Wednesday, August 14, 2013

Lợi ích của đi bộ

Lợi ích của đi bộ

Tục ngữ có câu : "Người già đôi chân già trước", giữ đôi chân tốt chính là mấu chốt phòng bệnh để kéo dài tuổi thọ. Các chuyên gia nghiên cứu phương pháp tự chữa bệnh cho rằng : Trên đôi bàn chân có rất nhiều đầu mối thần kinh liên quan đến các tạng phủ. Cho nên dùng tay để chà xát, xoa bóp rất có lợi cho sức khoẻ. Thí dụ : 
- Mu ngón chân út có liên quan đến bàng quang, xát ngón chân út có thể chữa được chứng bí đái, đái són, đái buốt 
- Mu ngón chân thứ hai có liên quan đến dạ dày, xát ngón thứ 2 có thể chữa được chứng chướng bụng, đầy hơi, ợ chua. 
- Ngón chân cái có liên quan đến gan, tì, lòng bàn chân có liên quan đến thận. 
- Xát gan bàn chân có thể chữa được lưng đau, mỏi, ù tai, nghễnh ngãng. 



- Ngón thứ tư có liên quan đến gan, xát ngón này có thể chữa được táo bón, lưng vai đau mỏi .. 

Thường xuyên xát gan bàn chân không những làm tăng lưu lượng máu, tăng tính đàn hồi thành mạch máu, mà còn kích thích não bộ trị được chứng nhức đầu, hoa mắt, mất ngủ, mộng mị ... Người già thường xuyên xát chân còn phòng được chứng tê bì, chân tay giá lạnh. 

Phương pháp xát chân cụ thể : 


Trước tiên ngâm chân vào nước nóng 15 phút, lau sạch.. 
Ngồi trên giường hoặc ghế, chân nọ gác lên đầu gối chân kia, một tay xoa gan bàn chân, một tay xoa mu bàn chân, xát đi, xát lại khoảng 200 lần là vừa. Ðổi chân, cũng làm như trên. Xát cho đến khi nóng, người cảm thấy khoan khoái, dễ chịu là được. Mỗi ngày làm 2 lần vào buổi sáng và tối. 

Lợi ích của đi bộ 
Ði bộ mỗi ngày 30 phút sẽ đem lại cho bạn những tác dụng không ngờ đối với sức khoẻ thể chất và tinh thần. 

1. Tốt cho tim 
Một nghiên cứu gần đây đưa ra kết luận, nếu đi bộ nhanh 30 phút mỗi ngày sẽ làm giảm nguy cơ phát triển hội chứng chuyển hoá (metabolic syndrome)- một nhóm các triệu chứng ban đầu dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, tiểu đường, và đột qụy. Theo thống kê tại Mỹ, có khoảng 24 triệu phụ nữ nước này mắc hội chứng chuyển hoá. Không có thời gian để đi bộ nửa giờ mỗi ngày ư ? Một nghiên cứu ở Anh cho thấy rằng, hoạt động thường xuyên (Kết hợp đi bộ và đi xe đạp) đồng nghĩa với việc giảm 11 % nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, đặc biệt là đối với phụ nữ. 

2. Loại bỏ nguy cơ mắc ung thư vú 
Ði bộ chỉ cần vài giờ mỗi tuần có ý nghĩa đặc biệt trong việc giảm nguy cơ mắc ung thư vú, (theo công bố trên tờ tạp chí của hội y học Mỹ). Ðồng thời đi bộ làm giảm béo, tăng khả năng sản sinhestrogen. Kết quả của nghiên cứu trên 74.000 phụ nữ ở tuổi mãn kinh (50-79 tuổi) với những người có thể trạng bình thường, nguy cơ mắc ung thư vú giảm đi 30 %, còn những người thừa cân thì chỉ giảm từ 10-20 %. Nghiên cứu trên phụ nữ trẻ hơn cũng đưa đến kết quả tương tự. 

3. Giúp ngủ ngon hơn 
Ði bộ nhanh vào buổi chiều giúp bạn có được một giấc ngủ ngon hơn (Theo lời khuyên của tổ chức Giấc ngủ Quốc tế). Hơn nữa, nhiều ý kiến còn cho rằng, đi bộ làm tăng lượng hormone serotonin giúp cho bạn được thư giãn … Tuy nhiên bạn đừng nên đi bộ 2 giờ trước khi ngủ vì nó quá muộn để cơ thể nghỉ ngơi trở lại. 

4. Làm giảm sự đau nhức cơ thể 
Hãy đi bộ và bạn sẽ giảm sự đau nhức cơ thể (Ðó là lời khuyên của các nhà khoa học, Ðặc biệt là môn đi bộ nhanh (Chiwalking- một ý tưởng kết hợp Thái cực quyền, Yoga và Pilates- một môn thể dục mềm dẻo). Nó giống như việc đi bộ thường xuyên nhưng bởi vì bạn thư giãn có ý thức, nó làm cơ thể bạn trở nên cân bằng bao gồm việc vận động cánh tay, làm cho chân không bị stress như khi đi bộ. Kết quả làm giảm đi sự đau nhức. Môn Chiwalking hiện ngày một phổ biến ở Mỹ. 

5. Nó làm cho bạn hạnh phúc 
Ði bộ có thể làm cho bạn giảm bớt sự buồn chán, lo âu và stress, đó là một hiệu quả mà ít ai ngờ tới. Chỉ cần 30 phút đi bộ sẽ khiến cho tâm trạng của bạn trở nên khá hơn. theo nhà nghiên cứu thuộc trường đại học Texas - Mỹ). Bỏ ra 90 phút đi bộ 5 lần mỗi tuần là bạn sẽ có được tâm trạng tốt nhất (nghiên cứu của đại học Temple). Một giải thích được đưa ra : Ði bộ giúp cơ thể sản sinh ra endorphin, một hoá chất làm cải thiện tâm trạng tạo cho bạn cảm giác lạc quan, yêu đời hơn. 

6. Giúp làm giảm bớt trọng lượng của cơ thể 
Ði bộ 30 phút mỗi ngày có thể tránh sự tăng cân ở hầu hết những người ít hoạt động tự nhiên. Mặt khác, nếu phụ nữ đi bộ một giờ mỗi ngày và năm lần trong một tuần sẽ tiêu hao 1.500 calo mỗi ngày và giảm khoảng 11 kg cân nặng bị thừa mỗi năm. Việc đi bộ có thể kiểm soát trọng lượng cơ thể của bạn. 

7. Duy trì trí nhớ cho người cao tuổi 
Một vài nghiên cứu trên nhóm người cao tuổi chỉ ra rằng đi bộ thậm chí chỉ cần 45 phút mỗi tuần sẽ giúp tránh được bệnh Alzheimer. Ði dạo hoặc tản bộ thông thường cũng đồng nghĩa với việc trí não được luyện tập và trở nên minh mẫn hơn ở tầng lớp người cao tuổi. 

8. Bảo vệ xương của bạn 
Chỉ cần 30 phút đi bộ 3 lần mỗi tuần là cách tuyệt vời để bảo vệ và rèn luyện cho xương của bạn. Giống như một bài tập, khi đi bộ sẽ đòi hỏi người phải sử dụng 95 % hệ cơ, thực tế quá trình này giúp thúc đẩy và khiến cho xương của bạn trở nên khoẻ mạnh và rắn chắc hơn. 

17 khác biệt trong tư duy của người Giàu và người Nghèo

17 khác biệt trong tư duy của người Giàu và người Nghèo
Tự tạo ra cuộc đời mình, sẵn sàng đón nhận cơ hội, tham gia cuộc chơi tiền bạc để giành chiến thắng... là những cách nhìn khác biệt so với người nghèo.
Là một phần trong dự án Học làm giàu phát triển từ năm 2011, bộ tranh "17 tư duy thịnh vượng" được chuyển thể từ nội dung cuốn "Bí quyết Tư duy triệu phú" của tác giả T. Harv Eker. Mỗi tâm thức được chuyển thể thành một bức vẽ riêng, thể hiện rõ thái độ, lập trường của hai nhân vật Giàu và Nghèo.
Người giàu: Tôi tạo ra cuộc đời tôi.
Người nghèo: Cuộc sống toàn những việc bất ngờ xảy đến với tôi. 

Người giàu: Tham gia cuộc chơi tiền bạc để thắng.
Người nghèo: Tham gia cuộc chơi tiền bạc chỉ để không bị thua.


Người giàu: Quyết tâm làm giàu.
Người nghèo: Muốn trở nên giàu có.


Người giàu: Suy nghĩ lớn.
Người nghèo: Suy nghĩ nhỏ.


Người giàu: Tập trung vào các cơ hội.
Người nghèo: Tập trung vào những khó khăn.


Người giàu: Ngưỡng mộ người thành công và giàu có khác.
Người nghèo: Bực tức với những ai thành công và giàu có.


Người giàu: Kết giao với người tích cực và thành công.
Người nghèo: Giao du với người tiêu cực hoặc thất bại.


Người giàu: Sẵn sàng tôn vinh bản thân và giá trị của họ.
Người nghèo: Suy nghĩ tiêu cực về bán hàng, quảng bá.

Người giàu: Đứng cao hơn những vấn đề của họ.
Người nghèo: Nhỏ bé hơn những vấn đề của họ.


Người giàu: Rất biết đón nhận.
Người nghèo: Không biết đón nhận.

Người giàu: Chọn được trả công theo kết quả.
Người nghèo: Chọn được trả công theo thời gian.

Người giàu: Suy nghĩ "cả hai".
Người nghèo: Suy nghĩ "hoặc là/ hoặc".

Người giàu: Chú trọng vào tổng tài sản.
Người nghèo: Chú trọng vào thu nhập từ làm việc.

Người giàu: Quản lý tốt tiền của họ.
Người nghèo: Không biết quản lý tốt tiền của họ.

Người giàu: Bắt tiền của họ làm việc chăm chỉ.
Người nghèo: Làm việc chăm chỉ vì tiền của họ.

Người giàu: Hành động bất chấp sợ hãi.
Người nghèo: Để nỗi sợ hãi ngăn cản họ.

Người giàu: Luôn học hỏi và phát triển.
Người nghèo: Nghĩ họ đã biết hết.

(Sưu tầm) theo Vtnbình

Putin, một Sa hoàng mới

Putin, một Sa hoàng mới
Vladimir Fedorovski
 
Lời người dịch: Vladimir Fedorovski là một nhà ngoại giao Liên Xô. Trong những năm 70, ông phụ tá Brejnev trong những cuộc gặp gỡ với các nhà lãnh đạo Ả Rập. Từ năm 1985 đến 1990 ông được cử làm cố vấn về ngoại giao cho Gorbatchev trong thời gian perestroika và glasnost. Năm 1990, bất đồng với chính sách tiền hậu bất nhất của Gorbatchev, ông bỏ ngoại giao, làm phát ngôn viên cho ” Phong trào Cải tổ Dân chủ “, chống lại cuộc đảo chính Cộng sản năm 1991. Năm 1995 ông lấy quốc tịch Pháp và trở thành một nhà văn viết tiếng Pháp xuất bản nhiều sách nhất ở Pháp. Sách ông được dịch ra 28 thứ tiếng. Ông mới xuất bản cuốn “Chuyện những Sa hoàng “. Trong cuốn này ông giải mã những bí mật của các vị vua chúa nước Nga thần thánh, bắt đầu từ Ivan người Khủng khiếp (Ivan le Terrible) đến Pie Đại đế, Catơrin đệ Nhị, Nicola đệ Nhị và người cuối cùng là Putin được ông coi là một Sa hoàng mới, người muốn làm sống lại nước Nga hùng cường. Trong cuốn sách này, ông Fedorovski phân tích và chứng minh những động lực bí ẩn của vị chủ nhân điện Cẩm Linh để kết luận là với vị sa hoàng mới này, nhiều bất ngờ đang chờ đợi người Tây phương.

Ngày 28 tháng Hai vừa rồi, cuộc gặp gỡ giữa François Hollande và Putin được diễn ra trong một bầu không khí băng giá : vị tổng thống Nga không nhượng bộ một chút nào về sự hỗ trợ của ông đối với chế độ Syri và không một hợp đồng thương mại nào được ký kết. Chuyện đó có gì là lạ khi mà nước Nga vẫn là nguồn cung cấp vũ khí chính cho Bachar el-Assad và cái chuyện lố bịch Depardieu (Lnd: một diễn viên điện ảnh danh tiếng Pháp được Putin trọng vọng và cho lấy quốc tịch Nga) vẫn là hàn thử biểu đo lường chính xác nhất nhiệt độ tâm lý giữa 2 vị tổng thống này ? Lại đúng vào năm 2013 kỷ niệm 400 năm triều đại Nga hoàng Romanov, Mốt Cu thời đại mới chả mong chờ gì những thiện ý đến từ Pari : Putin chả coi ra cái quái gì những lo nghĩ nhân đạo của các người thuộc đảng Xã hội Pháp. Còn những thỏa ước về kinh tế giữa 2 nước : nếu trước những năm 2000, Putin còn có mục đích làm sao cho nước Nga lấy lại được chỗ của mình trên bàn cờ quốc tế bằng cách đổi dầu khí lấy kỹ thuật Tây phương, từ đó đến giờ, Putin trở nên cứng rắn hơn khi suy luận là : “Chúng ta đã cố gắng nghĩ đến lợi lộc Tây phương trong sự đổi chác, nhưng chúng ta đã không được trả lại bằng một trân trọng nào và, đặc biệt là, hệ thống khiên chống tên lửa nhằm chúng ta vẫn được bảo tồn. Vì vậy chúng ta nên coi sự hợp tác chiến lược với Tây phương là hoàn toàn vô tích sự.”

Trong bối cảnh châu Âu suy nhược, Putin không thấy có một đối tác nào chắc chắn hơn là Đức, đồng thời Putin cũng thấy tốt hơn là nên cùng Trung Quốc xây dựng một thế giới khác. Để đạt được mục đích đó, Putin thấy nên lợi dụng lại những đồng minh cũ của Liên Xô hay, ít nhất là, chơi lại lá bài một vài nước Hồi giáo, một phần cũng để ngăn những nước này có những đường lối chính trị chống Nga quá triệt để. Nhưng đó cũng lại chính là những tham số có thể đưa tới hai cái sai lầm : Con đường chính trị mới này sẽ làm Nga và Tây phương xa cách nhau thêm, nhất là từ trước tới nay Tây phương vẫn chả bao giờ coi Nga là đồng minh cả. Tây phương sẽ vẫn tiếp tục đánh giá thấp mối hiểm nguy đến từ sự tan vỡ lớn lao có tính cách lịch sử giữa 2 phái Hồi giáo Shiít và Sunít đang thành hình trong thế giới Hồi giáo. Đó cũng là một định đề được vị chủ nhân điện Cẩm Linh đặt ra trên nền tảng của kinh nghiệm 13 năm nắm quyền hành tuyệt đối, trên cá tính của mình, trên con đường sự nghiệp của mình, trên sự suy nghĩ về lịch sử của mình. Sự suy nghĩ này được Putin coi là cốt lõi của mọi hành động chính trị tiếp diễn.

Ai chính thật là Putin ?

Cảm tưởng tức thời của tôi vào đầu những năm 1990, khi tôi có dịp quan sát Putin trong một buổi gặp riêng ở Saint-Petersbourg, Putin là người muôn mặt, hay nói đúng hơn, Putin giấu mặt trong nhiều mặt nạ theo truyền thống Byzantin của các vua chúa Nga. Cặp mắt, có khi lờ lững, có khi linh động, cặp lông mày cau lại hay cặp môi mấp máy một cách thiếu kiên nhẫn chứng tỏ một ý chí sắt đá, nhưng cũng nhiều khi lượn lẹo, trơn tuột, khó bắt nắm được. Putin đã tập chơi nhiều vai trò, tuyệt vời trong nghệ thuật đánh lạc hướng. Nhưng có một cái bất di bất dịch : Putin không phải là một người chịu sống hạnh phúc trong an phận.

Giống như Nicola II ngày xưa, Putin có cái tài là làm những người đối thoại tưởng mình cũng thuộc về phe họ – Putin như một tấm gương mọi người soi vào đều thấy bóng mình – Putin khi cần cũng có thể bắt chước điệu bộ của người mình đối thoại, lấy lại cử chỉ, cách cử động chân tay, cách nói năng của họ. Kỹ thuật này, được hoàn thiện trong những năm học tập dưới mái trường KGB, đã khiến Putin có thể nhập hình hài mình trong mọi khuôn, hòa mình với mọi chính kiến, chế ngự đủ mọi màu sắc chính trị, đi nước đôi một cách dễ dàng, cáng đáng cùng một lúc, không bao giờ thành vấn đề, cả quá khứ của Liên Xô lẫn lịch sử của đế quốc Sa hoàng : Putin vừa là người quốc gia, vừa là người quốc tế, vừa là người tiến bộ, vừa là người trọng quá khứ, vừa là người theo chủ nghĩa kinh tế nhà nước, vừa là người theo kinh tế phóng khoáng. Putin biến sự khẳng định của mình thành một luận chứng trên hết mọi luận chứng khi quả quyết là dưới sự cầm quyền của mình, nước Nga đã trở thành một nước “giàu mạnh và được tôn trọng “.

Cá tính hai mặt đã in sâu vào Putin từ khi còn trẻ. Sinh ngày 7 tháng 10 năm 1952 ở Leningrad, con một người thợ gương mẫu, cháu một người làm bếp cho Lênin, Putin là một học sinh xuất sắc nhưng ít giao thiệp với bạn bè, rất giỏi Nhu đạo, kín đáo nhưng đầy ý chí, tuy mơ mộng trở thành một gián điệp phục vụ KGB, nhưng cũng có một đam mê đặt biệt làm bộc lộ một bình diện khác của con người : Putin, sinh trong một thành phố còn mang đầy dấu ấn Nga Hoàng, bị quyến rũ bởi cái nơi chốn ảo thuật này với những ngôi nhà màu đất son, màu hồng, màu xanh da trời, xanh lá cây hay màu xám, với phối cảnh những lâu đài, những nhà thờ rộng lớn mênh mông, những con kênh như giải ngân hà và những đêm trắng mặt trời không ngủ. Khi còn ở nhà trường, Putin đã có ý dò hỏi tìm mọi cách để được chấp nhận vào các cơ quan mật vụ nhưng người ta nói nên ghi tên học luật trước và chỉ đến năm 1975, sau khi tốt nghiệp đại học, Putin mới được KGB tuyển lựa vì là một trong số những sinh viên xuất sắc nhất. Trong thời gian phục vụ KGB, Putin đã giữ một kỷ niệm quá tốt đẹp và cho KGB là tinh túy của đất nước, bảo vệ quyền lợi tối cao của đất nước. Nằm trong chương trình đào tạo của KGB là : làm sao luôn luôn giữ được bình tĩnh, quán thông nghệ thuật che giấu và dàn cảnh, biết nói 2, 3 giọng điệu khác nhau. Những điệp viên KGB có văn hóa chính trị riêng, có tiếng lóng riêng, và ngay cách pha trò cũng được mã hóa để chỉ cười với nhau. Đó là cả một cấu trúc tinh thần, cả một trạng thái tâm lí đã bị khắc sâu dấu ấn của một nền văn hóa mật vụ, trong đó cái gọi là dân chủ không bao giờ được kể đến. Một điệp viên đã nói rõ ràng : ” Đối với chúng tôi, không nơi nào trên trái đất có dân chủ. Chỗ nào cũng chỉ là trò giật dây. Chỉ có giật nhiều hay giật ít..”

Putin khi còn trẻ hay nhắc lại Ivan người Khủng khiếp (Ivan le Terrible) hay Pie đệ Nhất và cho những nhân vật này là tượng trưng của vĩ đại và ý chí. Cùng hàng với những Sa hoàng này, Putin thêm vào KGB và quân đội và cho những lực lượng này là những kế thừa vẻ vang của nước Nga. Bởi vậy không lạ gì mười lăm năm sau, năm 1991, cùng với thượng cấp của Putin khi đó là Anatoli Sobtchak, thị trưởng Leningrad, thuộc phái Canh tân, Putin tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý để Leningrad lấy lại tên cũ; Cuộc trưng cầu dân ý này được hiểu như là một sự phủ nhận chế độ cộng sản và như là một bước đi về phía Âu châu. ” Đó là thời kỳ mà Putin biểu lộ một cách công khai sự tha thiết của mình đối với quá khứ Sa hoàng “. Anatoli Sobtchak nói với tôi như vậy. 

Người chủ nhân tương lai của điện Cẩm Linh rất thích vị Sa hoàng có óc canh tân là Alexandre II và nhất là vị thủ tướng của Nicola II, Piort Stolypine, người đề xướng chính sách “ thay đổi trong trật tự “. Putin lấy câu này làm phương châm của mình và câu này cũng là công thức gối đầu giường của ông trùm KGB nổi tiếng, Iouri Andropov, một trong những ông thày tư tưởng của Putin. Khi Putin lên cầm quyền đầu năm 2000, Putin áp dụng công thức này : Trở thành một Sa hoàng mới, Putin đuổi bọn “quí tộc” (boyards) mới, bỏ tù những tay đầu xỏ như Mikhail Khodorkovski, chủ tịch hãng Ioukos, người giầu nhất nước Nga, hay đuổi ra khỏi nước. Thông điệp của Putin rất rõ ràng : ” Các ông làm theo ý của điện Cẩm Linh thì người ta sẽ quên cách các ông làm giầu ra làm sao trong thời gian lộn xộn, còn nếu các ông vẫn muốn chõ mũi vào chính trị thì các ông sẽ tự gánh lấy mọi hiểm nguy đến với các ông… “ Bằng cách xuyên tắt qua chính sách tập trung hóa để các cơ quan mật vụ đặt cán bộ trong toàn thể các cơ cấu nhà nước, vị tổng thống mới của Liên bang Nga đã song song tái lập lại chế độ chuyên chế thời Sa hoàng.

Sự sống lại của đế quốc

” Dân tộc Nga có truyền thống rất lâu dài về những vị Sa hoàng hùng mạnh “, Tổng thống Putin tuyên bố như vậy. Đúng năm nay 2013, năm kỷ niệm triều đại Romanov, Putin chơi một cách tinh vi lá bài đế quốc Nga khi cho Staline là một tượng trưng của nước Nga trật tự và vĩ đại – Putin đã làm như vậy trong dịp lễ kỷ niệm lần thứ 70 trận đánh Stalingrad – Putin coi Staline, người chiến thắng Đức Quốc Xã, như một Sa hoàng đỏ, như một thừa kế của Sa hoàng Ivan người Khủng khiếp. 

Lấy đế quốc Sa hoàng làm mẫu mực, Putin, với óc độc đoán vẫn còn hận Tây phương và đổ lỗi cho Tây phương đã làm đế quốc Liên xô sụp đổ. Vì vậy mà mọi mô hình dân chủ đến từ phương Tây – bắt đầu bằng tự do phát biểu, minh bạch trong áp phe… đều bị đập tan. Putin và bè phái của mình trở lại cách suy nghĩ máy móc thời Nga hoàng là ” chỗ nào cũng có kẻ thù và nước Nga là một thành trì bị bao vây tứ phía “. Vì vậy mà luôn luôn được lập đi lập lại những lời tố cáo ” âm mưu của Mỹ “, những mưu toan của các tay đầu xỏ và những gián điệp Tây phương, đồng lòng với nhau chia chác kho tàng của đế quốc Nga. Trong bóng tối mờ ám, phe cánh Putin nắm hết mọi ngành : dầu khí, kỹ nghệ vũ khí và viễn thông, những mỏ vàng, những kênh truyền hình, Ngân hàng Trung ương, Quốc hội, quân đội, mật vụ, công an và các miền trong đất nước. 

Chính ngay Metvêđep, trong cương vị Tổng thống từ năm 2008 đến năm 2012, cũng chả bao giờ thật sự được chút tự lập. Đặc trưng của chuyên chế : giữa bộ ba : điện Cẩm Linh, giới cựu điệp viên KGB và Giáo hội Chính thống, quyền lợi đan xen lẫn nhau đến độ có thể nói đa số những kẻ chơi lá bài poke gian lận này đều cùng một bọn với nhau. Quyền hành theo chiều dọc từ trên xuống dưới được Putin lập ra, đặt cơ sở trên sự liên minh bộ ba này : những ai chống lại đều bị đưa ra cho toàn quốc phỉ nhổ, nhân danh quyền lợi tối cao của đất nước. Lẽ ra sự sụp đổ của chính quyền trước phải đem đến tự do, thì chúng ta lại chứng kiến sự toàn thắng của các phương pháp truyền thống được các triều đình Sa hoàng sử dụng : Đầu độc tư tưởng. Lạm dụng luật pháp gán ghép chuyện này với chuyện kia để kết tội. Làm săng – ta đe dọa tố cáo, phát giác. Sử dụng số tiền khổng lồ đến từ dầu khí để thực hiện những âm mưu trong bóng tối kiểu byzantin, ám sát, thủ tiêu. 

Sự khôn khéo tột bực của Putin là lấy hình ảnh đế quốc Nga làm tượng trưng để đẩy lui hàng chục năm ngày tới của Dân chủ. Putin biết trở về nguồn (quốc gia-chủng tộc) ở từng sâu nhất trong tâm hồn mỗi người Xlavơ để áp đặt quyền hành của mình. Cũng như những người phiêu lưu khoa học muốn làm sống lại những con đi-nô-zo bằng cấy lại DNA, dự kiến của Putin là tái lập lại đế quốc Nga. Putin luôn luôn bị ám ảnh bởi công trình to lớn này và muốn thực hiện nó theo phương pháp của mình : đi từng chặng một, không có những chuyển động bất thần. Người ta còn nhớ câu châm ngôn của Putin : ” những ai không nhớ Liên Xô là những kẻ không tim, nhưng những ai còn luyến tiếc Liên Xô là những người không có trí thông minh .” Khi người ta hỏi có những quyết định ngày trước bây giờ nếu có thể sửa lại, Putin có sửa không, Putin trả lời : ” Không.. Nói thật, khi tôi nhìn lại quá khứ, tôi thấy tổng kết những quyết định từ trước tới nay của tôi đã cho phép tôi còn giữ được quyền hành. “

 Putin trong ý nghĩ còn trù tính phải tiếp tục cầm quyền 10 năm nữa mới có thể chế ngự được những thách đố khổng lồ để tái lập lại những cơ cấu nhà nước bị phá hủy trong thời gian lộn xộn hậu cộng sản. Người ta thấy ở đây cây cầu lịch sử được vị Tổng thống Liên bang Nga lập ra khi tự coi mình là hóa thân của vị vua đầu tiên của triều đại Romanov, Misen đệ Nhất, cháu của Nữ Sa hoàng Anastasia và con của Fedor, được rước về làm Sa hoàng từ tu viện Ipatiev năm 1613, trong lúc còn đầy những cuộc phân tranh. Triều đại Romanov này kéo dài đến tận Cách mạng 1917. Đó cũng là định mệnh của Putin được Chúa lựa chọn để cứu tổ quốc của Putin sau thời kỳ hậu cộng sản – Ảo ảnh, hay là chiến thuật bí mật của ông chủ điện Cẩm Linh hiện thời…

Liên minh giữa ngai vàng và bệ thờ

Một sự giống nhau nữa giữa Tổng thống Putin và các vị Sa hoàng là sự trọng vọng Ki Tô giáo. Là người Ki Tô hữu theo chủ nghĩa Sa hoàng, Putin coi việc công cộng không phải đặt trên nền tảng một sự đối đầu giữa (các đảng) đa số và đối lập, mà là trên ý tưởng đồng tâm và cùng chung một chính nghĩa. Putin coi đời sống dân chủ ở Tây phương chỉ là một trò chơi : ” người ta chơi trò dân chủ chỉ cốt để làm vui khán giả. “ Putin cho giới đầu sỏ kinh tài Âu – Mỹ còn mạnh thế hơn giới đầu xỏ ở Nga nhiều : khi mà điện Cẩm Linh cố bịp miệng giới đầu xỏ này thì các nước Tây phương mỗi ngày một thêm phụ thuộc sức mạnh của đồng tiền.. Cũng như khi đưa ra đường lối chính trị ở Siri, Putin tự đặt mình trong diễn luận của các vị Sa hoàng là phải hỗ trợ những người ki Tô giáo Phương Đông đang bị Tây phương vì lợi lộc bỏ rơi khi hỗ trợ một cách mù quáng những nhóm quá khích Hồi giáo.

Thực chất của quyền hành ? Tổng thống Putine tạo lại cho dân tộc Nga một căn cước mới dựa trên những dấu vết của một dân tộc đã xây dựng 2 đế quốc – Sa hoàng và Sô Viết – Dân tộc này đã từng bị pha loãng trong căn cước Sô Viết, nhưng lấy lại được sức lực trong chữ “Trung” đối với Nhà nước – Một khái niệm xuất phát từ giữa thế kỷ thứ XIX với một quyền hành trung ương, một cơ chế hữu hiệu trong sự truyền ngôi, và sự hiện diện của một lãnh đạo quyền uy. Khái niệm này cộng với ảnh hưởng của đạo Chính thống đã trở thành hệ tư tưởng đầu tiên cho nước Nga hậu Sô Viết. Như vậy đã được kiến tạo một trục quyền hành giữa điện Cẩm Linh của Putin và Giáo hội Chính thống Nga giống như dưới thời nhũng Sa hoàng Romanov đầu tiên, vị Giáo trưởng cũng là hoa tiêu phụ.

Giống Putin, Giáo trưởng Kyrill cũng sinh trưởng ở Leningrad và cững từ thiên hà KGB ra. ” Không một thày tu nào muốn trở thành giám mục mà không từ KGB mà ra “, cựu đại biểu Quốc hội Gleb Yakounine chẩn đoán như vậy. Ông này là một thày tu hoàn tục đã đọc được tài liệu lưu trữ của KGB khi Liên Xô sụp đổ. Dưới tên mã hóa “Mikhailov”, Kyrill đã bắt đầu hoạt động cho KGB từ đầu những năm 1970 trước khi được cử làm đại diện Giáo trưởng tại Genevơ. Ông này rất thích phong cảnh Thụy Sĩ và xe hơi loại chiến cho tới một bữa, chạy quá mau trên một con đường núi, xe BMW của ông bị đụng vào sườn núi. Cùng trong xe có một đại tá KGB và người con trai của ông này. Người này bị gẫy xương bả vai. Kyrill vội vã trở về nước và con đường sự nghiệp được lên nhanh như diều. Được lên hàng Tổng giám mục năm 1991, được bầu làm Giáo trưởng ngày 17-1-2009 thay thế Giáo trưởng Alexis II và được tôn phong làm Giáo trưởng Mốt Cu và toàn thể nước Nga ngày 1 tháng Hai 2009.
Hiện bây giờ không thể chối cãi, Kyrill là một diễn viên chính trị có uy tín lớn lôi kéo được nhiều người và là một quân bài chủ của Putin; ” Đừng nghe những kẻ khích động, hãy trở về nhà và cầu nguyện… Quyền con người chỉ là một cớ được bịa ra để nhục mạ những giá trị quốc gia “, giáo trưởng Kyrill tuyên bố như vậy trên đài truyền hình trước ngày có những cuộc biểu tình chống gian lận trong cuộc bầu Quốc hội tháng Hai năm 2012. Sau hết, sự liên minh giữa ngai vàng và bệ thờ, giáo trưởng thứ 16 của Mốt Cu và toàn thể nước Nga đã nói một câu đầy nghĩa tượng trưng một cuộc họp mặt với Putin : ” Chức vụ tổng thống của ông là một phép lạ của Chúa “… Cách đây 4 thế kỷ, sau cuộc bầu vị Sa hoàng thứ nhất của triều đại Romanov, Giáo hội Chính thống Nga cũng tuyên bố như vậy… Năm 1991 người ta đã nghĩ là “lịch sử đã chấm dứt “, theo câu nói của Hegel được Fukuyama lấy lại. Nhưng với nước Nga, lịch sử các Sa hoàng sẽ không bao giờ chấm dứt. Đó là điều mà mọi người khách nước ngoài đều phải ngẫm nghĩ trước khi đi đến Mốt Cu.
Nguyên Phong dịch
Nguồn: “Le Roman des Tsars”,NxbLes Editions du Rocher. Monaco, France. Tháng 2 năm2013.
Theo VHNA

Ba Câu Hỏi

Ba Câu Hỏi

Tolstoy, Leo
Ðó là chuyện ba câu hỏi khó của một nhà vua, do nhà văn hào Leo Tolstoy kể lại. 
Nhà vua ấy, Tolstoy không biết tên. Một hôm đức Vua nghĩ rằng, giá mà vua trả lời được ba câu hỏi ấy thì vua sẽ không bao giờ bị thất bại trong bất cứ công việc nào. Ba câu hỏi ấy là: 
1. Làm sao để biết được thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc? 
2. Làm sao để biết được nhân vật nào là nhân vật quan trọng nhất mà ta phải chú trọng?
3. Làm sao để biết được công việc nào là công việc cần thiết nhất mà ta phải thực hiện?


Nghĩ thế, vua liền ban chiếu ra khắp trong bàn dân thiên hạ, hứa rằng sẽ ban thưởng trọng hậu cho kẻ nào trả lời được những câu hỏi đó. 

Các bậc hiền nhân đọc chiếu liền tìm tới kinh đô. Nhưng mỗi người lại dâng lên vua một câu trả lời khác nhau.

Về câu hỏi thứ nhất, có người trả lời rằng muốn biết thời gian nào là thời gian thuận lợi nhất cho mỗi công việc thì phải làm thời biểu cho đàng hoàng, có ngày giờ năm tháng và phải thi hành cho thật đúng thời biểu ấy. Như vậy mới mong công việc làm đúng lúc. Kẻ khác thì lại nói không thể nào dự tính được trước những việc gì phải làm và thời gian để làm những việc ấy; rằng ta không nên ham vui mà nên chú ý đến mọi sự khi chúng xẩy tới để có thể làm bất cứ gì xét ra cần thiết.

Có kẻ lại nói rằng, dù vua có chú ý đến tình hình mấy đi nữa thì một mình vua cũng không đủ sáng suốt để định đoạt thời gian của mọi việc làm một cách sáng suốt, do đó nhà vua phải thành lập một Hội Ðồng Nhân Sĩ và hành động theo lời khuyến cáo của họ.

Lại có kẻ nói rằng, có những công việc cần phải lấy quyết định tức khắc không thể nào có thì giờ để tham khảo xem đã đến lúc phải làm hay chưa đến lúc phải làm. Mà muốn lấy quyết định cho đúng thì phải biết trước những gì sẽ xẩy ra, do đó, nhà vua cần phải cần đến những nhà cố vấn tiên tri và bốc phệ.

Về câu hỏi thứ hai, cũng có nhiều câu trả lời không giống nhau. Có người nói những nhân vật mà vua cần chú ý nhất là những ông đại thần và những người trong triều đình. Có người nói là mấy ông Giám Mục, Thượng Tọa là quan hệ hơn hết. Có người nói là mấy ông tướng lãnh trong quân đội là quan hệ hơn hết.

Về câu hỏi thứ ba, các nhà thức giả cũng trả lời khác nhau. Có người nói khoa học là quan trọng nhất. Có người nói tôn giáo là quan trọng nhất. Có người lại nói: chỉnh trang quân đội là quan trọng nhất.

Vì các câu trả lời khác nhau cho nên nhà vua không thể đồng ý với vị hiền nhân nào cả, và chẳng ban thưởng cho ai hết.

Sau nhiều đêm suy nghĩ vua quyết định đi chất vấn một ông đạo tu trên núi, ông đạo này nổi tiếng là có giác ngộ. Vua muốn tìm lên trên núi để gặp ông đạo và hỏi ba câu hỏi kia.

Vị đạo sĩ này chưa bao giờ chịu xuống núi và nơi ông ta ở chỉ có những người dân nghèo; chẳng bao giờ ông chịu tiếp người quyền quý. Vì vậy mà nhà vua cải trang làm thường dân. Khi đi đến chân núi, vua dặn vệ sĩ đứng chờ ở dưới, và một mình vua, trong y phục một thường dân, vua trèo lên am của ông đạo.

Nhà vua gặp ông đạo đang cuốc đất trước am. Khi trông thấy người lạ, ông đạo gật đầu chào rồi tiếp tục cuốc đất. Ông đạo cuốc đất một cách nặng nhọc bởi ông đã già yếu; mỗi khi cuốc lên được một tảng đất hoặc lật ngược được tảng đất ra thì ông lại thở hào hển.

Nhà vua tới gần ông đạo và nói: "Tôi tới đây để xin ông đạo trả lời giúp cho tôi ba câu hỏi. Làm thế nào để biết đúng thì giờ hành động, đừng để cho cơ hội qua rồi sau phải hối tiếc ? Ai là những người quan trọng nhất mà ta phải chú ý tới nhiều hơn cả ? Và công việc nào quan trọng nhất cần thực hiện trước tiên ?"

Ông đạo lắng nghe nhà vua nhưng không trả lời. Ông chỉ vỗ vai nhà vua và cúi xuống tiếp tục cuốc đất.

Nhà vua nói: "Ông đạo mệt lắm rồi, thôi đưa cuốc cho tôi, tôi cuốc một lát". Vị đạo sĩ cám ơn và trao cuốc cho Vua rồi ngồi xuống đất nghỉ mệt. Cuốc xong được hai vồng đất thì nhà vua ngừng tay và lập lại câu hỏi. Ông đạo vẫn không trả lời, chỉ đứng dậy và đưa tay ra đòi cuốc, miệng nói: "Bây giờ bác phải nghỉ, đến phiên tôi cuốc". Nhưng nhà vua thay vì trao cuốc lại cúi xuống tiếp tục cuốc đất.

Một giờ rồi hai giờ đồng hồ đi qua. Rồi mặt trời bắt đầu khuất sau đỉnh núi. Nhà vua ngừng tay, buông cuốc, và nói với ông đạo:

"Tôi tới để xin ông đạo trả lời cho mấy câu hỏi. Nếu ông đạo không thể trả lời cho tôi câu nào hết thì xin cho biết để tôi còn về nhà".

Ông đạo nghe tiếng chân người chạy đâu đây bèn nói với nhà vua: "Bác thử xem có ai chạy lên kìa". Nhà vua ngó ra thì thấy một người có râu dài đang chạy lúp xúp sau mấy bụi cây, hai tay ôm bụng. Máu chảy ướt đầm cả hai tay. Ông ta cố chạy tới chỗ nhà vua và ngất xỉu giữa đất, nằm im bất động miệng rên ri rỉ. Vua và ông đạo cởi áo người đó ra thì thấy có một vết đâm sâu nơi bụng. Vua rửa chỗ bị thương thật sạch và xé áo của mình ra băng bó vết thương, nhưng máu thấm ướt cả áo. Vua giặt áo và đem băng lại vết thương. Cứ như thế cho đến khi máu ngừng chảy.

Lúc bấy giờ người bị thương mới tỉnh dậy và đòi uống nước. Vua chạy đi múc nước suối cho ông ta uống. Khi đó mặt trời đã bắt đầu khuất và bắt đầu lạnh. Nhờ sự tiếp tay của ông đạo, nhà vua khiêng người bị nạn vào trong am và đặt nằm trên giường ông đạo. Ông ta nhắm mắt nằm yên. Nhà vua cũng mệt quá vì leo núi và cuốc đất cho nên ngồi dựa vào cánh cửa và ngủ thiếp đi. Vua ngủ ngon cho đến nỗi khi Vua thức dậy thì trời đã sáng và phải một lúc sau Vua mới nhớ ra được mình đang ở đâu và đang làm gì. Vua nhìn về phía giường thì thấy người bị thương cũng đang nhìn mình chòng chọc, hai mắt sáng trưng.

Người đó thấy vua tỉnh giấc rồi và đang nhìn mình thì nói, giọng rất yếu ớt:
"Xin bệ hạ tha tội cho thần".
"Ông có làm gì nên tội đâu mà phải tha ?" 

"Bệ hạ không biết hạ thần, nhưng hạ thần biết bệ hạ. Hạ thần là người thù của bệ hạ, Hạ thần đã thề sẽ giết bệ hạ cho bằng được bởi vì khi xưa, trong chinh chiến bệ hạ đã giết mất người anh của hạ thần và còn tịch thu gia sản của hạ thần nữa". 

"Hạ thần biết rằng bệ hạ sẽ lên núi này một mình để gặp ông đạo sĩ, nên đã mai phục quyết tâm giết bệ hạ trên con đường về. Nhưng cho đến tối mà bệ hạ vẫn chưa trở xuống, nên hạ thần đã rời chỗ mai phục mà đi lên núi tìm bệ hạ để hành thích. Thay vì gặp bệ hạ, hạ thần lại gặp bốn vệ sĩ. Bọn nầy nhận mặt được hạ thần cho nên đã xông lại đâm hạ thần. Hạ thần trốn được chạy lên đây, nhưng nếu không có bệ hạ cứu thì chắc chắn hạ thần đã chết vì máu ra nhiều quá. Hạ thần quyết tâm hành thích bệ hạ mà bệ hạ lại cứu sống được hạ thần. Hạ thần hối hận quá. Bây giờ đây nếu hạ thần mà sống được thì hạ thần nguyện sẽ làm tôi mọi cho bệ hạ suốt đời, và hạ thần cũng sẽ bắt các con của hạ thần làm như vậy. Xin bệ hạ tha tội cho hạ thần".

Thấy mình hòa giải được với kẻ thù một cách dễ dàng nhà vua rất vui mừng. Vua không những tha tội cho người kia mà còn hứa sẽ trả lại gia sản cho ông ta, và gửi ngự y cùng quân hầu tới săn sóc cho ông ta lành bệnh.

Sau khi cho vệ sĩ khiêng người bị thương về nhà, vua trở lên tìm ông đạo để chào. Trước khi ra về vua còn lặp lại lần cuối ba câu hỏi của vua. Ông đạo đang quỳ gối xuống đất gieo những hạt đậu trên những luống đất đã cuốc sẵn hôm qua.

Vị đạo sĩ đứng dậy nhìn vua: "Nhưng ba câu hỏi của vua đã được trả lời rồi mà".

Vua hỏi: "trả lời bao giờ đâu nào ?"


"Hôm qua nếu Vua không thương hại bần đạo già yếu mà ra tay cuốc dùm mấy luống đất này thì khi ra về nhà vua đã bị kẻ kia mai phục hành thích mất rồi, và nhà Vua sẽ tiếc rằng đã không ở lại cùng ta. Vì vậy thời gian quan trọng nhất là thời gian Vua đang cuốc đất; nhân vật quan trọng nhất lúc đó là bần đạo đây, và công việc quan trọng nhất là công việc giúp bần đạo. Rồi sau đó khi người bị thương nọ chạy lên, thời gian quan trọng nhất là thời gian vua chăm sóc cho ông ta, bởi vì nếu vua không băng vết thương cho ổng thì ổng sẽ chết và vua không có dịp hòa giải với ổng; cũng vì thế mà ông ta là nhân vật quan trọng nhất, và công việc vua làm để băng bó vết thương là quan trọng nhất. 

Xin vua hãy nhớ kỹ điều này: "chỉ có một thời gian quan trọng mà thôi, đó là thời gian hiện tại, là giờ phút hiện tại. Giờ phút hiện tại quan trọng bởi vì đó là thời gian duy nhất trong đó ta có thể làm chủ được ta. Và nhân vật quan trọng nhất là kẻ đang cụ thể sống với ta, đang đứng trước mặt ta, bởi vì ai biết được là mình sẽ đương đầu làm việc với những kẻ nào trong tương lai. Công việc quan trọng nhất là công việc làm cho người đang cụ thể sống bên ta, đang đứng trước mặt ta được hạnh phúc, bởi vì đó là ý nghĩa chính của đời sống.

(Trích từ Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức - TNH )
_________________________ 

THREE QUESTIONS

Leo Tolstoy

IT once occurred to a certain king, that if he always knew the right time to begin everything; if he knew who were the right people to listen to, and whom to avoid, and, above all, if he always knew what was the most important thing to do, he would never fail in anything he might undertake.

And this thought having occurred to him, he had it proclaimed throughout his kingdom that he would give a great reward to any one who would teach him what was the right time for every action, and who were the most necessary people, and how he might know what was the most important thing to do.

And learned men came to the King, but they all answered his questions differently.

In reply to the first question, some said that to know the right time for every action, one must draw up in advance, a table of days, months and years, and must live strictly according to it. Only thus, said they, could everything be done at its proper time. Others declared that it was impossible to decide beforehand the right time for every action; but that, not letting oneself be absorbed in idle pastimes, one should always attend to all that was going on, and then do what was most needful. Others, again, said that however attentive the King might be to what was going on, it was impossible for one man to decide correctly the right time for every action, but that he should have a Council of wise men, who would help him to fix the proper time for everything.

But then again others said there were some things which could not wait to be laid before a Council, but about which one had at once to decide whether to undertake them or not. But in order to decide that one must know beforehand what was going to happen. It is only magicians who know that; and, therefore in order to know the right time for every action, one must consult magicians.

Equally various were the answers to the second question. Some said, the people the King most needed were his councillors; others, the priests; others, the doctors; while some said the warriors were the most necessary.

To the third question, as to what was the most important occupation: some replied that the most important thing in the world was science. Others said it was skill in warfare; and others, again, that it was religious worship.

All the answers being different, the King agreed with none of them, and gave the reward to none. But still wishing to find the right answers to his questions, he decided to consult a hermit, widely renowned for his wisdom.

The hermit lived in a wood which he never quitted and he received none but common folk. So the King put on simple clothes, and before reaching the hermit's cell dismounted from his horse, and, leaving his bodyguard behind, went on alone.

When the King approached, the hermit was digging the ground in front of his hut. Seeing the King, he greeted him and went on digging. The hermit was frail and weak, and each time he stuck his spade into the ground and turned a little earth, he breathed heavily.

The King went up to him and said: 'I have come to you, wise hermit, to ask you to answer three questions: How can I learn to do the right thing at the right time? Who are the people I most need, and to whom should I, therefore, pay more attention than to the rest? And, what affairs are the most important and need my first attention?'

The hermit listened to the King, but answered nothing. He just spat on his hand and recommenced digging.

'You are tired,' said the King, 'let me take the spade and work awhile for you.'

'Thanks!' said the hermit, and, giving the spade to the King, he sat down on the ground.

When he had dug two beds, the King stopped and repeated his questions. The hermit again gave no answer, but rose, stretched out his hand for the spade, and said:

'Now rest awhile -- and let me work a bit.'

But the King did not give him the spade, and continued to dig. One hour passed, and another. The sun began to sink behind the trees, and the King at last stuck the spade into the ground, and said:

'I came to you, wise man, for an answer to my questions. If you can give me none, tell me so, and I will return home.'

'Here comes some one running,' said the hermit, 'let us see who it is.'

The King turned round, and saw a bearded man come running out of the wood. The man held his hands pressed against his stomach, and blood was flowing from under them. When he reached the King, he fell fainting on the ground moaning feebly. The King and the hermit unfastened the man's clothing. There was a large wound in his stomach. The King washed it as best he could, and bandaged it with his handkerchief and with a towel the hermit had. But the blood would not stop flowing, and the King again and again removed the bandage soaked with warm blood, and washed and rebandaged the wound. When at last the blood ceased flowing, the man revived and asked for something to drink. The King brought fresh water and gave it to him. Meanwhile the sun had set, and it had become cool. So the King, with the hermit's help, carried the wounded man into the hut and laid him on the bed. Lying on the bed the man closed his eyes and was quiet; but the King was so tired with his walk and with the work he had done, that he crouched down on the threshold, and also fell asleep -- so soundly that he slept all through the short summer night. When he awoke in the morning, it was long before he could remember where he was, or who was the strange bearded man lying on the bed and gazing intently at him with shining eyes.

'Forgive me!' said the bearded man in a weak voice, when he saw that the King was awake and was looking at him.

'I do not know you, and have nothing to forgive you for,' said the King.

'You do not know me, but I know you. I am that enemy of yours who swore to revenge himself on you, because you executed his brother and seized his property. I knew you had gone alone to see the hermit, and I resolved to kill you on your way back. But the day passed and you did not return. So I came out from my ambush to find you, and I came upon your bodyguard, and they recognized me, and wounded me. I escaped from them, but should have bled to death had you not dressed my wound. I wished to kill you, and you have saved my life. Now, if I live, and if you wish it, I will serve you as your most faithful slave, and will bid my sons do the same. Forgive me!'

The King was very glad to have made peace with his enemy so easily, and to have gained him for a friend, and he not only forgave him, but said he would send his servants and his own physician to attend him, and promised to restore his property.

Having taken leave of the wounded man, the King went out into the porch and looked around for the hermit. Before going away he wished once more to beg an answer to the questions he had put. The hermit was outside, on his knees, sowing seeds in the beds that had been dug the day before.

The King approached him, and said:

'For the last time, I pray you to answer my questions, wise man.'

'You have already been answered!' said the hermit still crouching on his thin legs, and looking up at the King, who stood before him.

'How answered? What do you mean?' asked the King.

'Do you not see,' replied the hermit. 'If you had not pitied my weakness yesterday, and had not dug these beds for me, but had gone your way, that man would have attacked you, and you would have repented of not having stayed with me. So the most important time was when you were digging the beds; and I was the most important man; and to do me good was your most important business. Afterwards, when that man ran to us, the most important time was when you were attending to him, for if you had not bound up his wounds he would have died without having made peace with you. So he was the most important man, and what you did for him was your most important business. Remember then: there is only one time that is important -- Now! It is the most important time because it is the only time when we have any power. The most necessary man is he with whom you are, for no man knows whether he will ever have dealings with any one else: and the most important affair is, to do him good, because for that purpose alone was man sent into this life!'

1903.

Phép thử của Socrates

Phép thử của Socrates

Tương truyền vào thời Hy Lạp Cổ đại, một bữa nọ có người tới gặp nhà hiền triết vĩ đại Socrates và bảo “Ngài có biết tôi mới nghe được một câu chuyện xấu về người bạn của ngài không?”.Sau một thoáng trầm ngâm, Socrates từ tốn đáp: “Trước khi nghe ngài kể, tôi muốn ngài dành một chút thời gian để lọc lựa những gì ngài định nói. Tôi gọi đó là phép thử lọc 3 lớp.


Lớp thứ 1 lọc tìm Sự thật – Ngài có tin tưởng tuyệt đối rằng những điều mà ngài định kể cho tôi nghe là sự thật?

“Không, thực ra tôi chỉ nghe người ta kể lại thôi và…”.

“Rõ rồi, chính vì thế ngài không biết những điều ngài định nói có phải là sự thật hay không”.
Socrates nói.

“Nào, bây giờ chúng ta qua lớp lọc thứ 2 được dùng để tìm ra Thiện Ý. Ngài có khẳng định rằng ngài hoàn toàn xuất phát từ thiện ý không, khi định kể cho tôi nghe những chuyện xấu của bạn tôi?”, Socrates hỏi.

“Không, ngược lại…” Vị khách của Socrates trả lời.

“Thế nên những chuyện xấu của bạn tôi có thật hay không vẫn là một câu hỏi”
“Xin ngài chớ vội buồn” - Socrates nói, “có thể ngài sẽ qua lớp lọc còn lại”

“Xin ngài cho tôi biết: Chuyện mà ngài sắp kể đấy, Có ích cho tôi hay không?”.
Người kia đáp: “Không”.
Socrates nhìn vào mắt của vị khách và nói “Nếu câu chuyện ngài định kể cho tôi nghe chưa chắc đã là sự thật và cũng không xuất phát từ thiện ý và chẳng có ích gì cho tôi, thì ngài định kể để làm gì? Và liệu tôi sẽ nghe và tin chăng?


Khi đứng trước một sự vật sự việc do người khác kể, đừng vội tin nó, mà hãy dùng phép thử lọc 3 lớp để tìm ra chân lý. Đó chính là một kinh nghiệm sống.

Người Việt cư trú bất hợp pháp ở Hoa Kỳ

Người Việt cư trú bất hợp pháp ở Hoa Kỳ

 
Theo số liệu của USCIS Center For Immigration Studies Trung Tâm Nghiên Cứu Di Dân của Hoa Kỳ, hiện có trên 11 triệu người nước ngoài đang sống trong tình trạng bất hợp pháp trên đất Mỹ, trong đó 300.000 đến từ Châu Âu, 800.000 đến từ Nam Mỹ, nhiểu triệu đến từ Mexico và những cộng đồng Hispanic khác, một triệu đến từ Châu Á mà trong đó không ít người đến từ Việt Nam.
Thế nào là cư trú bất hợp pháp

Cơ quan cấp quốc tich - thẻ xanh - visa của Hoa KỳVẫn theo thống kê của USCIS, chỉ trong năm 2011, chính phủ Hoa Kỳ đã cấp gần 32.000 visa di dân và khoảng 90.000 visa không di dân cho người Việt sang Hoa Kỳ:

Visa di dân, cũng có thể gọi visa định cư, cho phép đương đơn nhập cảnh đồng thời ở lại và sinh sống vĩnh viễn theo diện đoàn tụ gia đình hoặc công việc làm, được công ty hoặc tập đoàn thuê và đứng ra bảo lãnh cho đương đơn có thẻ xanh.

 

Còn visa không di dân hoặc visa không định cư có nghĩa là những loại visa mà đương đơn sau khi nhập cảnh Hoa Kỳ một thời gian tạm thời thì phải xuất cảnh Hoa Kỳ. Những diện visa này gồm du học, du lịch, công tác, giao lưu văn hóa vân vân... Những loại visa không di dân này yêu cầu đương đơn phải có lịch trình làm việc, lịch trình du lịch, một cái lịch tạm trú tại Mỹ thật chính xác và cụ thể. Sau cái lịch trình làm việc và kế hoạch công tác đó thì họ phải ra khỏi Mỹ.

Đó là lời thạc sĩ Huy Tôn, cư dân Seattle, tiểu bang Washington, Hoa Kỳ, tốt nghiệp ngành Quản Trị Kinh Doanh, từng làm việc cho Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại Việt Nam, hiện nay là giám đốc công ty SG Visa Smaller Globe Visa ở Sài Gòn:

Từ 2006 cho tới 2009 tôi có làm việc cho Bộ Phận Tái Định Cư Nhân Đạo (HRS) thuộc Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ, vì vậy tôi cũng được huấn luyện và có kinh nghiệm thực tế khi tham gia phỏng vấn và cứu xét hàng ngàn hồ sơ của những đương đơn, những gia đình mà trước đây không được cơ hội tham gia vào chương trình H.O.

Những đương đơn được ông ta cấp visa này thông thường sác xuất được cấp của họ không cao lắm, vì vậy họ đã bỏ tiền ra để mua visa nhập cảnh Hoa Kỳ. Từ 20.000 đô tới 70.000 đô một cái visa, và với hơn 500 visas thì ông Michael Sestak có được một số tiền rất lớn.

ông Michael Sestak
Từ 2009, sau khi không còn làm việc cho Bộ Phận Tái Định Cư Nhân Đạo thuộc Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ nữa thì tôi mở công ty SG Visa Smaller Globe Visa. SG Visa từ 2011 tới nay đã giúp cho hàng trăm gia đình nhập cảnh Hoa Kỳ theo diện visa định cư hoặc visa không định cư.

Sinh viên Việt Nam ở một trường trung học Hoa KỳĐến với mục Đời Sống Người Việt Khắp Nơi tối nay, thạc sĩ Huy Tôn chia sẻ thông tin và kiến thức về đời sống cũng như sinh hoạt của người Việt cư trú bất hợp pháp trên đất Mỹ, đặc biệt trong đó không thiếu những người Việt giàu có đã chi ra vài chục ngàn đô la để đi Mỹ theo đường dây mua bán visa của ông Michael Sestak, cựu giám đốc Bộ Phận Visa Không Định Cư của Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ tại Việt Nam:

Ông Michael Sestak làm việc cho Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ từ 2010, là người quyết định cấp hoặc từ chối rất nhiều đương đơn mong được visa nhập cảnh Hoa Kỳ theo diện du học, du lịch, công tác, giao lưu văn hóa và những loại visa không định cư khác. Tới tháng Ba năm 2012, ông ta bắt đầu có nhiều dấu hiệu tạo ra đường dây buôn visa cho rất nhiều người. Hơn năm trăm đương đơn nhận được những visa từ ông ta với giá 20.000 cho tới 70.000 đô. Những đương đơn được ông ta cấp visa này thông thường sác xuất được cấp của họ không cao lắm, vì vậy họ đã bỏ tiền ra để mua visa nhập cảnh Hoa Kỳ. Từ 20.000 đô tới 70.000 đô một cái visa, và với hơn 500 visas thì ông Michael Sestak có được một số tiền rất lớn.

 

Tháng Năm 2013, ông Michael Sestak bị bắt tại Nam California về tội gian lận và nhận hối lộ trong việc cấp visa cho hàng ngàn đương đơn người Việt muốn sang Hoa Kỳ nhưng khả năng đơn được chấp thuận không cao. Nếu bị tòa phán quyết có tội thì ông Sestak có thể lãnh 20 năm tù.

Theo thạc sĩ Huy Tôn, trong lúc vụ án Michael Sestak và các đồng phạm chưa được xét xử thì hơn 500 đương đơn được ông Sestak cấp visa và đã qua Mỹ, đương nhiên không phải sang chơi rồi về với cái giá mấy chục ngàn đô la một chuyến đi, chắc chắn đang thấp thỏm, lo lắng vì áp lực cấp bách làm sao hợp thức hóa tình trạng cư trú của mình:

Họ có thể bị bắt giữ bất cứ lúc nào nếu visa không di dân của họ đã hết hạn mà họ vẫn không ra khỏi Mỹ. Họ sẽ bị bắt giữ, tạm giam sau đó trục xuất ra khỏi Mỹ. Bị trục xuất ra khỏi Mỹ thì gần như là vĩnh viễn không còn cơ hội quay lại thêm một lần nữa.



 

Theo thông tin mà tôi có được thì ông Michael Sestak đã tự thú là ông ta có nhận tiền để cấp visa. Tuy nhiên đó là một phía của ông Michael Sestak mà thôi, còn trên luật pháp cần phải có bằng chứng cụ thể để quyết định rằng hồ sơ này không đáng được cấp visa, hoặc hồ sơ này đáng được cấp visa. Đồng thời nếu như ông Michael Sestak và đồng bọn không thể nào cung cấp những bằng chứng, cho thấy hơn 500 đương đơn này đã trả tiền cho ông ta, thì chính phủ Hoa Kỳ không thể nào nói rằng hơn 500 đương đơn này đã mua visa cả, và hơn 500 đương đơn này không đáng được cấp visa nhập cảnh Hoa Kỳ.

 

Không ít người Việt thành công với nghề làm móng tay tại Hoa Kỳ
Đó là khía cạnh tế nhị lẫn phức tạp của vấn đề mà Thanh Trúc mong tìm được sự lý giải đúng đắn của pháp luật trong một bài khác. Trở lại với cuộc sống và sinh hoạt của ngoại kiều nói chung và người Việt đang cư trú bất hợp pháp ở Hoa Kỳ nói riêng:

Họ có thể bị bắt giữ bất cứ lúc nào nếu visa không di dân của họ đã hết hạn mà họ vẫn không ra khỏi Mỹ. Họ sẽ bị bắt giữ, tạm giam sau đó trục xuất ra khỏi Mỹ. Bị trục xuất ra khỏi Mỹ thì gần như là vĩnh viễn không còn cơ hội quay lại thêm một lần nữa.

Còn muốn giảm thiểu rủi ro bị bắt giữ và nguy cơ bị trục xuất khỏi nước Mỹ thì người cư trú bất hợp pháp phải chịu rất nhiều sự thiệt thòi bởi có quá nhiều cái không thể và không thể.


Thạc sĩ Huy Tôn trình bày tiếp:
Đối với hơn 11 triệu ngoại kiều sống bất hợp pháp tại Hoa Kỳ, vì rất nhiều người cho tới nay đã thiết lập được cuộc sống mới, và để giảm thiểu cái rủi ro bị bắt giữ thì họ phải tránh né. Họ không thể nào đăng ký các phúc lợi an sinh xã hội như công dân và thường trú nhân Hoa Kỳ đang được hưởng. Họ không thể nào đi làm một cách chính thức và được trả lương. Họ không thể nào trả thuế cho chính phủ Hoa Kỳ và họ chỉ có thể đi làm tiền mặt cho những công việc không trả bằng chi phiếu hay những hình thức chi trả khác.

Về phương diện công việc thì như vậy, về sinh hoạt thì người cư trú bất hợp pháp ở Mỹ không thể nào thi để có bằng lái xe, một yêu cầu rất quan trọng khi đi xin và đi kiếm việc làm ở Mỹ:

Hoặc nếu như trước đây họ có bằng lái xe và bây giờ bằng lái xe của họ hết hạn thì họ cũng không thể nào renew thi lấy bằng lái xe mới . Họ không thể nào đăng ký đi học hoặc là không thể nào gây ẩu đả hay cãi nhau với bạn bè hàng xóm mà dẫn đến xung đột dẫn đến cảnh sát hòa giải mà có thể họ sẽ bị cảnh sát bắt giữ và trục xuất luôn.

 

Đã là người cư trú không giấy tờ nơi đất Mỹ thì dù có tiền cũng chẳng mua được sự hợp lệ cho bản thân mà e rằng còn liên lụy đến người trong gia đình vốn là thường trú nhân hợp pháp

Đã là người cư trú không giấy tờ nơi đất Mỹ thì dù có tiền cũng chẳng mua được sự hợp lệ cho bản thân mà e rằng còn liên lụy đến người trong gia đình vốn là thường trú nhân hợp pháp.

Từ bất hợp pháp thành hợp pháp?

 

Tuy nhiên, thạc sĩ Huy Tôn nói, cũng có những cách mà nếu hiểu biết và theo luật thì có thể chuyển đổi từ tình trạng bất hợp lệ sang thành hợp pháp:

Ví dụ nhiều người, đã sử dụng visa không di dân để nhập cảnh Hoa Kỳ, khi cận ngày visa hết hạn thì họ có thể chuyển đổi visa du lịch bằng visa du học bằng cách đến một trường Cao Đẳng hoặc Đại Học Cộng Đồng hoặc đại học nào đó không quá nổi tiếng, không quá đắt đỏ, và họ yêu cầu trường Cao Đẳng này hoặc Đại Học Cộng Đồng này cho họ nhập học để họ có thể học bán thời gian hầu tiếp tục duy trì sự hiện diện ở Mỹ dài hơn một cách hợp pháp.

Một cách khác là tìm đến một công ty hoặc một tập đoàn, nhất là công ty hay tập đoàn của gia đình hay bạn thân, yêu cầu công ty hay tập đoàn này bão lãnh để họ có được thẻ xanh khi làm việc cho công ty hoặc tập đoàn này. Tuy nhiên điều này cũng có một số khó khăn, nếu đi theo hướng này thì cả đương đơn lẫn công ty phải chứng minh rằng công ty có nhu cầu sử dụng lao động và đương đơn có kiến thức, kỷ năng và kinh nghiệm đáp ứng được cái nhu cầu cái vị trí mà công ty đang tuyển dụng, mà vị trí này không thể nào được đáp ứng bởi thị trường lao động tại Mỹ.

 

Một cách khác nữa để hợp thức hóa là tham gia vào chương trình đầu tư để định cư, nhưng:

Một cách khác là tìm đến một công ty hoặc một tập đoàn, nhất là công ty hay tập đoàn của gia đình hay bạn thân, yêu cầu công ty hay tập đoàn này bão lãnh để họ có được thẻ xanh khi làm việc cho công ty hoặc tập đoàn này (thạc sĩ Huy Tôn)

Theo chương trình này họ vẫn tiếp tục sống ở Mỹ bất hợp pháp cho tới khi nào Bộ Di Trú chấp thuận hồ sơ đầu tư định cư của họ, rồi họ phải quay về Việt Nam để được Lãnh Sự Quán phỏng vấn. Với những người dưới tuổi vị thành niên thì nên đợi Quốc Hội Hoa Kỳ ban hành Luật dựa trên Dự Luật gọi là Dream Act. Dream Act cho phép người nhập cảnh Hoa Kỳ khi còn dưới tuổi vị thành niên và đã sống ở Mỹ một thời gian dài và đã tốt nghiệp trung học tại một trường ở Hoa Kỳ. Đây cũng chỉ mới là Dự Luật, một đề tài nóng bỏng mà Hoa Kỳ đang quan tâm.

 

Cuối cùng, cách phổ biến nhất, được nghĩ đến nhiều nhất là kết hôn với một công dân hay một thường trú nhân hợp pháp ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, để thuyết phục Bộ Di Trú rằng mối quan hệ vợ chồng hoặc mối quan hệ hôn phối là chính đáng thì họ cần chứng minh quan hệ xuất phát trong quá khứ, dựa trên tình cảm mà không vì mục đích định cư, rằng quan hệ đang được duy trì trong hiện tại và sẽ tiếp diễn trong tương lai:

Cũng là một trong những điều rất khó vì bên Bộ Di Trú Hoa Kỳ biết rất rõ là có rất nhiều người nhập cảnh Hoa Kỳ với mục dích định cư chứ không vì mục đích hôn nhân và hoặc đoàn tự gia đình và họ chỉ dựa vào Luật Hôn Nhân để được định cư tại Hoa Kỳ mà thôi.

Chính vì vậy, sau tất cả những điều vừa trình bày, để trở thành thường trú nhân hợp lệ trên đất Mỹ thì việc chuẩn bị hồ sơ, chuẩn bị kiến thức, chuẩn bị bằng chứng để thuyết phục Bộ Di Trú Hoa Kỳ là điều rất cần thiết giúp đương đơn và người bảo lãnh vượt qua khi phải đương đầu với Bộ Di Trú Hoa Kỳ.

Thực tế, nói về cộng đồng người Châu Mỹ La Tinh ở Hoa Kỳ trước giờ, quá nhiều thành phần gọi là undocumented, không có giấy tờ, mà vợ chồng con cái vẫn không hề hấn gì. Phương chi, cộng đồng người Việt cư trú bất hợp pháp ở Mỹ thì quá nhỏ so với cộng đồng bạn đó. Thạc sĩ Huy Tôn khẳng định là đừng mang tương lai của mình và con cái mình ra thách đố với pháp luật của quốc gia sở tại:
 
Sống bất hợp pháp tại Hoa Kỳ tôi nghĩ cái đó chỉ có thể được trả lời bởi từng đương đơn một. Tôi nghĩ mỗi người được quyền tìm cho mình cơ hội mưu cầu hạnh phúc, mưu cầu được nơi mà họ sinh sống và Mỹ là một đất nước có nhiều cơ hội. Tuy nhiên để phát triển để có cuộc sống an khang thịnh vượng thì các đương đơn này nên hợp thức hóa sự hiện diện của họ tại Hoa Kỳ vì điều này sẽ giúp cho giấc mơ của họ trở thành hiện thực.
Thanh Trúc

Truy tìm Tên & Tài sản của các lãnh đạo...

Truy tìm Tên & Tài sản của các lãnh đạo...
Việc “thua lỗ“ từng tiền tỉ đô-la của những Tập đoàn Kinh tế nhà nước là chủ ý ăn cướp của chung thành của riêng. Nhà nước chỉ xử và kết tội như cách chức, thuyên chuyển.
Đối với dân, điều quan trọng không phải là những tên ăn cướp đó mất chức hay bị thuyên chuyển, mà chính là phải tìm ra những tiền ăn cướp đó nằm ở đâu để hoàn trả lại cho dân vì đó là tài sản của quốc gia và do tiền đóng thuế của dân.
Những tên lãnh đạo ăn cướp đó tìm mọi cách để chuyển tiền ăn cướp ra nước ngoài cất giấu. Làm thế nào tìm ra xem chúng cất giấu ở đâu để có thể thâu hồi lại cho dân.
Việc truy tìm này không phải là dễ dàng vì chính các Ngân Hàng giữ BÍ MẬT NGÂN HÀNG không tiết lộ ra.
TUẦN VỪA RỒI, MỘT DỊP MAY MẮN XẨY RA, đó là cuộc họp G8 tại Ái Nhĩ Lan đặt chính yếu vấn đề phế bỏ BÍ MẬT NGÂN HÀNG. Các Nguyên thủ của G8 đồng ký một Quyết Định đòi hỏi THÔNG TIN TỰ ĐỘNG NGÂN HÀNG (Informations automatiques bancaires) đối với những người nước ngoài chuyển tiền cất giữ tại một Ngân Hàng nước khác.
Nhật báo TRIBUNE DE GENEVE ngày 19.06.2013, trang 3, đã tóm tắt Quyết Định này mà chính Hoa kỳ đang đòi hỏi Thụy sĩ phải thực hiện:
“La loi FACTA, pour “Foreign Account Tax Compliance Act“, implique que les établissements financiers (banques, fonds de placement ou simples fiduciaires) déclarent au fisc américain les avoirs de leurs clients américains, quel que soit leur pays de résidence. En résumé, la loi américaine s’étendra partout dans le monde“ (Luật FACTA (Foreign Account Tax Compliance Act) hàm ngụ rằng những những cơ sở tài chánh (ngân hàng, quỹ đầu tư hay tổ chức lãnh chuyển di sản đơn giản) phải khai trình cho sở thuế Mỹ những tài sản của khách hàng Mỹ của mình cho dù những khách hàng ấy cư ngụ ở một nước khác. Tóm lại, Luật Hoa kỳ sẽ lan rộng ra mọi nơi trên khắp Thế giới).

Với Quyết Định như vậy của G8, người (...) ta có quyền đòi hỏi chính những Ngân Hàng thuộc G8 phải thực hiện THÔNG TIN TỰ ĐỘNG NGÂN HÀNG (Informations automatiques bancaires) để phải khai ra TÊN và TÀI SẢN của những lãnh đạo tham nhũng.

Tại Thụy sĩ, chúng tôi đã bắt đầu tham khảo với một Luật sư Thụy sĩ về tiến trình phải đấu tranh trong vấn đề này.


THÔNG TIN TỰ ĐỘNG TỪ NGÂN HÀNG: ĐẶT NGƯỢC LẠI VẤN ĐỀ CHO MỸ & G8

Cuộc Họp G8 mà chúng tôi trình bầy về quyết định chính yếu là THÔNG TIN TỰ ĐỘNG NGÂN HÀNG về những tài sản ký gửi của những công dân một nước cho Chính quyền nước ấy. Quyết định này sẽ được phổ quát hóa cho mọi nước trên Thế giới. Như vậy vấn đề BÍ MẬT NGÂN HÀNG sẽ không còn nữa.

Bí mật Ngân Hàng

Thực ra sự kín đáo về tài sản, tiền bạc là tính tự nhiên của mỗi người. Một trong những tính chất của Tiền tệ là khả năng tồn trữ trong thời gian. Việc tồn trữ này có mục đích bảo đảm tương lai, nhất là ở thời kỳ một cá nhân đã giảm hoặc mất khả năng làm ra tiền. Đối với những người làm được nhiều tiền, đến một mức nào đó, họ tìm cách cất giữ cho kỹ đồng tiền đã cực nhọc làm ra. Những người giầu thực sự, họ trở thành kín đáo. Ngay cả giữa vợ chồng, cũng có sự kín đáo cất giữ riêng tiền bạc này. Đối với súc vật, cũng có sự giấu cất kín đáo đồ ăn thu lượm được. Con sóc trong mùa có nhiều trái khô, ăn không hết, cũng mang cất giấu đồ ăn, lấy đất và lá phủ đi để lúc thiếu đồ ăn, đến đó tìm lại. Có lẽ chỉ những người không giầu có, lại muốn phô trương vòng vàng, khoe khoang tiền bạc tiêu pha để lòe thiên hạ.

Xem như vậy, vấn đề bí mật ngân hàng có cái nguồn gốc tự nhiên của nó thuộc về bản tính con người. Khi có tiền, nếu tự mình cất giữ không được bảo đảm an toàn, có thể ký thác gửi ở một người hay một tổ chức mà mình thấy an toàn hơn. Nếu người hoặc tổ chức được tín nhiệm ký thác giữ tiền mà đi rêu rao khắp thiên hạ về tên người đã gửi tiền, thì chắc chắn người này không hài lòng và sẽ rút tiền ra để đi gửi người khác hay một tổ chức khác cất giữ dùm và kín miệng hơn.

Chính vì tính tự nhiên của con người và việc kín đáo của người được ký thác giữ tiền mà dân chúng Thụy sĩ đã bầu phiếu quyết định về BÍ MẬT NGÂN HÀNG.
Tại sao G8 quyết định Ngân Hàng phải TỰ ĐỘNG nói toang ra tên người gửi tiền
Nhiều người dân bình thường đã cắt nghĩa đòi hỏi ồn ào này của G8 theo sự hiểu đơn giản của họ: 
- Gặp thời kỳ nợ công chồng chất tại mỗi nước, các Chính phủ G8 gặp khủng hoảng Ngân sách, đã tìm hết cách để moi ra tiền.
- Người ta thường than rằng tại Hoa kỳ, Luật sư đông như rươi. Mỹ nhiều Luật sư nhất Thế giới tính theo đầu người. Luật sư không sản xuất, nhưng sống với những khúc mắc của người khác. Cái bé xé ra to và càng to bao nhiêu thì Luật sư càng có việc làm và được thù lao cao. Luật LEX AMERICANA mà Hoa kỳ muốn áp đặt Quốc Hội Thụy sĩ phải bầu phiếu chấp thuận gồm đầy những lý do đe dọa trừng phạt tiền tỉ cho một số Ngân Hàng Thụy sĩ.
- Riêng về FACTA mà Bà Bộ trưởng Tài chánh Thụy sĩ Eveline WIDMER-SCHLUMPF đã ký kết và thảo luận tiếp với Hoa kỳ về chi tiết thực hiện, nhật báo TRIBUNE DE GEGEVE ngày 19.06.2013 đã viết ở trang 3 như sau:

“La loi FACTA, pour “Foreign Account Tax Compliance Act “, implique que les établissements financiers (banques, fonds de placement ou simples fiduciaires) déclarent au fisc américain les avoirs de leurs clients américains, quel que soit leur pays de résidence. En résumé, la loi américaine s’étendra partout dans le monde“ (Luật FACTA (Foreign Account Tax Compliance Act) hàm ngụ rằng những những cơ sở tài chánh (ngân hàng, quỹ đầu tư hay tổ chức lãnh chuyển di sản đơn giản) phải khai trình cho sở thuế Mỹ những tài sản của khách hàng Mỹ của mình cho dù những khách hàng ấy cư ngụ ở một nước khác. Tóm lại, Luật Hoa kỳ sẽ lan rộng ra mọi nơi trên khắp Thế giới).

Mộ số đảng của Thụy sĩ đang đe dọa đưa Luật này ra cho dân chúng bầu phiếu thuận hay không.

Trụ sở Ngân hàng Trung ương Thụy Sĩ

Đặt ngược vấn đề lại cho Mỹ và G8

Đã từ lâu, tiền từ những nước nhược tiểu, kém mở mang hay bắt đầu phát triển chuyển sang các Ngân Hàng Mỹ, Anh, Pháp… để cất giấu cho an toàn. Những nhà độc tài của Nam Mỹ, của Phi châu của cận đông, của Á châu ăn cướp tiền của dân, lấy tài sản quốc gia làm của riêng, đã chuyển những tiền đó về các Ngân Hàng thuộc G8 để cất giấu. Tài sản của Saddam Hussein có 5 tỉ Mỹ kim cất giấu ở Luân Đôn. Tài sản của Khadaffi, của Ben Ali, của Moubarak… cũng đã được cất giấu khắp nơi tại các Ngân Hàng thuộc G8.

Đây là những món tiền ăn cướp từ một xứ nghèo, còn nặng tội hơn nhiều sánh với những món tiền mà công dân Mỹ làm ăn công khai kiếm được, nhưng vì muốn tránh thuế cao mà chuyển đi nơi khác. Vậy nếu nhân danh trong sạch và trong sáng Ngân Hàng mà Mỹ đưa ra Luật FACTA, thì tại sao Mỹ và G8 không áp dụng đúng đắn Luật FACTA này để THÔNG TIN TỰ ĐỘNG cho những Chính phủ hoặc dân chúng của các nước nghèo biết TÊN những đứa độc tài, cướp của giết người của những nước nghèo đang gửi tiền ở những Ngân Hàng Mỹ hoặc của G8.
Nếu Mỹ và G8 muốn Luật FACTA lan rộng khắp Thế giới, thì Mỹ và G8 hãy đưa Luật này ra Liên Hiệp Quốc để các nước nghèo chính thức đòi buộc các Ngân Hàng Mỹ hoặc của G8 phải cho Chính phủ và dân chúng các nước nghèo biết Tên Tuổi những người Lãnh đạo tham nhũng thuộc các nước đó.

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN
(xin lỗi GS là tôi đã cắt bỏ và chỉnh sửa một chút)