tế tri thức và xã hội thông tin. Nền kinh tế này cũng đòi hỏi phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự trong điều kiện cụ thể và đặc thù về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa, con người nhằm thực hiện tốt mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia.

Thứ sáu, nền kinh tế thị trường hiện đại phải dựa trên hệ thống an sinh xã hội hiện đại và một hệ thống phúc lợi vì mục tiêu phát triển con người. Hệ thống an sinh xã hội và phúc lợi xã hội này được xây dựng bằng sự đóng góp của chủ doanh nghiệp, người lao động, nhà nước và các tổ chức xã hội dân sự nhằm hỗ trợ người lao động, đặc biệt là người nghèo trước những biến động và rủi ro của thị trường do tác động ngày càng lớn của toàn cầu hóa và biến đổi khí hậu.

Về mặt lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn của thế giới đã được kiểm chứng và khẳng định, kinh tế thị trường là phương tiện tốt nhất để tạo lập cơ sở và sức mạnh kinh tế cho sự phát triển của mỗi quốc gia. Kinh tế thị trường càng hiện đại và được vận hành có hiệu quả thì sức mạnh kinh tế do nó tạo ra càng lớn. Kết luận này đúng cho mọi quốc gia và Việt Nam không là một trường hợp ngoại lệ.

Những thành tựu trong gần 30 năm đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh nền kinh tế thị trường ở nước ta từng bước được xây dựng, phát triển và về cơ bản đang được vận hành có hiệu quả, đóng góp ngày càng nhiều vào quá trình phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ”. Trong quá trình này, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế thị trường, phát triển và quản lý kinh tế thị trường đã được làm rõ, cung cấp cơ sở khoa học cho những quyết định về chủ trương, đường lối, cơ chế và chính sách phát triển của Đảng, Nhà nước. 

Tuy nhiên, đến nay vẫn còn không ít vấn đề vướng mắc chậm được luận giải, đang được coi là kìm hãm sự phát triển của sức sản xuất, thí dụ như vấn đề quan hệ giữa nhà nước - thị trường - doanh nghiệp,... Ngoài ra, trong bối cảnh mới như tình hình sau khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008, khủng hoảng nợ công ở châu Âu,… đã nảy sinh nhiều vấn đề mới. Vì vậy, cần tiếp tục có những đột phá mới về tư duy lý luận để giải quyết những vướng mắc từ thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Một số vấn đề đặt ra trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam được cấu thành bởi hai thành tố là kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa. Hai thành tố này có quan hệ tương tác với nhau, phản ảnh tính phổ biến, tính đặc thù và đòi hỏi phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phổ biến và đặc thù trong quá trình phát triển và quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Nhìn lại gần 30 năm phát triển và quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, không phải lúc nào mối quan hệ giữa tính phổ biến là kinh tế thị trường và tính đặc thù là định hướng xã hội chủ nghĩa cũng được giải quyết tốt. Trong phát triển và quản lý nền kinh tế thị trường, một mặt, nhiều đòi hỏi khách quan từ các quy luật của kinh tế thị trường chưa được giải quyết thỏa đáng và mặt khác, nhiều vấn đề phản ánh bản chất, đặc trưng cơ bản của tính định hướng xã hội chủ nghĩa cũng chưa được coi trọng đúng mức. Có khi chúng ta chỉ vì quá nhấn mạnh đến bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa nên đã không bảo đảm được những quy luật khách quan của kinh tế thị trường và ngược lại chỉ đơn thuần coi trọng thị trường, chạy theo các mục tiêu tăng trưởng kinh tế mà hy sinh mục tiêu xã hội và phát triển con người. Trong tư duy của một số người dường như vẫn có sự không thanh thoát, thậm chí còn mâu thuẫn khi giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Từ nhận định tổng quát trên, chúng tôi cho rằng trong giai đoạn 2013 - 2018 cần phải: 

- Phát triển nền kinh tế thị trường đầy đủ theo hướng hiện đại trên cả hai phương diện kết cấu và thể chế.

- Định hình rõ nét hơn và tạo sự đồng thuận xã hội rộng lớn hơn về những nội dung biểu hiện định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường xét cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn.

Những vấn đề mang tính phổ biến mà Việt Nam cần giải quyết để hình thành nền kinh tế thị trường hiện đại gồm:

a. Phải hình thành đầy đủ và đồng bộ các loại thị trường, tôn trọng các quy luật của thị trường và giải quyết hài hòa mối quan hệ nhà nước - thị trường - doanh nghiệp; chủ động và tích cực hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và khu vực.

b. Phát triển và quản lý có hiệu quả nền kinh tế thị trường hiện đại với những đặc trưng cơ bản, mang tính phổ biến đối với tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị. Thiếu những đặc trưng cơ bản này thì nền kinh tế thị trường ở Việt Nam không thể được coi là kinh tế thị trường hiện đại.

Về định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường hiện đại ở Việt Nam

Định hướng xã hội chủ nghĩa phản ánh tính đặc thù của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam vừa phải được phát triển theo những quy luật khách quan của kinh tế thị trường, vừa phải được định hướng, điều tiết và giám sát cho phù hợp với bản chất và những nguyên tắc của một xã hội đang từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sự phù hợp với bản chất và những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam là một quá trình lâu dài, từ chưa đầy đủ, chưa hoàn thiện đến đầy đủ, hoàn thiện. Việc nhận diện đúng trạng thái phát triển của xã hội trong từng giai đoạn trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam để từ đó có những quyết sách phát triển và quản lý phù hợp, tránh ngộ nhận có thể dẫn đến sai lầm duy ý chí, siêu hình là rất quan trọng.

Một trong những vấn đề quan trọng là sự cần thiết phải cụ thể hóa những nội dung cơ bản phản ánh định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển đất nước nói chung và phát triển kinh tế thị trường nói riêng. Ở nước ta, điều này lần đầu tiên đã được chính thức luận giải khái quát trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX và được nhắc lại ở Đại hội Đảng lần thứ X. Từ đó cho đến nay vẫn chưa có những bước tiến mới trong việc tiếp tục cụ thể hóa những nội dung phản ánh tính định hướng này. Do đó, đây là điều cần phải nghiên cứu và giải quyết.

Xã hội Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam không phải là tư bản chủ nghĩa nhưng trong nhiều thập niên nữa cũng chưa phải là xã hội chủ nghĩa, mà là định hướng xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định những định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại để phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Những định hướng lớn này bao gồm cả những nội dung phát triển mang tính phổ biến, có giá trị chung toàn cầu, lẫn những nội dung phát triển đặc thù của Việt Nam, nhất là những nội dung có liên quan đến định hướng chính trị của sự phát triển. Song, những nội dung đó cần phải được tiếp tục bổ sung mới, hoàn thiện, cụ thể hóa và thể chế hóa nhằm đáp ứng những đòi hỏi của đất nước ở từng giai đoạn phát triển dưới tác động ngày càng trực tiếp và mạnh mẽ của toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế; của kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự. 

Tính định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường, nhìn trên tổng thể cũng còn bị chi phối bởi những định hướng lớn về phát triển đất nước, đặc biệt là những nội dung phản ánh định hướng chính trị mà Đảng ta đã quyết định. Mặt khác, cũng cần nhấn mạnh, những nội dung của định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường cũng chịu chi phối bởi tính chất của nền kinh tế Việt Nam - một nền kinh tế chưa phải là xã hội chủ nghĩa, mà mới đang từng bước quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. 

Hiện tại, chưa ai có thể hình dung được trước một vài thập niên tới về nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cho dù là trên những nét tổng quát nhất. Nhưng, có một điều cần khẳng định rằng, nền kinh tế định hướng xã hội chủ nghĩa và nền kinh tế xã hội chủ nghĩa rất khác nhau về trình độ phát triển. Vì thế, về mặt nhận thức, tư duy và quan điểm cần chú ý rằng, nhiều nội dung phản ánh tính chất xã hội chủ nghĩa mà chúng ta kỳ vọng sẽ chưa thể và không thể thực hiện được trong nền kinh tế đang được phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chỉ có thực tiễn mách bảo và trên cơ sở tổng kết thực tiễn ở từng giai đoạn phát triển đất nước tiếp nối nhau dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mới có thể tìm được lời giải đáp cho vấn đề này. Làm khác đi là không biện chứng, là duy ý chí, siêu hình.

Để góp phần cụ thể hóa định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường, hay nói một cách khác là luận giải bản chất của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, chúng tôi ngày càng theo đuổi cách tiếp cận về định hướng chính trị của mục tiêu phát triển và những mối quan hệ lớn, những nhân tố cơ bản tác động đến việc thực hiện định hướng chính trị của mục tiêu phát triển đất nước. Cách tiếp cận này cũng đòi hỏi phải phân biệt rõ mục tiêu và phương tiện thực hiện mục tiêu. Phải kiên định theo định hướng chính trị của mục tiêu phát triển đất nước đã lựa chọn. Đó là nguyên tắc bất biến. Còn việc quyết định phương tiện để thực hiện mục tiêu thì phải căn cứ vào yêu cầu của thực tiễn và hiệu quả thực hiện, chứ không phụ thuộc vào những mong muốn kỳ vọng, chủ quan duy ý chí. Định hướng chính trị của mục tiêu phát triển đất nước, những mối quan hệ lớn cần phải giải quyết trong quá trình phát triển này và sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân quyết định bản chất khác biệt và phản ánh nội dung định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường Việt Nam, còn các phương tiện để đạt mục tiêu thì không.

Theo chúng tôi, nội dung của định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam được thể hiện như sau:

- Phát triển kinh tế thị trường phải nhằm góp phần thực hiện mục tiêu phát triển đất nước là từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, làm cho “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do nhân dân làm chủ”. 

Bằng phát triển kinh tế thị trường hiện đại, từng bước tạo lập những cơ sở kinh tế kỹ thuật cần thiết cho phát triển đất nước theo hướng hiện đại trong nhiều thập niên tới, trước mắt là đến năm 2020 về cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, đến giữa thế kỷ này trở thành nước công nghiệp hiện đại. Chỉ có trên cơ sở đó mới làm cho dân giàu, nước mạnh, có điều kiện kinh tế để giải quyết tốt những vấn đề dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân làm chủ.

- Giải quyết tốt những mối quan hệ lớn trong quá trình thực hiện mục tiêu phát triển đất nước ở từng giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Những mối quan hệ lớn này phải cấu thành những nguyên tắc phản ánh đặc thù quốc gia trong phát triển và quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đó là quan hệ hài hòa giữa đổi mới, ổn định và phát triển đất nước; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giữa giữ vững độc lập, tự chủ trong phát triển và chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, hợp tác phát triển; giữa tuân thủ tính quy luật và coi trọng tính đặc thù quốc gia trong phát triển kinh tế thị trường hiện đại, định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện phân bổ thành quả tăng trưởng bảo đảm tạo động lực, công bằng và tiến bộ xã hội; giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội, văn hóa, bảo vệ và làm giàu môi trường theo yêu cầu phát triển bền vững.

- Bảo đảm hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình phát triển đất nước nói chung và phát triển kinh tế thị trường hiện đại. 

Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một thành tố nội tại của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là cái đặc thù, riêng có của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam và phản ánh sự khác biệt về bản chất so với những nền kinh tế thị trường khác trên thế giới. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân dưới sự lãnh đạo của Đảng có bản lĩnh và trí tuệ đồng thời cũng là nhân tố quan trọng nhất để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam./.

Đỗ Hoài NamGS, TS. Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ươnghttp://www.tapchicongsan.org.vn/Home/Nghiencuu-Traodoi/2013/22900/Phat-trien-nen-kinh-te-thi-truong-dinh-huong-xa-hoi-chu.aspx
Giáo sư, tiến sĩ Đỗ Hoài Nam (sinh 1949) là Ủy viên Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX (2001-2006) và X (2006-2011), đại biểu Quốc hội Việt Nam các khóa khóa 11, thuộc đoàn đại biểu Lâm Đồng.[1]

Ông nguyên là Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam từ năm 2003 đến năm 2011. Hiện ông là Phó Chủ tịch Hội đồng lý luận trung ương, Chủ tịch Hội đồng Học viện Khoa học Xã hội.

Sunday, August 4, 2013

Phụ nữ Việt thua xa phụ nữ Tây về mọi khoản!

Phụ nữ Việt thua xa phụ nữ Tây về mọi khoản!
Trước khi đòi hỏi đàn ông Việt, chê bai đàn ông Việt để chạy theo đàn ông Tây, chị em Việt cũng nên nhìn lại bản thân mình. Thực ra, nồi nào thì úp vung nấy. Cũng chỉ có đàn ông Việt mới chịu được tính khí khó chịu của phụ nữ Việt. Chứ đàn ông Tây mà nhìn thấu bản chất, chắc họ cũng chạy mất dép!
Đàn ông Việt dạo này bị xuống giá quá thể. Cứ lên internet là thấy nhan nhản các chị em kêu lấy chồng Tây sướng, rồi chỉ có chồng Tây mới xứng với phụ nữ Việt.
Là một người sinh sống ở cả Việt Nam và Mỹ một thời gian dài, tôi cảm thấy hình như các chị em Việt đang quá nâng tầm bản thân thì phải. Các chị em nghĩ chồng Tây dễ lấy thế sao? Thực tế, phụ nữ Việt so với phụ nữ Tây còn thua nhiều điểm lắm.
Thứ nhất, so về ngoại hình. Công bằng mà nói, tôi thấy từ cái dáng đến khuôn mặt đều thua bét. Mắt một mí, mũi tẹt sao so được với mắt to, mũi cao. Người Việt ta phụ nữ có dáng nhỏ thó, ngực nhỏ, nhìn làm sao cuốn hút và hấp dẫn như các phụ nữ Tây nảy nở.
Thứ hai, so về tính cách, tôi càng có thể kể ra cả rổ những thứ chị em ta thua xa chị em Tây.
Phụ nữ Việt vẫn vỗ ngực tự hào là họ đảm đang, hiền dịu, giàu đức hy sinh. Chuyện này chỉ đúng với đời các bà, các mẹ ngày xưa mà thôi. Còn chị em bây giờ vụng về thấy ớn, đã thế còn hay kêu ca, đòi hỏi.

Sang Tây mới biết phụ nữ Tây đảm đang gấp ngàn lần phụ nữ Việt. Người nước ngoài được sống tự lập, cho nên việc nhà họ rất rành, nấu ăn ngon kinh khủng luôn. Mà món ăn Tây lằng nhằng, rắc rối, công phu lắm chứ không đơn giản như đồ ăn Việt, cứ xào, đổ mắm, đổ nước vào là xong. Nhiều cô còn làm bánh mì, bánh ngọt nhoay nhoáy ấy.

Mà phụ nữ Tây không có chuyện vừa làm vừa kêu ca như chị em Việt đâu. Tôi có vài người bạn Việt Nam đã lấy vợ, nghe các cậu ấy than thở về vợ cũng thấy ớn. Lúc nào các cậu đó cũng bị vợ lấy lý do làm việc nhà hầu hạ chồng ra để làm cao, để chất vấn. Phụ nữ Tây không như vậy, họ rất vui vẻ khi nấu nướng cho những người mà mình yêu thương. Đã kêu ca thì họ không làm.

Họ không bao giờ quản chuyện tiền nong của chồng như các chị em Việt hay làm. Chỉ cần góp đủ sinh hoạt phí và lo được cho con cái là ổn. Còn đâu tiền ai nấy giữ, muốn làm gì thì làm. Đâu có khổ sở như đàn ông Việt, tiền mình làm ra mà lại phải giấu giếm như là tiền đi ăn cắp, phải quỹ đen quỹ đỏ khắp mọi nơi.

Riêng về điểm này, tôi thấy phụ nữ Việt rất vô lý. Họ không có sự tôn trọng tối thiểu đối với chồng. Nên nhớ vợ chỉ là người bạn đời chứ không phải là mẹ mà o ép, quản thúc chồng trắng trợn. Có nhiều chị em còn khùng điên tới mức tịch thu hết tiền lương của chồng rồi hàng ngày phát tiền cho chồng như kiểu mẹ phát tiền quà sáng cho con trước khi đi học. Tôi thấy thật dấm dớ hết chỗ nói.

Về đức hy sinh, tôi thấy phụ nữ Tây đầy người hy sinh còn hơn phụ nữ Việt. Bạn bè Tây của tôi có mẹ ở nhà nội trợ rất nhiều, hy sinh toàn bộ sự nghiệp cho chồng con. Mà cái quý là họ không cho đó là hy sinh, họ tự nguyện và coi công việc ở nhà chăm sóc con cái, gia đình là một công việc cao cả.

Các bà mẹ Tây rất giỏi. Một nách 3, 4 con vẫn nuôi con khôn lớn, đẹp đẽ, giỏi giang, không một lời than thở kêu ca như bà mẹ Việt. Chứ như mấy bà mẹ trẻ người Việt á, nuôi con mình mà làm như đang đi trả nợ, kêu than ầm ĩ, rồi gắn cho mình một hình tượng vĩ đại.

Mà tôi ghét nhất cái kiểu phụ nữ Việt cứ lấy cái cớ sinh con vất vả, sinh con đau đớn ra để hành hạ và đòi hỏi đàn ông. Cứ làm như đứa con ấy chỉ là con của bọn đàn ông chứ không phải là con của các chị. Đẻ con ra, được làm mẹ thì phải lấy đó làm điều hạnh phúc thiêng liêng. Cớ sao lại dùng đứa con đứt ruột đẻ ra làm lý do uy hiếp chồng thế?

Phụ nữ Tây cũng đáng yêu hơn phụ nữ Việt. Họ vui vẻ, thân thiện, xởi lởi, cư xử thật lòng. Chứ phụ nữ Việt cáo già lắm. Bên ngoài tươi cười như hoa nhưng bên trong tính toán.

Phụ nữ Việt luôn nghi ngờ, luôn đề phòng tất cả những người xung quanh, đặc biệt đối với chồng và gia đình chồng. Một điểm nữa là phụ nữ Tây không biết nói khích, nói xéo như phụ nữ Việt. Có gì không vừa lòng thì họ bảo thẳng, bàn bạc cách giải quyết sao cho hợp lý, fairplay. Đâu có như các chị em phụ nữ ở đây, nếu không được như ý mình là y như rằng sẽ đá thúng đụng nia, sưng xỉa cả ngày. Nhìn cảnh ấy tôi thấy ớn lắm.

Đi chơi với phụ nữ nước ngoài sướng một cái là họ rất hiểu chuyện. Không hiểu người Việt ta lấy đâu ra quan niệm là đàn ông phải lo kinh tế, đàn ông đi đâu cũng phải trả tiền dù chỉ là bạn bè, đồng nghiệp bình thường. Nếu không trả sẽ bị quy vào dạng ki bo, thậm chí còn bị bảo là đàn bà.

Vô hình chung, gánh nặng tiền bạc đặt lên vai đàn ông rất nhiều. Nhưng chị em Tây không như vậy. Họ share tiền, bình đẳng. Phụ nữ bên đó không có thói quen đào mỏ, ỷ lại như phụ nữ Việt Nam.

Mặt thứ ba mà tôi muốn nói tới là khía cạnh tế nhị. Đó là "chuyện ấy".

Phụ nữ Việt còn nhiều quan niệm bảo thủ trong sex và không giỏi bằng phụ nữ nước ngoài. Mặt khác, họ cũng hay lười tập thể dục nên thường sức khỏe rất yếu và thiếu sự chủ động chốn phòng the.

Nhiều chị em Việt khen đàn ông Tây thoáng, không để ý chuyện trinh tiết. Tuy nhiên, người nước ngoài rất coi trọng sự chung thủy trong tình yêu. Đối với họ, sự đồng điệu về tinh thần rất quan trọng, người yêu phải là tri kỷ của họ.

Phụ nữ Việt không thế. Cái mà người Việt quan trọng lại là sự chung thủy về thể xác, còn tinh thần thì lại rất hay phản bội. Biểu hiện là họ thường xuyên đứng núi này trông núi nọ, so sánh người đàn ông của mình với người khác. Điều này tôi đánh giá là tệ hơn nhiều so với ngoại tình thể xác.

Yêu phụ nữ Việt cũng rất mệt mỏi. Một là yêu mà không được đụng đến, yêu chay, tình yêu chẳng khác gì tình bạn. Còn nếu lỡ đụng đến họ rồi thì họ lại bắt đàn ông phải chịu trách nhiệm, biến chuyện tình yêu trở nên nặng nề, trở thành gông cùm trói chân, rất nhàm chán.


Tôi thích cách yêu của phụ nữ Tây. Họ thoải mái, thậm chí có thể sống chung với người yêu. Thật ra họ không hề buông thả chút nào, mà là họ rất cẩn thận. Họ muốn xem xét mọi khía cạnh xem có phù hợp hay không rồi mới tiến đến hôn nhân, một việc đại sự cả đời, mới ký vào bản cam kết ràng buộc nhau về pháp luật.

Nói tóm lại, trong cảm nhận của tôi, phụ nữ Tây tốt hơn phụ nữ Việt rất nhiều. Bạn gái hiện tại của tôi cũng là người Mỹ. Ở bên cô ấy thoải mái, vui vẻ hơn nhiều so với bạn gái người Việt trước đây của tôi.

Tôi nghĩ trước khi đòi hỏi đàn ông Việt, chê bai đàn ông Việt để chạy theo đàn ông Tây, chị em Việt cũng nên nhìn lại bản thân mình. Thực ra, nồi nào thì úp vung ấy. Cũng chỉ có đàn ông Việt mới chịu được tính khí khó chịu của phụ nữ Việt. Chứ đàn ông Tây mà nhìn thấu bản chất của chị em Việt Nam, chắc họ cũng chạy mất dép!

Nguồn: Trí Thức Trẻ

Friday, August 2, 2013

Vài điều tối kỵ khi chơi với người Việt !

Vài điều tối kỵ khi chơi với người Việt !

Không bao giờ được o ép người Việt, kiểu như một số nước lớn ngày xưa bắt ép Việt Nam phải chọn ai đó làm đồng minh chiến lược. Hậu quả thế nào ai cũng đã rõ : O ép người Việt quá đáng sẽ chạm vào cái tật xấu của Việt: Rất cứng đầu cứng cổ; bị ép chắc chắn sẽ bật lại. Phải để bọn tớ thở chút chứ.
Không bao giờ được bao trọn gói với người Việt. Hãy để người Việt tự lực làm những gì thuộc khả năng và điều kiện của người Việt .Hãy để người Việt phát huy năng lực của mình, bạn tốt thì hãy ủng hộ chút xíu, đúng lúc, đúng chỗ và có mức độ thôi . Nếu bạn muốn Việt Nam suy yếu, hãy viện trợ toàn bộ. Người Việt sẽ ỷ lại và coi nhã ý bao sân của bạn là "Lộc", lúc đó thì sự sụp đổ của người Việt là chắc chắn. 


Đừng bao giờ tự nhận làm đại ca của người Việt. Nếu không bạn sẽ chết lúc nào không biết. Nếu bạn thật sự có tư cách để làm đàn anh của Việt Nam, hãy để người Việt tự nhận ra điều đó và tự giác gọi bạn là " đại ca " một cách tâm phục khẩu phục. Vỗ ngực bề trên trước mặt người Việt bạn có thể nhận được 1 nụ cười e thẹn nhưng cẩn thận, bạn có thể bị " xiên " lúc nào không biết. Người Việt chúng tớ có cái tính đố kị và không muốn thằng nào ngồi trên đầu cả... Làm anh người Việt khó lắm, phải thực sự người lớn cơ.

Cẩn trọng khi tặng quà người Việt. Bạn tặng người Việt Nam 1 món quà, người Việt sẽ ngay lập tức tự hỏi" sao nó lại tốt với mình thế nhỉ , nó muốn cái gì ở mình đây ? ". Tốt nhất là hãy cho Việt Nam biết bạn cần gì và bạn muốn gì trước khi quà cáp cho người Việt. Nhưng đừng sỗ sàng quá, phải ý tứ 1 chút ... Có đi có lại mới toại lòng nhau. Chơi vậy mới bền.

Chuyện toàn vẹn lãnh thổ hay đổ máu nơi biên ải hãy để người Việt tự lo, đừng có xía vào. Đây là những điều tối kỵ. Động cơ để người Việt chiến đấu bảo vệ tổ quốc, tồn vong của dân tộc là tấm gương của tổ tiên từ hàng ngàn đời nay. Họ chưa bao giờ biết khuất phục ngoại bang. Vài lời khuyên hay kích động của người ngoài, dù bạn có tốt bằng trời, cũng chẳng có tác dụng gì. Hãy để máu người Việt đổ trên đất Việt Nam nếu người Việt thấy điều đó là cần thiết để bảo vệ tổ quốc mình

Hãy giúp người Việt chứ đừng bao giờ làm việc của người Việt thay người Việt. Nếu ngược lại, tất cả các bên đều sụp đổ.


Đối với người Việt ai làm bá chủ thế giới không quan trọng, cái quan trọng là không được xâm phạm đến chủ quyền lãnh thổ của người Việt. Đụng tới lãnh thổ Việt Nam sẽ chỉ có duy nhất một con đường: Cùng nhau đối mặt trên chiến trường. Lúc đó thì đại ca số 1 cũng chỉ khỏe như thằng khố rách áo ôm mà thôi... !!!

Đừng bao giờ đánh nhau với Việt Nam! Lỗ chứ chẳng lời đâu! Nhìn mấy thằng to đầu là biết liền! Hãy để người Việt cười,đừng để người Việt khóc,vì khi khóc rồi thì họ chẳng biết sợ thằng to đầu nào cả! Không tin thì đi hỏi thằng Trung Quốc và chính bản thân anh Mẽo "vĩ đại" 

Ở đất nước này người cầm đầu nhà nước chưa chắc đã là người giỏi nhất và là người thực sự làm việc. Do đó đến Việt Nam chỉ nên nói ít với lãnh đạo của họ thôi. Nên gặp và nói chuyện trực tiếp với những người đang thực sự làm việc.

Người Việt có tật nói mà không làm, làm mà không nói. Đặc biệt kỹ năng 
chém gió của họ càng ngày càng cao. Do đó đừng nghe họ nói mà phải nhìn xem họ đang làm gì

Không thể coi người Việt là con tốt thí. Dù bạn đang coi họ là con tốt cũng không được tỏ ra như thế.

Tóm lại: Nhìn cái thân hình chữ S  uốn éo của Việt Nam, phải hiểu đấy là cái lò xo. Đụng vào nó là nó bật thẳng vào mặt chứ chả cân nhắc gì đâu.

Wednesday, July 31, 2013

Mỹ tửu của người Dao đỏ

Mỹ tửu của người Dao đỏ
Người Dao đỏ Nậm Cần có cách làm men nấu rượu khá công phu. Một năm chỉ có hai ngày là có thể vào rừng hái lá về làm men được là vào tiết Thanh Minh và Cốc Vũ. Người Dao quan niệm chỉ có hai ngày đó làm men mới tốt, mới được rượu và có rượu ngon.Nếu rượu ngô của người Mông ở Bản Phố (huyện Bắc Hà) độc đáo bởi men lá được chiết xuất từ cây hồng mi, rượu thóc Shan Lùng của người Dao đỏ ở Bản Xèo (Bát Xát) bởi cách thức ngâm ủ thóc và chế biến men theo cách riêng... thì người Dao đỏ ở Nậm Cần (huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai) cũng có những bí quyết độc đáo trong cách làm men rồi ngâm ủ và nấu rượu nếp đặc sản.
Bí quyết nấu rượu của người Dao đỏ
Từ thị trấn Khánh Yên ngược dốc men theo con đường đất rải cấp phối uốn lượn ngang lưng núi, chúng tôi đã đặt chân đến Nậm Cần, bản người Dao đỏ. Tại đây, chúng tôi ghé vào nhà chị Đặng Thị Mùi, một hộ người Dao nấu rượu có tiếng ở đây. Và thật trùng hợp là hôm nay gia đình chị đang nấu rượu. 
Chị Đinh Thị Mùi đang chưng cất rượu. Ảnh: Kiều Lê.
Mùi hương nồng của rượu quyện lẫn với khói bếp, tạo nên một hương vị thật đặc trưng. Đưa chúng tôi xuống bếp, nơi chõ rượu vẫn đang ùng ục sôi trên bếp lửa đỏ, từ ống nứa gắn vào chõ nấu rượu chảy ra chum một thứ nước trong vắt, nóng hổi, bốc khói với hương thơm ngào ngạt. Nhấp thử một ngụm rượu, không cay xộc, có vị ngọt và mùi thơm rất lạ mà có lẽ người không sành rượu như chúng tôi cũng có thể phân biệt được nếu đã nếm rượu nếp Nậm Cần.

Trò chuyện với chúng tôi, chị Mùi không giấu diếm bí quyết nấu rượu của gia đình, chị cho biết: "Từ nhỏ ở nhà với bố mẹ đã biết nấu rượu rồi. Lớn lên, lấy chồng và vẫn nấu rượu cho gia đình như vậy. Cách làm không khó đâu. Gạo nếp đem xôi lên, sau đó rửa bằng nước lã cho nguội, cho khỏi dính rồi ủ men. 3 ngày sau cho vào chum, rồi đổ nước lã vào ngâm tiếp, chừng 11 ngày trở đi thì đem ra chưng cất rượu...".

Nhưng chúng tôi hiểu một điều rằng, tuy cách ngâm ủ và chưng cất cũng khá đơn giản, song để có được thứ men lá dùng để ngâm ủ kia là cả một kho tàng tri thức bản địa chứa ở trong đó.

Men lá bí truyền của người Dao đỏ

Theo chị Mùi, người Dao đỏ Nậm Cần có cách làm men nấu rượu khá công phu. Một năm chỉ có hai ngày là có thể vào rừng hái lá về làm men được là vào tiết Thanh Minh và Cốc Vũ. Người Dao quan niệm chỉ có hai ngày đó làm men mới tốt, mới được rượu và có rượu ngon. Lá làm men được hái từ trên rừng, có rất nhiều loại.

Do người già truyền lại từ đời ông bà, đến bố mẹ, cũng chả biết tên gọi là gì, nhưng vào rừng lấy thì sẽ biết. Vì là phụ nữ Dao ai cũng biết hái lá về làm men nấu rượu như vậy. Tùy theo từng gia đình mà chế biến ra loại men lá khác nhau với vị đặc trưng riêng. Thế nên, uống rượu ở Nậm Cần thấy mỗi nhà có một mùi thơm khác nhau cũng là điều dễ hiểu.

Chị Mùi cho biết thêm: "Có tới 30 loại lá có thể dùng để làm men. Phụ nữ vào rừng hái mỗi cây chỉ vài lá. Công đoạn làm men khá cầu kỳ. Sau khi hái lá cây trên rừng về, đem đun lấy nước trộn với cám gạo, cho men cái vào, nắm thành quả to tròn bằng hai bàn tay nắm lại. Tiếp đến là ủ mốc men rồi đem hong lên gác bếp. Từ lúc làm men đến ngày có thể dùng ngâm ủ rượu được phải mất 3 tháng".

Trèo thang leo lên sàn gác bếp, chị Mùi lấy ra những quả men lá được chế biến theo bí truyền riêng của người Dao đỏ từ trong một chiếc bao tải hong trên đó và đưa cho chúng tôi xem. Quả thật, lần đầu tiên chúng tôi nhìn thấy một loại men dùng nấu rượu nhìn lạ mắt như vậy. Ban đầu, nói là dùng men lá nấu rượu, chúng tôi cũng cứ ngỡ rằng dùng một loại lá tươi nào đó chứ không hề nghĩ, men lá lại phải qua công đoạn chế biết độc đáo và cầu kỳ đến thế.
Rượu trong đám cưới của người Dao đỏ. Ảnh: Hà Tuấn.

Những trăn trở với nghề


Chia tay chị Mùi, tiếp tục ngược con dốc trong sương mù, chúng tôi đến nhà trưởng bản Triệu Xuân Quý và được ông cho biết: "Cả bản hiện có 65 hộ người Dao, nhà nào cũng nấu rượu. Từ năm ngoái, được Chi cục Hợp tác xã tỉnh Lào Cai hỗ trợ dụng cụ nấu rượu, rồi tập huấn xây dựng để phát triển thành làng nghề, thì rượu nếp Nậm Cần đã được thị trường biết đến. Hiện tại, bản Nậm Cần có 17 hộ tham gia nấu rượu để bán ra thị trường. Trung bình 1 hộ mỗi tháng nấu khoảng 2 - 3 mẻ rượu, mỗi lần nấu được chừng 50 lít, với giá bán như hiện tại 50.000 đồng/lít thì cũng cho một khoản thu nhập khá".

Tương lai nghề nấu rượu của người Dao đỏ ở Nậm Cần đang hé mở về một làng nghề truyền thống, mang bản sắc độc đáo. Tuy nhiên trưởng bản Quý cũng khá trăn trở, khi rượu Nậm Cần đã được thị trường biết đến, nhưng giữ được chất lượng với những giá trị nguyên bản về một sản phẩm của người Dao đỏ Nậm Cần không hề đơn giản. Vì khi đã thành hàng hoá, thì việc lợi dụng uy tín để làm giả hoặc làm sai lệch về rượu Nậm Cần thì không phải không thể xảy ra.

Do vậy, trong tâm thức của người Dao đỏ Nậm Cần vẫn luôn muốn gìn giữ bản sắc văn hoá dân tộc mình, trong đó có đặc sản rượu chưng cất từ gạo nếp nương và men lá bí truyền. Và là một khát vọng làm giàu chính đáng từ nghề truyền thống của mình.

Bản Nậm Cần vẫn ẩn hiện trong sương mù, những nếp nhà gỗ nằm san sát bên sườn núi. Và nơi đây, ngày ngày, đồng bào Dao đỏ vẫn cần mẫn chưng cất một thức uống mà trong đó chứa đựng cả một tri thức, vốn sống và những tinh tuý chắt lọc qua thời gian.

Theo Làng Việt

Sunday, July 28, 2013

Chủ nghĩa Apartheid ở đô thị Việt Nam

Chủ nghĩa Apartheid ở đô thị Việt Nam
TP HỒ CHÍ MINH – Năm ngoái, khi tôi từ Mỹ quay trở lại thành phố này, tôi phải trả 25USD mỗi tháng để được sống tại một căn phòng đơn trong một dãy phòng nằm dọc theo một con ngõ hôi hám và thường ngập lụt. Dãy phòng cho thuê thấp lè tè với bệ xí bệt và những bức tường bong tróc nằm trong một khu công nghiệp ở ngoại vi thành phố. Nhưng tôi chịu đựng điều ấy để được sống gần một người bà con từ miền Trung vào trước đó. Tôi nhập vào hội bạn bè của anh ta trong ngõ, phần lớn họ gắn bó với nhau vì cùng chia sẻ cảnh ngộ là người nơi khác đến đây tìm việc.
Điều mà tôi đã không nhận ra lúc đó là một số trong đám kia lại đến thành phố một cách bất hợp pháp, vi phạm một chính sách còn sót lại từ thời kỳ trước khi Việt Nam tự do hoá nền kinh tế trong thập niên 1980.


Việt Nam là một trong số ít nước trên thế giới mà ở đó người dân phải sống tại những nơi mà họ đã đăng ký hay phải xin phép chính quyền để được cư trú.

Hệ thống hộ khẩu này chủ yếu vay mượn từ khái niệm hukow của Trung Quốc, vốn ra đời trong những năm sau khi những người cộng sản lên nắm quyền năm 1949. Tương tự, bắt đầu từ thập niên 1950, Việt Nam cũng đòi hỏi người dân phải kê khai danh sách thành viên gia đình trong sổ hộ khẩu của mình, bao gồm cả tuổi, nghề nghiệp và dân tộc, nhằm theo dõi sự di chuyển của người dân.

Ban đầu, mục đích của chính sách này là nhằm kiểm soát “những tên phản cách mạng và tội phạm”, Andrew Hardy viết như vậy trên tờ chuyên san học thuật Sojourn. Việc hạn chế di chuyển đặc biệt quan trọng đối với nhà cầm quyền Việt Nam sau khi chiến thắng của cộng sản trước người Pháp ở miền Bắc đã châm ngòi cho một cuộc di cư vào Nam của những thành phần chống cộng sản.
Chiến tranh kết thúc, ngay sau khi Việt Nam tái thống nhất năm 1975, những luật lệ về hộ khẩu được mở rộng ra toàn quốc. Nhiều người dân vẫn ở nguyên một chỗ trong suốt giai đoạn hậu chiến 1975-1986. Lúc bấy giờ, Việt Nam là một nền kinh tế kế hoạch hoá; nhà nước phân phối lương thực và bố trí việc làm trên cơ sở hộ khẩu.

Mặc dù Việt Nam không còn phân phối lương thực nữa song nó vẫn duy trì chính sách hộ khẩu, với hy vọng đẩy lùi hiện tượng bùng nổ dân số ở các đô thị. Chính sách này không chỉ thất bại với mục đích đó, mà còn tạo ra – ngay trong một đất nước tự tuyên bố là phi giai cấp – một nhóm công dân hạng hai.

Trong hệ thống thị trường tự do có kiểm soát mà nay đã thay thế phần lớn hệ thống trợ cấp trước kia, người Việt Nam dựa dẫm vào nhà nước ít hơn để có các dịch vụ và hàng hoá cơ bản và do vậy họ có thêm rất nhiều động lực để đi đến những nơi có việc làm. Nhiều doanh nghiệp tư nhân không yêu cầu hộ khẩu khi tuyển dụng.
Theo bà Nguyễn Thị Hồng Xoan (Trưởng Khoa Xã hội học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn ở Tp HCM) thì không có số liệu thống kê nào về số lượng người nhập cư không có giấy tờ. Nhưng bà Hồng Xoan, người từng viết luận án tiến sỹ về đề tài hộ khẩu, lại cho tôi hay rằng phần lớn mọi người không thay đổi giấy tờ khi họ di chuyển. Và theo cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 thì số lượng người nhập cư ròng từ nông thôn vào thành thị là 1,4 triệu trong giai đoạn 2004-2008. Con số này 770.000 người trong giai đoạn 5 năm cho đến trước thời điểm diễn ra cuộc tổng điều tra 2009.
Sự chuyển dịch dân số học này đang ảnh hưởng đặc biệt đến Hà Nội. Khoảng 6,5 triệu người sinh sống ở thủ đô năm 2009, so với mức chỉ khoảng 2,7 triệu một thập kỷ trước đó – tăng 240%. Trong cùng khoảng thời gian đó, dân số Việt Nam chỉ tăng 12%.
Tuy nhiên, nhiều người nhập cư lại gặp phải nhiều thách thức ở các thành phố hơn những gì mà họ chờ đợi. Trong khi những cư dân được thừa nhận chính thức ở các thành phố có quyền sở hữu tài sản và được tiếp cận với trường học và dịch vụ y tế công thì những người mới đến lại không được. Những người từ nơi khác đến phải trả gấp đôi chi phí điện nước vì họ không được hưởng một số ít chính sách trợ cấp còn sót lại, vốn đòi hỏi hộ khẩu. Họ phải đối mặt với sự phân biệt đối xử, và các quan chức địa phương thường đổ lỗi cho họ về tình trạng tội phạm ngày càng gia tăng và vệ sinh môi trường ngày càng xấu đi.

Để góp phần thu hẹp khoảng cách ngày càng tăng này, một báo cáo của LHQ năm 2010 đã khuyến nghị là cần “bãi bỏ yêu cầu về hộ khẩu khi người dân tiếp cận các dịch vụ”. Song các nhà hoạch định chính sách lại diễn giải dòng người đổ về thành phố theo cách để hàm ý rằng họ phải mạnh tay hơn nữa với người nhập cư và tái củng cố chính sách hộ khẩuKể từ tháng này trở đi, những người sống ở Hà Nội sẽ được cấp hộ khẩu thường trú chỉ khi họ đã sống ở đây được 3 năm, có công việc trong bộ máy nhà nước, có nhà riêng hay chuyển tới sống chung với gia đình người thân có hộ khẩu thường trú.

Hiện nay, ở phần còn lại của đất nước, người nhập cư cần chứng minh là họ đã sống ở đâu đó chỉ một năm để xin cấp hộ khẩu thường trú ở đó. Song một số người lại lo ngại rằng chính sách ngặt nghèo ở Hà Nội có thể thôi thúc Tp HCM và các thành phố khác noi theo.

Những người chỉ trích nói rằng hệ thống đăng ký hộ khẩu sẽ không ngăn chặn được sự dịch chuyển chỗ ở nhiều hơn chút nào so với quá khứ. Trong khi đó, hệ thống này lại ngăn cách người sở tại với người từ địa phương khác đến và tạo ra một hình thức của chủ nghĩa apartheid ở đô thị.
Lien Hoang
Bản dịch của Lê Thiên Hà
* Lien Hoang là cây bút chuyên viết về khu vực Đông Nam Á.
(Defend the Defenders)

Friday, July 26, 2013

Video Obama tiếp Chủ tịch Trương Tấn Sang

Rớt mất 'đối tác toàn diện' vì dịch thuật?
Nguyễn Hùng bbcvietnamese.com
Nguyên văn lời ông Obama nói là: "Nhưng từng bước một, chúng ta đã có thể thiết lập một mức độ tôn trọng và tin tưởng nhau, cho phép chúng ta giờ đây loan báo quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước.
Người phiên dịch của Tổng thống Obama đã bỏ qua ý quan trọng của ông về quan hệ 'đối tác toàn diện' với Việt Nam khi dịch lời Tổng thống phát biểu với báo chí sau hội đàm với Chủ tịch Trương Tấn Sang.
"Điều này sẽ cho phép có hợp tác lớn hơn nữa về một loạt vấn đề từ thương mại đến hợp tác quân sự, công tác đa phương về các vấn đề như trợ giúp thiên tai, trao đổi khoa học và giáo dục."
Trong khi đó người phiên dịch (tiếng Việt giọng Nam) thuật lại: "Và do đó chúng tôi thấy có những bước mà chúng ta cần có sự tương kính lẫn nhau và tin tưởng lẫn nhau để có thể tiếp tục tìm một đối tác giữa hai nước.

"Điều đó sẽ giúp mở rộng những cái hợp tác trong những lĩnh vực khác ví dụ như là quân sự, về hậu quả thiên tai, khoa học và những cái vấn đề khác, lĩnh vực khác.""[T]ừng bước một, chúng ta đã có thể thiết lập một mức độ tôn trọng và tin tưởng nhau, cho phép chúng ta giờ đây loan báo quan hệ đối tác toàn diện giữa hai nước."
Tổng thống Barack Obama
Những lời dịch này đã xuất hiện trong video chính thức của Nhà Trắng trên YouTube


Ngay từ hai câu đầu tiên người phiên dịch cũng đã có biểu hiện luống cuống và bỏ sót ý cho dù không nghiêm trọng như trong hai câu trên.

Mở đầu cuộc gặp ông Obama nói: "Tôi hân hạnh được chào đón Chủ tịch Trương Tấn Sang đến Toà Bạch Ốc và Phòng Bầu dục cho cuộc gặp song phương đầu tiên với tôi. Sự kiện này thể hiện tiến bộ vững chắc và củng cố quan hệ giữa hai nước chúng ta.
Lời người phiên dịch tương ứng là: "Tôi rất hân hạnh chào đón Chủ tịch Sang đến đây trong cuộc họp đối thoại song phương. Điều này đã biểu tượng [ấp úng] biểu tượng cho cái sự hợp tác càng ngày càng mạnh mẽ giữa hai và những tiến bộ giữa hai nước.

'VẤN ĐỀ HÀNG HẢI'Một ý quan trọng khác của ông Obama là giải quyết hòa bình các tranh chấp trên Biển Đông mà ông gọi là Biển Nam Trung Hoa và người dịch hoàn toàn bỏ qua.


Hai ông Barack Obama và Trương Tấn Sang đã hội đàm kín trước khi gặp báo chíÔng nói: "Chúng tôi đã thảo luận nhu cầu tiếp tục các nỗ lực giải quyết trong hòa bình những vấn đề trên biển phát sinh ra thời gian qua ở Biển Nam Trung Hoa và các nơi khác ở châu Á - Thái Bình Dương. Và chúng tôi đánh giá rất cao quyết tâm của Việt Nam làm việc với ASEAN và Hội nghị Thượng đỉnh Đông để chúng ta đạt được các Quy tắc Ứng xử mà sẽ giúp giải quyết các vấn đề này trong hòa bình và công bằng.
Trong khi đó người phiên dịch rút gọn lại thành: "Chúng tôi đã xác định là sẽ tiếp tục hợp tác để giải quyết một số vấn đề hàng hải ở trong vùng châu Á Thái Bình Dương. Tôi hết sức tán thưởng những nỗ lực của Việt Nam làm việc với ASEAN để tiến tới một cái bản nguyên tắc COC để mà giải quyết vấn đề một cách ôn hòa và hòa bình."
Một vấn đề tế nhị khác giữa hai bên là nhân quyền mà ông Obama nói: "Chúng tôi đã thảo luận những thách thức mà tất cả chúng ta đối mặt trong các vấn đề nhân quyền. Chúng tôi nhấn mạnh Hoa Kỳ tiếp tục tin rằng tất cả chúng ta phải tôn trọng các vấn đề như tự do biểu đạt, tự do tôn giáo, tự do hội họp. Và chúng tôi đã có đối thoại rất thẳng thắn cả về tiến bộ mà Việt Nam đang đạt được và những thách thức còn tồn tại.
Người phiên dịch thuật lại: "Cả hai hai bên chúng tôi đã có đã đặc biệt đề cập đến vấn đề nhân quyền và chúng tôi hiểu là trong tinh thần tương kính đó chúng tôi đã có nhắc đến cái vấn đề tự do về phát biểu, tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, và tự do lập hội. Và đôi bên đã cam kết sẽ có những tiến bộ để giải quyết những thách thức đó."

"Chúng tôi nhấn mạnh Hoa Kỳ tiếp tục tin rằng tất cả chúng ta phải tôn trọng các vấn đề như tự do bày tỏ, tự do tôn giáo, tự do hội họp. Và chúng tôi đã có đối thoại rất thẳng thắn cả về tiến bộ mà Việt Nam đang đạt được và những thách thức còn tồn tại."
Tổng thống Barack ObamaSo với phiên dịch của ông Obama, phiên dịch của ông Trương Tấn Sang (tiếng Việt giọng Bắc) truyền đạt sát ý hơn khi dịch sang tiếng Anh.
Mặc dù chỉ dịch sót chút ít nhưng người phiên dịch này đã nói 'I am sorry', 'Tôi xin lỗi' khi dịch nốt ý để xót vào lúc ông Sang đã bắt đầu nói sang câu mới.
Có lẽ ý duy nhất mà phiên dịch của ông Sang chuyển tải không hoàn toàn đúng là khi ông nói về nhân quyền, khiến người nghe bằng tiếng Anh có cảm giác ông Sang coi nhân quyền là hậu quả của chiến tranh để lại.
Người phiên dịch nói: "Chúng tôi cũng bàn về vấn đều hậu quả chiến tranh bao gồm cả vấn đề nhân quyền mà chúng tôi vẫn còn khác biệt về vấn đề này."
Nguyên văn của ông Sang là: "Về lãnh vực khắc phục hậu quả chiến tranh chúng tôi cũng đã bàn bạc kỹ, kể cả vấn đề về con người mà ý kiến của hai nước chúng ta còn có những điểm khác biệt.
Nhưng khi ông Sang nói (nhầm?) rằng "phần lớn, người Việt gốc Mỹ hết sức thành đạt, kể cả hoạt động chính trị" thì người phiên dịch vẫn nói đúng ý ông định nói là "người Mỹ gốc Việt".
BBC đã dịch lại và có phụ đề cho những gì ông Obama phát biểu trong video có ở đầu bài này.
Trong lịch sử ngoại giao không thiếu những chuyện 'dịch là diệt' hoặc 'dịch sai ý lãnh đạo' gây hậu quả hoặc nghiêm trọng, hoặc đơn giản là gây cười.
Khác với giới lãnh đạo Âu - Mỹ thường xuyên trao đổi và hiểu nhau nhiều, các lãnh đạo châu Á như Việt Nam và Trung Quốc hiếm khi gặp trực tiếp hoặc điện đàm với lãnh đạo Hoa Kỳ nên việc dịch thuật lại càng quan trọng.
Tuy nhiên, cũng phải hiểu một thực tế rằng trong giao tiếp quốc tế, lãnh đạo Hoa Kỳ ngày càng ít khi cần phiên dịch vì đa số các khách nước ngoài đến Mỹ đều trực tiếp trao đổi bằng tiếng Anh.

Thursday, July 25, 2013

Chuyện về "Thung lũng tiên" ở xứ Mường

Chuyện về "Thung lũng tiên" ở xứ Mường
Gọi là "thung lũng tiên" bởi mảnh đất "heo hút mây ngàn gió núi" nơi đây có tới hàng chục người già sống qua ba thế kỷ trong sự thanh thản của tâm hồn và... sống chậm.
Với độ cao 1.200 mét so với mực nước biển, nơi đây vốn được người ta gọi là nóc nhà của xứ Mường. Xã Lũng Vân (Tân Lạc, Hòa Bình) được mệnh danh là "thung lũng tiên" bởi mảnh đất "heo hút mây ngàn gió núi" này có tới hàng chục người già sống qua ba thế kỷ. Bí quyết sống trường thọ chẳng có gì đặc biệt là sự thanh thản của tâm hồn, là sống chậm.

Hơn 100 tuổi vẫn lao động
Lên Lũng Vân mùa nào cũng khó như lên trời vậy! Những con dốc dài, quanh co cứ thế nối tiếp nhau lên tới tận đỉnh núi. Hai bên sườn núi mây trắng lởn vởn ôm ấp lấy những tảng đá vôi nhấp nhô, chốc chốc lại theo gió bay lướt vào người đi đường khiến chúng tôi cữ ngỡ đây là chốn "bồng lai tiên cảnh". Lũng Vân hiện ra trong văn vắt. Những ngôi nhà của người Mường len lẩn trong nắng vàng. Có lẽ vì địa thế hiểm trở mà bấy lâu nay mảnh đất Lũng Vân này vẫn được người ta coi là nghèo truyền kiếp. Nhiều gia đình vẫn còn chạy ăn từng bữa thế nhưng con người nơi đây lại có tuổi thọ sánh ngang trời đất.


Gió từ trên núi thổi xào xạc từng cơn qua những nương ngô, nương đậu, thốc mớ váy Mường của cụ Mỉ đang mải mắng trâu dưới thung lũng bay lơ phơ. Hỏi về "thói quen" sống lâu, sống thọ ở nơi được mệnh danh "cõi tiên trần thế", "báu vật thượng đế đánh rơi" này cụ Mỉ (90 tuổi) cứ rỉ rả như đã quen thân chúng tôi tự lâu lắm: "Bà không nhớ được đâu, chắc cũng phải hàng chục người sống hơn trăm tuổi đấy".



Cụ Mỉ vẫn tự xâu kim, khâu vá.Nói đoạn bà cụ giơ hai bàn tay khô, ngoằn ngoèo lên lẩm bẩm: "Cụ Mí này, cụ Ón này, cụ Xuẩn này... Mỏi cái đầu quá, bà không nhớ được hết đâu, chắc tại già rồi đấy. Nếu muốn biết thì chú lên gặp cán bộ đi". Sống đến cái tuổi đó đa phần phải bấu tường mà đi, mắt mờ chân chậm, vịn nhờ con cháu còn nói gì đến trí nhớ. Vậy mà cụ Mỉ ngày ngày vẫn bám đuôi trâu đi khắp thung lũng, thậm chí còn vượt qua cả những tảng đá tai mèo sắc lẹm tỉa ngô... âu cũng là chuyện phi thường!

Lũng Vân hay Thung Mây còn có tên gọi xa xưa là Mường Chậm. Cái tên Lũng Vân, có lẽ được bắt nguồn từ đặc trưng của một thung lũng với bốn bề là núi cao dựng đứng quanh năm được mây bao phủ, là một trong 4 Mường lớn nhất của tỉnh Hòa Bình. Biết chúng tôi đến tìm hiểu về những người sống trường thọ, ông Đinh Văn Dứng tự hào: "Chẳng nơi đâu mỗi độ tết đến, xuân về lại được chủ tịch nước tặng quà nhiều như ở Lũng Vân này cả". Lật dở cuốn sổ ghi năm sinh của các cụ trong xã ông Dứng tiếp: "Xã này có tới 70 người trên 80 tuổi, trong đó có gần 20 người trên 100 tuổi. Đây là số liệu cũ, bây giờ chắc chắn còn nhiều cụ hơn 90 tuổi nữa. Người thọ nhất là cụ Đinh Thị Huệ, sinh năm 1897. Nhưng cụ đã mất vào năm 2011 rồi, trước đây cũng có 2 cụ ở xóm Chiềng mất lúc 112 tuổi".

 

Theo lời chỉ dẫn, chúng tôi đến gia đình cụ Hà Thị Mỉ (xóm Bục, Lũng Vân) năm nay cụ Mỉ vừa bước qua tuổi 100. Nhà cụ Mỉ nằm xum xúp bên sườn núi, thỉnh thoảng là tiếng lợn cắn nhau, rồi chạy đập vào chân nhà sàn lịch kịch. Trong nhà tối như hũ nút. Ngay cả những người tinh mắt cũng phải cố căng ra mới định vị những đồ đạc trong nhà. Vậy mà cụ Mỉ vẫn ngồi khâu vá những tấm váy bị rách do gai rừng cào những ngày lên rẫy. Với giọng nói nhanh pha trộn giữa tiếng Kinh và Mường nhưng chúng tôi vẫn nhận ra đó là một lời mời uống nước của cụ Mỉ.

Người cháu đích tôn của cụ Mỉ năm nay đã hơn 40 tuổi vừa pha trà vừa nói: "Đây là chè của cụ tự lên rừng hái đó. Đã hơn 100 tuổi nhưng thỉnh thoảng cụ vẫn lên rừng hái chè rồi tự xao. Mà cây chè là những cây cổ thụ vài trăm năm, phải trèo lên mới hái được đấy".

Ngày còn trẻ cụ Mỉ có tiếng là đẹp nhất vùng, đẹp như bông hoa rừng đang độ. Mà cũng chỉ biết là cụ đẹp thế, chứ có ai tưởng tượng được vì sao ở cái nơi "cùng trời cuối đất" quanh năm đói khổ, cụ lại đẹp nhường kia?

Nhắc đến thời trẻ, cụ Mỉ rực sáng đôi mắt: "Tôi lấy chồng lúc 15 tuổi, rồi sinh một mạch 7 người con cho ông ấy. Sau này cũng làm cán bộ. Năm 1975 tôi làm chi hội trưởng hội phụ nữ xóm, được cả giấy khen kia kìa". Hỏi cụ có bao nhiêu cháu chắt cụ Mỉ chỉ biết cười rồi lắc đầu: "Không nhớ được đâu, đông lắm. Chỉ biết là ngày tết tất cả chúng nó tụ tập, trong nhà đứng không hết còn phải đứng ra sân. Thịt mấy con lợn ăn có 2 bữa là hết cả rồi".


Cả đời cụ chưa từng dùng một viên thuốc tây nào cả.Anh Bùi Văn Thắng, bí thư đoàn xã Lũng Vân trong vai trò người phiên dịch đưa chúng tôi lên gặp cụ Hà Thị Xuẩm (99 tuổi). Tiếng than củi nổ lách tách, khói bếp nghi ngút khiến căn nhà vắng người của cụ trở nên ấm cúng. Bên ánh lửa bập bùng, người phụ nữ sống vắt qua hai thế kỷ như là chỗ dựa, biểu tượng tinh thần cho con cháu. Hì hụi chuẩn bị bữa cơm chiều cho cả nhà cụ Xuẩn nói: "Chúng nó lên nương, lên rẫy hết rồi. Bây giờ bà không lên nương nữa, chỉ loanh quanh ở nhà nấu cơm, nuôi lợn thôi. Già rồi chẳng làm được nữa đâu".

Chiều đã chạng vạng, con cháu cụ Xuẩn cũng trở về nhà sau một ngày làm việc mệt mỏi. Con dâu cả của cụ cũng ngoài thất thập, mời chúng tôi chén nước được pha từ lá rừng, bà kể: "Mế tôi ham làm lắm, đã 100 tuổi rồi mà cứ đòi lên rẫy làm cùng con cháu. Mấy ngày trước đòi lên nhưng chúng tôi không cho, mế dỗi không ăn cơm đấy". Ngày nào cụ Xuẩn cũng dậy sớm hơn con cháu để chuẩn bị cơm sáng cho cả nhà. Hàng ngày chẳng khi nào cụ ngồi yên, nấu cơm xong lại nấu cám, băm bèo cho lợn. Cụ Xuẩn bảo, không làm là tối không sao ngủ được, đau cái lưng, mỏi cái chân. Ở cái tuổi gần đất xa trời nhưng rất hiếm khi cụ phải dùng thuốc tây. Duy nhất có 1 lần phải uống thuốc tây đã cách đây 30 năm, ngày cụ bị đau dạ dày.

Bí quyết trường thọ

Đi khắp thung lũng trường thọ, trò chuyện với các già làng, gặp ai chúng tôi cũng đặt câu hỏi: Bí quyết trường thọ? Nhưng đều nhận được những nụ cười hiền hậu, mộc mạc và nói không có bí quyết gì cả, chỉ là "dậy sớm cùng ông mặt trời rồi đi làm nương, làm rẫy". Lũng Vân là sự hòa hợp của ba con suối lớn: Suối Hượp, suối Trong và Suối Miêu. Người trong bản bao đời dùng nước đó sinh hoạt, tất cả đều từ núi, từ rừng.


Ngày nào cụ Xuẩn cũng dậy sớm hơn con cháu để chuẩn bị bữa sáng cho cả nhà.Điều đặc biệt, người Lũng vân không bao giờ ăn gan động vật. Trà uống hàng ngày của người Lũng Vân đều là các vị thuốc được lấy trong rừng về phơi khô rồi đun lên. Loại nước này được người Lũng Vân dùng để chống chọi với thời tiết khắc nghiệt. Mùa hè uống sẽ hạ nhiệt nhanh chóng, cảm giác mát lạnh, mùa đông lại có thể giữ ấm cho cơ thể rất tốt trước cái lạnh khiến nước đóng băng (nhiệt độ của Lũng Vân luôn thấp hơn nhiệt độ vùng khác 7 độ C). Cuộc sống biệt lập với bên ngoài, gần như théo lối "tự cung tự cấp" nên ông nhiễm môi trường chưa bao giờ xuất hiện.

Cụ Hà Thị Mí sống hơn 100 tuổi, ở cái tuổi mà nhiều người phải sống bằng thuốc, dựa vào thuốc thì cụ chưa từng dùng 1 viên thuốc từ ngày sinh ra. Cụ kể: "Cả đời bà chưa bao giờ uống thuốc tây cả. Ốm đau cũng hiếm khi lắm, chắc ông giời cũng thương nên không bắt ốm. Nếu ốm thì lấy sức đâu mà nuôi con? Bà nhớ, cách đây cũng 30 năm rồi. Hồi đó bà bị trượt dốc ngã gãy tay, thế mà về nhà bó lá rồi cũng khỏi, chẳng phải lên trạm xá hay đi viện gì cả".

Phải đặt chân đến Lũng Vân mới cảm nhận được cuộc sống nơi đây thật tinh khiết, không chút bụi bẩn. Với chúng tôi, ở Lũng Vân chẳng có liều thuốc thần tiên nào ngoài sự thanh thản về tâm hồn. Cụ Xuẩn, cụ Mí, cụ Ón... cũng như hầu hết những người dân sống trong cái thung lũng bình yên này, họ gần như tách biệt với cuộc sống hối hả ngoài kia. Dù vẫn đói khổ, vẫn còn lo ăn từng bữa nhưng họ vẫn lặng lẽ sinh ra, lặng lẽ lớn lên như cây rừng, cao mãi, cao mãi phủ bóng xuống lòng thung lũng.
Ông Hà Văn Tơ, Chủ tịch UBND xã Lũng Vân:

Tuy cả xã có hơn 400 hộ gia đình nhưng các cụ bách niên thì ngồi chốc lát không thể nhớ hết họ tên. Nam nào cũng vậy, cứ khi tết đến xuân về, chính quyền xã lại đi chúc thọ những cụ già. Ngoài phần lụa của chủ tịch nước thì xã cũng có quà riêng tới các cụ. Nếu đi hết các cụ trường thọ thì đi cả ngày cũng không hết vì các bản ở đây xa nhau lắm. Ở đây có rất nhiều cụ trường thọ, có lẽ là do sự ưu đãi của thiên nhiên. Các cụ hay đi rừng, uống nước suối, kiếm lá rừng làm cây thuốc. Ở đây rất ít khi có những người mắc bệnh nan y, gần như không phải dùng đến thuốc.

Ông Đinh Văn Dứng, Chủ tịch Hội Người cao tuổi xã Lũng Vân:

Cuộc sống ở đây vẫn còn rất khó khăn, các cụ chỉ ăn sắn ăn ngô nhưng vẫn rất khỏe mạnh. Xã Lũng Vân có đến 70 người trên 80 tuổi, trong đó gần 20 người trên 100 tuổi. Chúng tôi vẫn quan tâm đến tình hình sức khỏe của các cụ, thường xuyên đến động viên thăm hỏi các cụ.

Theo Cảnh sát toàn cầu